120 CÂU HỎI – ĐÁP, TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT PHỤC VỤ VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÁP LUẬT Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC - Pdf 27

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ TƯ PHÁP
120 CÂU HỎI – ĐÁP, TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT PHỤC VỤ
VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÁP LUẬT
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
Hà Nội 2013
1
CHỦ ĐỀ 1.
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN (25 CÂU)
1. Khái niệm năng lực pháp luật của cá nhân?
Trả lời:
Cá nhân là một trong các chủ thể của quan hệ dân sự. Để tham gia vào các quan hệ dân
sự, cá nhân phải có tư cách chủ thể hay năng lực chủ thể, được tạo thành bởi năng lực pháp luật
và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm
2005:
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và
nghĩa vụ dân sự.
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi
người đó chết”.
Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà
pháp luật dân sự quy định cho cá nhân. Các quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân được ghi
nhận ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Bộ luật dân sự năm 2005 và nhiều văn
bản pháp luật khác nhau.
Theo quy định của pháp luật dân sự cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật

là người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,
cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Đối với người chưa thành niên:
+ Người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.
+ Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản
riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà
không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
+ Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác
lập, thực hiện.
3. Sau giờ học, Huyền và Ngọc - hai em học sinh lớp 6 trao đổi với nhau về các quy
định của pháp luật dân sự. Huyền cho rằng mình có quyền thực hiện các giao dịch nhằm
phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của mình. Còn Ngọc chưa hiểu
rõ lắm các quy định đó. Em muốn hỏi ý kiến của Huyền có chính xác không?
Trả lời
ý kiến của Huyền là chính xác.
Theo quy định của pháp luật dân sự (Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2005) người
chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện các giao dịch nhằm
phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Giao dịch này thường là các giao dịch có giá trị nhỏ, mục đích là để phục vụ nhu cầu
sinh hoạt, học tập, vui chơi hàng ngày trong cuộc sống, được người đại diện của họ cho phép
thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện. Ví dụ như: mua đồ dùng học
tập, sách vở, đồ chơi
4. Quyền nhân thân là gì? Theo quy định của Bộ luật Dân sự, cá nhân có những
quyền nhân thân nào?
Trả lời
“Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền dân sự gắn với bản thân

- Quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44)
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 45)
- Quyền được bảo đảm an toàn về chỗ ở (Điều 46)
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47)
- Quyền tự do đi lại, cư trú (Điều 48)
- Quyền lao động (Điều 49)
- Quyền tự do kinh doanh (Điều 50)
- Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51)
5. Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân được Bộ luật dân sự 2005 quy định như
thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 25 của Bộ luật dân sự 2005, khi quyền nhân thân của cá nhân bị
xâm phạm thì người đó có quyền sử dụng các phương thức sau để bảo vệ:
- Tự mình cải chính
- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
- Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
phạm bồi thường thiệt hại
6. Pháp luật quy định như thế nào về quyền đối với họ, tên?
Trả lời
Quyền đối với họ, tên là một trong những quyền nhân thân cơ bản được quy định tại
Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2005:
4
Cá nhân có quyền có họ, tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai
sinh của người đó.
Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Ngoài họ, tên của mình, cá nhân có quyền có bí danh, bút danh nhưng việc sử dụng bí
danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
7. Khi sinh Hận, bố em đi làm xa, bỏ mặc mẹ con em, mẹ em buồn chán, đặt tên con

nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê
quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
Để thực hiện quyền được khai sinh đối với trẻ em pháp luật về quản lý và đăng ký hộ
tịch quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh
cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi
khai sinh cho trẻ em.
Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
5
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho
trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư
trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy
ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.
Trường hợp không thực hiện việc đăng ký khai sinh trong thời hạn quy định thì phải
đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.
Thẩm quyền đăng ký khai sinh quá hạn quy định như sau :
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh thực hiện việc đăng ký
khai sinh quá hạn.
Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn cho mình, thì có thể
đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo quy định hoặc
tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú.
Khi đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu,
Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong
các hồ sơ, giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc;
quốc tịch, quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày,
tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó
không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong trường hợp địa danh
đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện lại.
Phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời
điểm đăng ký khai sinh quá hạn.

cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì
phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế.
- Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:
+ Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;
+ Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi
không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;
+ Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp
cần thiết.
11. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được Bộ luật Dân sự 2005 quy
định như thế nào?
Trả lời
Theo Điều 37 Bộ luật dân sự năm 2005, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân đó, dựa
trên những giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp. Nhân phẩm của cá nhân là những phẩm chất và
giá trị con người của cá nhân đó. Uy tín cá nhân thể hiện sự tín nhiệm và mến phục của cộng
đồng hoặc một bộ phận dân cư đối với cá nhân đó.
Mỗi cá nhân đều có quyền được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân
phẩm, uy tín. Đồng thời, mỗi cá nhân phải có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín
của người khác.
12. Giờ ra chơi, Thủy thấy Lan bạn học cùng lớp có thư gửi về từ Trường Sa. Hôm
nay Lan lại nghỉ học. Lan vẫn hay tâm sự với Thủy là bố Lan công tác ở ngoài đó, Lan rất
yêu bố và thường xuyên mong thư của bố. Thủy háo hức định mở bức thư ra đọc xem có
chuyện gì hay không, để còn thông báo cho Lan. Song một người bạn khác đã can ngăn
Thủy không nên làm như thế vì mọi người có quyền bí mật đời tư. Điều đó đúng hay
không?
Trả lời
Ý kiến của người bạn là hoàn toàn chính xác vì mỗi người có quyền bí mật đời tư. được
quy định tại Điều 73 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 38 Bộ luật dân
sự năm 2005.

em do Hiến pháp năm 1992 ghi nhận trẻ em có “quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát
triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”.
Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định rõ về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ trong
việc chăm sóc, giáo dục con tại các Điều 34, 37 như sau:
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để
con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia
đình, công dân có ích cho xã hội.
- Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con;
không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con
làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.
- Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà
thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã
hội trong việc giáo dục con.
14. Do bác ruột của T không có khả năng sinh nở nên muốn nhận T làm con nuôi để
sau này có người phụng dưỡng. Nhà T lại đông con cái, kinh tế có phần khó khăn, nên bố
mẹ T cũng đã cân nhắc và suy nghĩ. Xin hỏi T có quyền được nhận làm con nuôi hay
không?
Trả lời:
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người
được nhận làm con nuôi, nhằm bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình phù hợp với đạo đức xã hội.
8
Điều 44 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về quyền được nuôi con nuôi và quyền được
nhận làm con nuôi như sau:
Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp
luật công nhận và bảo hộ.
Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 8 Luật nuôi con nuôi quy định về người được nhận làm con nuôi gồm :

rằng. Nếu em học tập tốt bố em sẽ ủng hộ em viết văn, làm thơ và giúp em gửi bài đăng báo
thiếu niên vì đó là quyền mà pháp luật quy định cho mỗi cá nhân. Xin hỏi ý kiến của bố em
có đúng hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật dân sự năm 2005, cá nhân có quyền tự do nghiên cứu
khoa học – kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng
tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo khác.
Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Không ai
được cản trở, hạn chế quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của cá nhân.
9
Vì thế, H có quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật. Ý kiến của bố H hoàn toàn
chính xác.
17. Bố mẹ M sống ở quê. Sau khi học hết cấp 2, M thi đỗ vào trường chuyên của tỉnh
và phải chuyển lên sống ở thành phố cùng gia đình người dì ruột. Để thuận lợi cho việc làm
hồ sơ giấy tờ nhập học và quá trình học tập sau này, bố mẹ M đã đồng ý cho M khai báo nơi
cư trú của mình là nhà của người dì ruột. Điều đó có đúng pháp luật hay không không?
Nơi cư trú của người chưa thành niên được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 13 Luật Cư trú năm 2006, thì nơi
cư trú của người chưa thành niên được quy định như sau:
- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư
trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người
chưa thành niên thường xuyên chung sống.
- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được
cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, M có thể khai báo nơi cư trú của mình là nhà người dì ruột nếu đã được bố mẹ
M đồng ý.
18. Pháp luật quy định việc giám hộ cho người chưa thành niên như thế nào?
Trả lời:
Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm mục đích thực hiện việc

- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều
kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không
có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu,
cô, dì là người giám hộ.
Việc cử người giám hộ cho người chưa thành niên được quy định: trong trường hợp
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương
nhiên như quy định trên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được
giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
Như vậy, ông, bà nội của em T là người giám hộ đương nhiên của T.
20. Xin hỏi quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho người chưa thành niên được
pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối
với người được giám hộ là người chưa thành niên được quy định như sau:
* Về quyền của người giám hộ, Điều 68, Điều 69 quy định:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần
thiết của người được giám hộ;
- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của
chính mình. Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được
giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay,
cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được
giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Người giám hộ không được
đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người
giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu,
trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của
người giám sát việc giám hộ.
* Về nghĩa vụ của người giám hộ, Điều 65 quy định:

Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên bao gồm:
- Cha, mẹ đối với người chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ:
Đại diện theo ủy quyền: là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của người đại diện và
người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người từ đủ mười lăm
tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp
luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
22. Em D là học sinh lớp 7 muốn hỏi pháp luật quy định quyền sở hữu được xác lập
và chấm dứt trong những trường hợp nào? Trong trường hợp em vô tình nhặt được một vật
do người khác bỏ quên mà em không biết địa chỉ của người đó thì vật đó có đương nhiên
thuộc quyền sở hữu của em hay không?
Trả lời:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của
chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền sở hữu được xác lập đối
với tài sản trong các trường hợp sau đây:
- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;
- Được chuyển giao quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền;
- Thu hoa lợi, lợi tức;
- Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;
- Được thừa kế tài sản;
12
- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh
rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự
nhiên;
- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù

người đó thì vật đó không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của em mà phải tuân theo các quy
đinh pháp luật nêu trên.
23. Thế nào là hợp đồng dân sự? Nguyên tắc giao kết và hợp đồng dân sự gồm
những nội dung gì?
Trả lời:
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự.
Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
- Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
Nội dung của hợp đồng dân sự
13
Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;
- Số lượng, chất lượng;
- Giá, phương thức thanh toán;
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Phạt vi phạm hợp đồng;
- Các nội dung khác.
24. Bé Quân 11 tuổi là con trai của anh chị Quỳnh. Buổi chiều chủ nhật được nghỉ
học Quân đã cùng bạn bè xuống đường đá bóng, chơi đùa rất vui vẻ. Trong lúc thể hiện
chân sút với các bạn, trái bóng của Quân đã bay thẳng vào cửa kính nhà bà Kim làm kính
vỡ tan. Bà Kim phải đi thay cửa kính mới hết 2.000.000 đồng. Bà yêu cầu gia đình của
Quân phải bồi thường thiệt hại mà Quân đã gây ra. Xin hỏi, trách nhiệm bồi thường của
Quân được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Do Quân dưới 15 tuổi nên việc bồi thường thiệt hại cho bà Kim sẽ do bố mẹ Quân chịu
trách nhiệm.

thăm quan bị Ban quản lý di tích yêu cầu phải bồi thường, trong trường hợp này, cha, mẹ hoặc
người giám hộ của V có trách nhiệm bồi thường.
27. Di chúc là gì? Xin hỏi người chưa thành niên có quyền lập di chúc hay không?
Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?
Trả lời:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác
sau khi chết.
Theo quy định tại Điều 647, Khoản 2 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2006, người chưa
thành niên có quyền lập di chúc:
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha,
mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Tuy nhiên, di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ
hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái
quy định của pháp luật.
28. Xin hỏi người chưa thành niên có quyền được hưởng thừa kế mà không phụ
thuộc vào nội dung của di chúc hay không?
Trả lời:
Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc như sau:
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người
thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được
người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó,
trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định của pháp luât :
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Như vậy, người chưa thành niên có quyền được hưởng thừa kế mà không phụ thuộc vào

Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội như sau:
- Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa
sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành
niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
- Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt
đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành
vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Khi
xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
16
tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật
hình sự.
- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi
xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ
hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính
để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
28. An 15 tuổi phạm tội trộm cắp. Khi bị đưa ra xét xử, Tòa án ra Quyết định áp dụng
biện pháp GD tại xã, phường, thị trấn đối với An trong thời gian hai năm. Xin hỏi Quyết
định áp dụng biện pháp GD tại xã, phường, thị trấn đối với An có phải là hình phạt không ?
Việc Tòa án ra Quyết định như vậy có đúng với quy định của pháp luật hình sự về xử lý
người chưa thành niên phạm tội không ?

