Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
MỤC LỤC
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
BH Bán hàng
BHXH Bảo hiểm xã hội
BTC Bộ Tài chính
CBNV Cán bộ nhân viên
CCDC Công cụ dụng cụ
CP Chi phí
CPBH Chi phí bán hàng
CPQLDN Chi phí quản lý doanh nghiệp
DNTM Doanh nghiệp thương mại
DT Doanh thu
GTGT Giá trị gia tăng
HĐTC Hoạt động tài chính
HTK Hàng tồn kho
KHTSCĐ Khấu hao tài sản cố định
KQKD Kết quả kinh doanh
NVL Nguyên vật liệu
PXK Phiếu xuất kho
QLDN Quản lý doanh nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
DANH MỤC SƠ ĐỒ
found
Sơ đồ 2.7: Quy trình ghi sổ tổng hợp giá vốn hàng bán Error: Reference source
not found
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hiện nay, nền kinh tế toàn cầu hoá làm cho mức độ cạnh tranh
về kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng diễn ra gay
gắt, khốc liệt. Việt Nam kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới - thành viên
thứ 150 của WTO đã không ngừng nỗ lực vươn lên để bắt kịp với những đổi thay và
phát triển của nền kinh tế thế giới. Điều đó đã khuyến khích nhiều doanh nghiệp lớn
nhỏ ra đời với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh phong phú, đa dạng.
Để điều hành và quản lý được toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh một cách
có hiệu quả nhất, các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời, chính xác các thông tin
kinh tế cũng như những định hướng của nhà nước, đặc biệt là phải xây dựng được
một hệ thống kế toán tốt để thu thập, xử lý, tổng hợp các thông tin giúp cho các nhà
quản lý đưa ra quyết định kịp thời, chính xác, giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu
quả. Đối với doanh nghiệp thương mại, hoạt động bán hàng giữ vị trí vô cùng quan
trọng. Các doanh nghiệp muốn được chấp nhận kinh doanh trên thị trường thì phải
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy tiêu thụ trở thành khâu thiết yếu
trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Hạch toán chính xác tiêu
thụ và xác định kết quả kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp tìm ra lời giải cho bài
toán giá cả, số lượng hàng bán ra và phương thức tiêu thụ có hiệu quả nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ
phần Cơ khí Giao thông Quảng Ninh dưới sự hướng dẫn của Cô giáo Th.S Đinh Thị
Thủy và sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng kế toán em quyết định chọn đề tài:
“ Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần
Cơ khí Giao thông Quảng Ninh” làm khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, bài khóa luận gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương
nhân với các bên liên quan bao gồm việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc
nhằm mục đích thực hiện các chính sách kinh tế xã hội.
Trong hoạt động kinh doanh thương mại, tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn cuối
cùng trong quá trình lưu chuyển hàng hoá. Hoạt động chính của doanh nghiệp
thương mại là mua vào các sản phẩm hàng hoá của các doanh nghiệp sản xuất, sau
đó thông qua hệ thống bán hàng của mình cung cấp cho người tiêu dùng đồng thời
thu được tiền nhờ vào việc cung cấp hàng hoá đó. Quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại gồm ba khâu chủ yếu đó là: Mua vào, dự trữ và bán ra. Trong đó
quá trình vốn kinh doanh của doanh nghịêp vận động theo mô hình T-H-T’.
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Kinh doanh thương mại có một số đặc điểm sau:
● Về hàng hóa: Hàng hóa trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật phẩm, sản
phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về.
● Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương
mại là luân chuyển hàng hóa. Luân chuyển hàng hóa là sự tổng hợp các hoạt động
thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa.
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
3
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
● Đặc điểm về phương thức lưu chuyển: lưu chuyển hàng hóa trong kinh
doanh thương mại có thể theo một trong hai hình thức là bán buôn và bán lẻ. Bán
buôn hàng hóa là bán cho người trung gian chứ không bán thẳng cho người tiêu
dùng, bán lẻ hàng hóa là việc bán thẳng cho người tiêu dùng từng cái, từng ít một.
● Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo
nhiều mô hình khác nhau như: Công ty bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng
hợp, công ty môi giới…
● Đặc điểm về sự vận động của hàng hóa: Sự vận động của hàng hóa trong
kinh doanh thương mại là không giống nhau, tùy thuộc nguồn hàng và ngành hàng.
trường, giúp doanh nghiệp đứng vững trong kinh doanh.
