luận văn tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Am – Hải Phòng - Pdf 27

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên viết đầy đủ
KHCN Khách hàng cá nhân
TW Trung ương
HĐQT Hội đồng quản trị
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
VND Việt Nam đồng
CBCNV Cán bộ công nhân viên
NHNN&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Doanh thu hoạt động dịch vụ tại chi nhánh qua các năm 2010 - 2012
Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận đạt được qua các năm Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3: Dư nợ cho vay qua các năm Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng dư nợ cho vay của chi nhánh năm 2010 và 2012 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh giai đoạn 2010-2012 Error:

Phát triển nông thôn Hải Phòng. Tuy vậy, nếu so sánh với tổng dư nợ cho vay
khách hàng cá nhân của toàn hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Hải Phòng hay với dư nợ cho vay khách hàng cá nhân của ngành ngân hàng
toàn địa bàn Hải Phong thì dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân của Chi
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Am – Hải Phòng thực
sự vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, chưa
tương xứng với vị thế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam. Trước thực tế đó, việc tìm kiếm những giải pháp nhằm mở rộng nâng cao chất
lượng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Chi nhánh ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Am – Hải Phòng là rất cần thiết. Chính vì vậy,
em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Am – Hải Phòng”.
Bài khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI
VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN NAM AM - HẢI PHÒNG
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CHI NHÁNH NHNN&PTNN
NAM AM – HẢI PHÒNG
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và
các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ
chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…”.
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước
Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và được sửa đổi, bổ sung ngày
15/06/2004 xác định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: Ngân hàng thương
mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp
tác và các loại hình ngân hàng khác. Luật Ngân hàng nhà nước định nghĩa: hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng
dịch vụ thanh toán.
Tóm lại, ta có thể đưa ra một khái niệm chung về ngân hàng thương mại như
sau: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán
– và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế”.
1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Tại kì họp thứ 2 Quốc hội khóa X ngày 12 tháng 12 năm 1997 đã nêu rõ

Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh: Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân
hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã
cam kết. Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức
bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương
mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại.
Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các
giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các
thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài
chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
• Hoạt động thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua
ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khỏan cho khách hàng trong và
ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân

được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập
ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ - Ngân hàng thương mại được
tham gia thị trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các
hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ.
Kinh doanh ngoại hối – Ngân hàng thương mại được pháp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác – Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủythác
làm đại lý trong các lính vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý
tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác,
đại lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm – Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ
bảo hiểm, đươch thanh lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo
hiểm theo quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính – Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn
tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công
ty tư vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá – Ngân hàng thương mại được
thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và
các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
1.1.1.3. Chức năng của ngân hàng thương mại
* Trung gian tín dụng :
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội,
bao gồm tiền của các doanh nghiệp, các hộ gia đình , cá nhân và các cơ quan nhà
nước. Mặt khác, nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các
thành phần kinh tế trong xã hội, khi chúng có nhu cầu bổ sung vốn. Trong nền kinh

GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
mặt. Điều này đã đưa Ngân hàng thương mại lên vị trí là nguồn tạo tiền. Quá trình
tạo tiền của hệ thống Ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở tiền chuyển tải cho từng
thành viên, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng.
1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Với Ngân hàng Thương mại hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ hay cũng có thể nói rằng ngân hàng đi vay đề cho vay.
Cho vay (hay còn gọi là tín dụng) là hoạt động quan trọng của ngân hàng, là
hoạt động đem lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận rất lớn, khoản mục cho vay
chiếm một tỉ trọng lớn trong tài sản của ngân hàng (khoảng 70%), với quy mô như
vậy nên cho vay ảnh hưởng lớn tới chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ,
vay , đầu tư…
Trong quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì cho vay
là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
khoản một khoản tiền để sử dụng theo mục đích và thời gian nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Trong các hoạt động của ngân hàng thì cho vay là hoạt động có vai trò quan
trọng, nó đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng để trang trải các chi phí cho mọi
hoạt động của ngân hàng, cân đối giữa đầu vào và đầu ra. Hoạt động cho vay của
ngân hang có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân
hàng phục vụ, nó thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho
nền kinh tế.
Có nhiều cách để phân loại các loại hình cho vay của ngân hàng tuy theo các
tiêu thức phân loại khác nhau.
• Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Khách hàng muốn vay phải làm đơn và trình
ngân hàng phương án sử dụng vốn vay của mình. Ngân hàng sẽ thu lại cả góc lẫn lãi
sau khi kết thúc kì hạn hợp đồng. Ngân hàng sẽ kiểm tra quá trình sử dụng vốn của