nhằm tước đi quyền lợi vật chất của họ để cải tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho
xã hội. Phạt tiền được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nếu họ từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức phạt tiền đối với người chưa thành
niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà Điều luật quy định.
Cải tạo không giam giữ : là hình phạt chính có nội dung giáo dục sâu sắc không buộc
người được áp dụng hình phạt này phải cách li khỏi xã hội. Họ vẫn có thể thực hiện công việc
thường ngày và sống trong môi trường gia đình và xã hội như trước đây. Cải tạo không giam
giữ được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường
trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Tòa án giao
người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính
quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có
trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo
dục người đó. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không
quá một phần hai thời hạn mà Điều luật quy định.
Tù có thời hạn :Tù có thời hạn là hình phạt cách li người phạm tội ra khỏi xã hội để giáo
dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với người chưa thành niên phạm tội
hình phạt này được áp dụng khi người chưa thành niên phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc
biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội
nghiêm trọng cần thiết phải áp dụng hình phạt nhưng không đủ điều kiện để áp dụng các hình
phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thì cũng cáp dụng hình phạt tù có
thời hạn.
30. Biện pháp tư pháp là gì ? Xin cho biết các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội ?
Trả lời:
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa
sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vây, khi xét xử, nếu
thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án
có thể áp dụng các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 1999
Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư

quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình. Khi xét xử, nếu nhận thấy không cần thiết phải áp
dụng hình phạt, mà có thể áp dụng các biện pháp thay thế khác, Tòa án có thể ra quyết định áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 02 năm đối với V để tạo cho V môi trường
giáo dục lành mạnh, có tổ chức, có kỷ luật, góp phần giáo dục, dạy dỗ V thành công dân có ích
cho xã hội. Điều này phù hợp với quy định của pháp luật.
Khoản 1 và khoản 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với
người chưa thành niên phạm tội quy định như sau :
Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các
biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây:
a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
b) Đưa vào trường giáo dưỡng.
Trong trường hợp nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân
và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật
chặt chẽ, Toà án có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm
đối với người chưa thành niên phạm tội.
32. Xin cho biết trong trường hợp nào thì người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng
biện pháp tư pháp được giảm thời hạn chấp hành án? Cơ quan nào có thẩm quyền quyết
định việc giảm thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp?
Trả lời:
Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tư pháp đồng thời cũng có thẩm
quyền quyết định việc giảm thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp .
Theo quy định của pháp luật thì người chưa thành niên phạm tội, bị áp dụng biện pháp
biện pháp tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng có thể
được Toà án ra quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở
trường giáo dưỡng.
Điều kiện được xem xét giảm thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp là:
- Người bị áp dụng biện pháp tư pháp đã chấp hành một phần hai thời hạn do Toà án
quyết định;
19
- Người bị áp dụng biện pháp tư pháp có nhiều tiến bộ ;

dụng thời cơ thuận tiện hành hung lái xe và cướp xe. Người lái xe ôm bị thương nặng nên
đã tử vong. P bị bắt và bị truy tố tội cướp tài sản. Theo quy định tại khoản 4 Điều 133 Bộ
luật Hình sự về tội cướp tài sản, khung hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội của P là
chung thân. Khi đưa ra xét xử Tòa nhận thấy, vào thời điểm phạm tội P mới 17 tuổi 10
tháng. Tòa ra quyết định P phải chịu mức án là 18 năm tù. Xin cho biết mức án Tòa áp
dụng đối với hành vi phạm tội của P có đúng không ? Pháp luật quy định thế nào về vấn đề
này ?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Hình sự, người chưa thành niên phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng như sau:
20
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng
quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không
quá mười tám năm tù.
P bị bắt, bị truy tố về tội cướp tài sản. Theo quy định của BLHS, khung hình phạt áp dụng
đối với hành vi phạm tội do P gây ra là chung thân. Tuy nhiên, vào thời điểm phạm tội P mới
17 tuổi 8 tháng vì vậy, việc Tòa ra quyết định P phải chịu mức án là 18 năm tù là đúng với quy
định của Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội.
36. Mức tù giam đối với người chưa thành niên phạm tội được pháp luật quy định cụ
thể thế nào? Hình phạt chung thân hoặc tử hình có được áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội hay không?
Trả lời:
Một trong những nguyên tắc xử lý đối với người chưa thanh niên phạm tội là không xử
phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội (quy định tại khoản 5
Điều 69 BLHS).
Về mức phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội được áp dụng quy
định tại Điều 74 Bộ luật Hình sự. Cụ thể như sau:
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng
quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không
quá mười tám năm tù.

- Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó
khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề
nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành
phần tiền phạt còn lại.
39. Xoá án tích là gì ? Trước đây, cháu tôi phạm tội và đã được xóa án tích về tội đó
nhưng nay cháu lại phạm tội mới. Xin hỏi phạm tội lần này có được coi là tái phạm hay tái
phạm nguy hiểm không ?
Trả lời:
Xóa án tích được hiểu là xóa bỏ việc đã từng bị Tòa án xét xử, kết tội trước đây, công
nhận coi như chưa bị kết án. Từ thời điểm được xóa án tích, người được xóa án tích trở thành
một người hoàn toàn bình thường về mặt tư pháp và không một ai có thể căn cứ vào sự kiện
từng bị kết án để có thể hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của người đó.
Xóa án tích thể hiện tinh thần nhân đạo, không phân biệt đối xử của Nhà nước đối với
người bị kết án, nhằm khuyến khích họ tuân thủ pháp luật để thực sự trở thành người có ích cho
xã hội. Khi một người được xóa án tích mà phạm tội mới thì tòa án không được căn cứ vào tiền
án đã được xóa án tích để xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
Một người được xóa án tích có nghĩa là người đó được coi như chưa bị kết án. Tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là người đó chưa từng bị kết án, chưa có tiền án, tiền sự như người
phạm tội lần đầu. Sự khác nhau cơ bản giữa người phạm tội lần đầu và người được xóa án tích
là ở chỗ, người phạm tội lần đầu là người chưa từng bị kết án và chưa có tiền án, tiền sự và
người phạm tội lần đầu được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (đối với tội ít nghiêm
trọng) được quy định tại điểm h, khoản 1 của Điều 46 - BLHS năm 1999. Còn người được xóa
án tích là người đã bị kết án, và có tiền án, tiền sự mà trong lý lịch tư pháp của họ đã thể hiện
người đó đã phạm tội.
Vì vậy cháu ông mặc dù đã được xóa án tích về tội trước, nhưng phạm tội lần này không
phải là phạm tội lần đầu (mặc dù đã được xóa án tích), không phải là tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, nhưng Tòa án cũng không căn cứ vào tiền án đã được xóa án tích để xác định là
tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
40. Năm 15 tuổi, Hùng đã phạm tội và Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng với thời hạn là 02 năm. Sau khi chấp hành xong hình phạt Hùng

+ 18 tháng trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
+ 30 tháng trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;
+ 42 tháng trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.
Câu hỏi số 42. Mới 20 tuổi, Nguyễn X đã phạm rất nhiều tội trong đó có cả những tội
X thực hiện khi chưa thành niên. Xin hỏi trường hợp của Nguyễn X việc xác định hình
phạt chung thế nào ?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 Bộ luật hình sự, đối với người phạm nhiều tội, có
tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng
hợp hình phạt áp dụng như sau:
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì:
+ Trường hợp nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình
thì hình phạt chung không được vượt quá mười tám năm tù;
+ Trường hợp nếu tù có thời hạn thì hình phạt chung không được vượt quá ba phần tư
mức phạt tù mà điều luật quy định.
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì:
+ Trường hợp nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình,
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù;
+ Trường hợp nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá
một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng
như đối với người đã thành niên phạm tội.
Trường hợp của X, phải căn cứ vào độ tuổi của X ở thời điểm X phạm tội nặng nhất để
xác định hình phạt chung theo quy định của điều 74, 75 Bộ luật hình sự.
43. Đến nhà ông T định rủ ông T đi câu, H chẳng thấy ai ở nhà ngoài M – một đứa trẻ
13 tuổi bị thiểu năng trí tuệ đang ngồi chơi một mình. Thú tính nổi lên, H lôi M ra vườn giở
23
trò đồi bại. Về thấy con gái ngồi khóc và có dấu hiệu bị xâm hại, gia đình M báo công an.
Qua điều tra công an xác định H là thủ phạm. Xin hỏi pháp luật quy định thế nào về hành
vi phạm tội của H?

Hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm đối với người chưa thành niên là tình tiết tăng
nặng trong Tội chứa mại dâm và Tội môi giới mại dâm quy định tại khản 2, khoản 3 Điều 254
và khoản 2, khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự. Việc xử lý đối với các hành vi này thực hiện
như sau:
Điều 254. Tội chứa mại dâm
1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười
lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Cưỡng bức mại dâm;
d) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;
24
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến
hai mươi năm:
a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

Điều 255. Tội môi giới mại dâm
1. Người nào dụ dỗ hoặc dẫn dắt người mại dâm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười
năm:
a) Đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
b) Có tổ chức;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười
lăm năm:
a) Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
Hành vi mua dâm người chưa thành niên là hành vi phạm tội quy định tại Điều 256 Bộ
luật hình sự.
Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù
từ một năm đến năm năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status