thời hạn cho vay. Phương thức này thường áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn
, hoặc thu nhập từng định kì của khách hàng vay không đủ khả năng thanh toán hết
1 lần số nợ vay. Trả góp thường áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ
tài sản cố định. Tuy nhiên, ngân hàng cho vay trả góp thường với một hạn mức nhất
định.
- Cho vay theo hạn mức dự phòng: Ngân hàng thương mại cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng về hạn mức dự phòng và mức phí trả cho hạn
mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay theo nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
• Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo thời hạn cho vay thì các khoản cho vay của ngân hàng thương mại
được chia thành 3 loại: Vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại
cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động đông thời
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho các cá nhân, hộ gia đình trong ngắn hạn.
- Vay trung hạn: Là khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60
tháng. Các khoản vay này chủ yếu với mục đích đầu tư, sửa chữa, thay thế, khôi
phục tài sản cố định, dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có
thể từ 20 đến 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm. MỤc đích
chính của các khoản vay này là để đáp ứng các nhu cầu dài hạn, đầu tư vào các
công trình có quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn dài.
• Căn cứ vào tính chất có đảm bảo của khoản vay.
Cho vay có tài sản đảm bảo: Đây thực chất là hình thức đảm bảo tín dụng.

và là các khoản vay ngắn hạn. Thông thường thì khách hàng vay trong vòng một
năm, trong một số trường hợp có thế lên tới 2 đến 3 năm tùy vào mục đích sử dụng
khoản vay của khách hàng như kiên cố lại nhà cửa, ôtô
- Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những
khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân
lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các
khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi
suất các khoản cho vay khác của NHTM.
- Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và
được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ
bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến
mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến
động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá
nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay có
nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương
lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản
cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu
phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.
- Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh
nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách
hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và
ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản
thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng
hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân

THẨM ĐỊNH
Mục đích vay
HĐKD
Quản lý
Số liệu
THƯƠNG LƯỢNG
Kỳ hạn
Thanh toán
Các điều khoản
Bảo đảm tiền vay
Các vấn đề khác
PHÊ DUYỆT
Cán bộ quản trị
rủi ro
Giám đốc/Tổng
giám đốc
THỦ TỤC HỒ SƠ
Dự thảo hợp đồng
Xem xét hồ sơ
Kiểm tra TSĐB
Miễn bỏ giấy tờ pháp lý
Các vấn đề khác
GIẢI NGÂN
Thủ tục hồ sơ
hoàn tất
chuyển tiền
THỦ TỤC VÀ HỒ SƠ GIẢI NGÂN
QUẢN LÝ DANH MỤC
QUẢN LÝ TD
Số liệu

Tín dụng ngân hàng giúp hoạt động sản xuất kinh doanh vủa khách hàng cá
nhân hộ gia đình được diễn ra một cách liên tục. Vốn tín dụng của ngân hàng giúp
khách hàng có nguồn vốn để sắm sửa trang thiết bị phục vụ sản xuất và trang trải
các khoản chi phí sinh hoạt, học tập, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống.
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của khách
hàng cá nhân: Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các cá nhân hộ sản xuất phải tôn
trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn
trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù họ làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó
đòi hỏi khách hàng muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản
xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà khách còn phải tìm cách sử dụng vốn có
hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo lợi nhuận thu được phải lớn
hơn khoản lãi phải trả ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong
quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân
buộc khách hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
1.2.4.2. Vai trò đối với Ngân hàng
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp,
các tổ chức kinh tế là đối đa hoá lợi nhuận, mục tiêu hàng đầu của ngân hàng. Một
tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó. Ngân hàng thu được
lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ, cung cấp cho khách hàng như thanh
toán, tư vấn quan trọng nhất là hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng).
Thật vậy, ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên
nguyên tắc tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) dưới hình thức tài
khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi. Trên cơ sở đó ngân hàng tiến hành các hoạt
động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay của khách
hàng. Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt dộng và tiền lãi phải trả
cho các khoản huy động là lưọi nhuận thuđược. Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận
của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng nó
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
15

kinh tế ngày càng phát triển thì càng có điều kiện tích tụ vốn nhiều hơn. Đối với
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
nước ta, tại đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng dã chỉ rõ
"để công nghiệp hoá - hiện đại hoá cần huy động nhiều nguồn vốn trong nước là
quyết định, nguồn vốn bên ngoài là quan trọng ". Nếu ta khẳng định quan niệm
đúng về vốn thì sẽ giúp ta thể hiện được những tiềm năng về vốn, cũng từ đó có
biện pháp khai thác và sử dụng đem lại hiệu quả với mục tiêu là chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất
lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta đều biết rằng muốn phát
triển, kinh tế thì trước hết là phải có vốn có thể thu hồi nợ đúng hạn, đầy đủ, tóm
lại, việc thẩm định cuối cùng chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất: đảm bảo khả năng
thu hồi cho ngân hàng.
Nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển, tuy nhiên sự phát triển ấy chỉ
được thể hiện tập trung tại các đô thị lớn còn ở những vùng hẻo lánh như miền núi,
hải đảo thì cuộc sống người dân vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù đã có sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước đến những khu vực này, tuy nhiên do nguồn vốn quá
nhỏ nên vai trò của Nhà nước không được thể hiện rõ nét. Chính vì vậy, người dân
ở đây cần những nguồn vốn thường xuyên hơn, ổn định hơn đáp ứng đủ nhu cầu
của họ và không ai khác, ngân hàng chính là nơi mà có thể đáp ứng hầu hết các nhu
cầu đó. Do vậy nên nguồn vốn của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cải
thiện cuộc sống người dân, góp phần ổn định kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã
hội…
1.3. Chất lượng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
1.3.1. Khái niệm chất lượng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân
“Chất lượng”, theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt là cái làm nên phẩm
chất, giá trị của sự vật, hiện tượng; chất lượng sản phẩm là toàn bộ những đặc tính

những khâu đầu tiên: Thử tục đơn giản thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp
thời. Ngân hàng phải đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng về vốn vay, đồng thời
khách hàng cũng phải thực hiện tốt các yêu cầu, quy định của ngân hàng, sử dụng
vốn đúng mục đích, hiệu quả, quan trọng là phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời
hạn.
- Chất lượng hoạt động tín dụng còn thể hiện qua uy tín của ngân hàng. Số
lượng khách hàng tiềm năng và uy tín tỉ lệ thuận với lịch cử của ngân hàng, kinh
nghiệm hoạt động, cơ sỏ vật chất cũng như phẩm chất đạo đức năng lực làm việc
của cán bộ tín dụng. Do vậy, ngân hàng luôn ý thức giữ gìn truyền thống tốt đẹp của
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
mình, không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng tín dụng, thu hút ngày càng nhiều
khách hàng tốt đến với mình.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu định lượng là các chỉ tiêu phản ánh được rõ nhất, cụ thể nhất về
chất lượng hoạt động cho vay. Thông qua các chỉ tiêu này ta thấy được dự ổn định
của nguồn vốn vay, thực hiện được mục tiêu tín dụng, khách hàng thực hiện sử
dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. Một số các chỉ tiêu ta có thể xem xét khi
đánh giá về chất lượng một khỏan cho vay trung và dài hạn có thể sử dụng:
- Dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân: Chỉ tiêu dư nợ cho vay khách
hàng cá nhân phản ánh khối lượng tiền cấp cho hoạt động cho vay tại một thời
điểm. Nếu dư nợ cho vay cao thể hiện khả năng cho vay của ngân hàng khá tốt,
ngân hàng hoạt động có uy tín, cung cấp dich vụ đa dạng phong phú cho khách
hàng. Ngược lại nếu dư nợ cho vay thấp thể hiện sự kém hiệu quả trong hoạt động
cho vay của ngân hàng, ngân hàng không có khả năng mở rộng các khoản vay cũng
như đối tượng khách hàng cá nhân , khả năng tiếp thị khách hàng còn chưa cao. Tuy
nhiên, không phải lúc nào dư nợ cho vay cao cũng là tốt. Hiệu quả của hoạt động

LNHĐCV/Tổng lợi nhuận =
Tổng Lợi Nhuận
Chỉ tiêu này cho ta thấy tầm quan trọng của hoạt động cho vay đối với khách
hàng cá nhân trong việc đóng góp vào tổng lợi nhuận của ngân hàng. Tỷ lệ này càng
cao thì thu nhâp mang lại từ hoạt động cho vay KHCN càng lớn, và vai trò của cho
vay KHCN đối với ngân hàng càng lớn. Ngược lại, nếu các khoản cho vay chất
lượng kém không những không thu được gốc mà lại còn làm tăng chi phí của ngân
hàng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động cho vay KHCN
a. Các nhân tố từ phía ngân hàng
Đây là các nhân tố thuộc về bản thân, nội tại các ngân hàng, liên qua đến sự
phát triển của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động cho vay khách hàng cá
nhân bao gồm: Thẩm định phương án cho vay, chính sách tìdụng, công tác tổ chức
ngân hàng, trình độ lao động, quy trình nghiệp vụ tín dung, lãi suất cho vay, sản
phẩm dịch vụ tín dụnghoạt động maketing tiếp thị, kiểm tra kiểm soát va trang thiết
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Hồng Nhung
bị.
Công tác thẩm định dự án đầu tư: việc thẩm định nhằm rút ra những kết luận
chính xác về tính khả thi, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra khi quyết
định cho vay hay từ chối cho vay. Công tác thẩm định ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động tín dụng của các Ngân hàng, nếu việc thẩm định được thực hiện một cách
nghiêm túc, chặt chẽ, cẩn thận với chất lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính
xác, hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chính sách tín dụng: là đường lối chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng được
thực hiện một cách tốt nhất, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một
Ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được nhiều

Sản phẩm, dịch vụ tín dụng: Trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay, sản phẩm
dịch vụ giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các Ngân hàng và có sự
tác động không nhỏ đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Các Ngân hàng cần
phải không ngừng đa dạng các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm dịch vụ
của mình theo chiều sâu để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng,
mang lại nhiều tiện ích và an toàn cho khách hàng, đồng thời có thể nâng cao năng
lực cạnh tranh.
Quy trình tín dụng: là những trình tự, giai đoạn, các bước, công việc cần làm
theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của
khách hàng đến khi thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Hiệu quả hoạt động
tín dụng phụ thuộc vào việc lập ra quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học
và thực hiện, phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình. Hoạt động
marketing, tiếp thị của Ngân hàng: Hiện nay, Marketing đã trở thành một phần
không thể thiếu đối với các doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng thương mại
nói riêng. Hoạt động marketing giữ một vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình
ảnh, thương hiệu và sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng đến với
khách hàng. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng chịu tác động rất nhiều từ
hoạt động marketing tiếp thị, thông qua các chương trình khuyến mại, các chương
trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, giảm lãi suất, tặng quà nhân ngày lễ…của các
Ngân hàng sẽ nhận được sự quan tâm chú ý của khách hàng và thu hút họ đến giao
dịch.
Khả năng thu thập và xử lý thông tin: thông tin là yếu tố sống còn trong nền
kinh tế thị trường, trong cạnh tranh ai nắm được thông tin trước là người có khả
năng dành chiến thắng lớn hơn, với Ngân hàng thông tin tín dụng hết sức cần thiết
là cơ sở để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay và để theo dõi, quản ký
SV: Dương Văn Vững
MSV: CQ513460
22

Trích đoạn Đánh giá hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Chi nhánh NHNN&PTNT Nam Am – Hải Phòng Những hạn chế và nguyên nhân Nhiệm vụ năm Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại chi nhánh NHNN&PTNT Nam Am – Hải Phòng Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status