Đối với người tiêu dùng (khách hàng), bán hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của khách hàng. Chỉ qua quá trình bán hàng, công dụng của hàng hoá mới được
phát huy hoàn toàn. Bên cạnh đó, bán hàng còn góp phần hướng dẫn nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng. Việc thúc đẩy bán hàng ở doanh nghiệp là cơ sở để thúc đẩy
sản xuất và tiêu thụ ở các đơn vị kinh tế khác có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp.
Xét trên phạm vị toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bán hàng là một trong những
hoạt động chính của quá trình lưu thông phân phối hàng hoá, bán hàng là hoạt động
để thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng và là điều kiện để quá trình tái sản
xuất xã hội được thực hiện. Ngoài ra bán hàng còn góp phần điều hồ giữa sản xuất
và tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa khả năng và nhu cầu là điều kiện để đảm
bảo sự phát triển cân đối trong từng ngành, từng vùng cũng như trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
1.1.2.2 Ý nghĩa của kết quả bán hàng đối với doanh nghiệp
Kết quả bán hàng trong các doanh nghiệp được hiểu là khoản chênh lệch giữa
tổng doanh thu bán hàng trong kỳ của doanh nghiệp với các khoản chi phí mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để có được số doanh thu đó. Nếu doanh thu bán hàng lớn hơn
tổng số chi phí đã bỏ ra phục vụ cho việc bán hàng trong một chu kỳ nhất định thì
doanh nghiệp có lãi và ngược lại, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì doanh nghiệp kinh
doanh thua lỗ. Kết quả bán hàng là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh
doanh tại các doanh nghiệp. Nó là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan
trọng trong quản lý sản xuất kinh doanh, là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
5
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
triển của doanh nghiệp. Có lợi nhuận, doanh nghiệp mới có điều kiện để mở rộng
kinh doanh, nâng cao đời sống của cán bộ trong doanh nghiệp, tạo nguồn tích luỹ
quan trọng cho nền kinh tế quốc dân
Bán hàng, với vị trí là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp, có mối quan hệ mật thiết với kết quả kinh doanh: bán hàng là cơ sở để xác
● Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán phù
hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế toán bán hàng thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình sẽ đem lại hiệu quả
thiết thực cho công tác bán hàng nói riêng và cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung.
1.1.4 Các phương thức bán hàng và thanh toán
1.1.4 1 Các phương thức bán hàng
Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại có thể bán hàng theo nhiều phương
thức khác nhau: bán buôn, bán lẻ, ký gửi, đại lý… trong mỗi phương thức lại có thể
thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
a Phân loại theo khối lượng hàng bán và mục đích sử dụng liền sau
● Phương thức bán buôn
Bán buôn hàng hóa là hình thức bán hàng chủ yếu của các đơn vị thương mại,
các doanh nghiệp sản xuất…để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến. Đặc
điểm của hàng bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đưa
vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được
thực hiện. Hàng hóa thường được bán buôn theo lô hoặc được bán với số lượng lớn,
giá biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Trong
bán buôn thường bao gồm 2 phương thức:
- Phương thức bán buôn qua kho
Là phương thức bán buôn hàng hoá mà trong đó hàng bán phải được xuất từ
kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho có 2 hình thức.
+ Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: bên mua cử đại diện
đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao
hàng trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh
toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
7
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
+ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng (gửi hàng cho bên mua): căn
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
● Bán lẻ thu tiền tập trung: nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ
giao hàng cho người mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền
làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hóa đơn hoặc tích kế cho khách để khách đến
nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao.
Cuối ca, cuối ngày nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền bán hàng, còn nhân viên
bán hàng căn cứ hóa đơn giao hàng cho khách hàng hoặc kiểm kê lượng hàng cuối ca,
cuối ngày để xác định lượng hàng đã bán cho khách, sau đó lập báo cáo bán hàng.
Ưu điểm của hình thức này là ít xảy ra sai sót giữa tiền và hàng, nhưng có
nhược điểm là mất nhiều thời gian của khách hàng. Vì vậy hình thức bán hàng này
chỉ áp dụng đối với những mặt hàng có giá trị cao.
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: theo phương thức này, nhân viên bán hàng hoàn
toàn chịu trách nhiệm vật chất về số hàng đã nhận để bán ở quầy hàng, đồng thời
chịu trách nhiệm quản lý tiền bán hàng trong ngày. Nhân viên bán hàng trực tiếp thu
tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày hoặc cuối mỗi ca nhân viên bán
hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ và lập báo cáo bán hàng và xác định
kết quả kinh doanh.
- Bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): khách hàng tự chọn lấy hàng, mang đến bàn tính
tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn
bán hàng và thu tiền của khách hàng.
- Bán hàng tự động: là hình thức bán lẻ mà các doanh nghiệp thương mại sử
dụng các máy bán hàng tự động, chuyên dùng cho một số loại hàng hóa nào đó đặt
ở nơi công cộng.
b. Phân loại theo thời điểm giao hàng
*Bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp: là phương thức giao hàng
cho người mua trực tiếp tại kho hay trực tiếp tại các phân xưởng không qua kho của
doanh nghiệp. Số hàng này khi giao cho người mua thì được trả tiền ngay hoặc
được chấp nhận thanh toán. Vì vậy, sản phẩm xuất bán được coi là đã bán. Thời
điểm xác định doanh thu chính là thời điểm đã bán. Trong phương thức này có các
hình thức sau:
1.1.4.2 Phương thức thanh toán
Sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh toán bên bán có thể
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
10
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tùy vào nhiều yếu tố như trị giá
lô hàng bán, mức độ thường xuyên trong quan hệ mua bán, mức độ tín nhiệm lẫn
nhau, … mà doanh nghiệp thương mại và người mua có thể thỏa thuận lựa chọn sử
dụng các phương thức, hình thức thanh toán khác nhau.
a Phương thức thanh toán trực tiếp
Là quá trình bán hàng và thu tiền phát sinh cùng một thời điểm. Theo phương
thức thanh toán này, có các hình thức sau:
● Hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu: Là hình thức khi bên bán
chuyển giao hàng hóa, dịch vụ thì bên mua xuất tiền, ngân phiếu để trả trực tiếp
tương ứng với giá cả mà hai bên đã thỏa thuận.
● Hình thức trao đổi hàng: Theo hình thức này, khi bên bán chuyển giao hàng
hóa cho bên mua thì bên mua xuất giao cho bên bán một lô hàng có giá trị tương
ứng với giá trị lô hàng đã nhận được từ bên bán.
b Phương thức thanh toán không trực tiếp
Thanh toán không trực tiếp là phương thức thanh toán được thực hiện bằng
cách trích chuyển ở tài khoản của doanh nghiệp hoặc bù trừ giữa hai bên thông qua
các tổ chức kinh tế trung gian thường là Ngân hàng. Phương thức này có thể được
thực hiện theo một số hình thức sau:
● Hình thức thanh toán bằng ủy nhiệm chi
● Hình thức thanh toán bằng ủy nhiệm thu
● Hình thức thanh toán bằng séc
c Phương thức thanh toán trả chậm
Khách hàng đã nhận được hàng nhưng chưa thanh toán tiền cho doanh nghiệp
thương mại. Việc thanh toán trả chậm có thể thực hiện theo điều kiện tín dụng ưu
đãi theo thỏa thuận. Chẳng hạn điều kiện “1/10, n/20”, có nghĩa là trong 10 ngày
Khi sử dụng giá đơn vị bình quân, có thể sử dụng dưới 3 dạng:
- Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ: Giá này được xác định sau khi kết thúc kỳ
hạch toán nên có thể ảnh hưởng đến công tác quyết toán.
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
12
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
Trị giá thực tế hàng tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng thực tế hàng tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
=
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
- Giá đơn vị bình quân của kỳ trước: Trị giá thực tế của hàng xuất dựng kỳ này sẽ
tính theo giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước.Phương pháp này đơn giản dễ làm,
đảm bảo tính kịp thời của số liệu kế toán, mặc dầu độ chính chưa cao vì không tính
đến sự biến động của giá cả kỳ này.
- Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập: Phương pháp này vừa đảm bảo tính
kịp thời của số liệu kế toán, vừa phản ánh được tình hình biến động của giá cả.
Tuy nhiên khối lượng tính toán lớn bởi vì cứ sau mỗi lần nhập kho, kế toán lại
phải tiến hành tính toán.
1.3.1.2 Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán:
- Tài khoản sử dụng: TK 632 “Giá vốn hàng bán”: Dựng để xác định trị giá vốn
của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
- Kết cấu:
Bên Nợ: - Giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
- Khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi
thường do trách nhiệm cá nhân gây ra.
- Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay thấp
hơn năm trước.
Bên Có: - Khoản chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập
năm nay lớn hơn năm trước.
Nhập kho hàng hóa
TK 133
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
14
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
1.3.2 Kế toán doanh thu bán hàng:
- Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
một kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của
doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
- Doanh thu bán hàng: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hóa, tiền cung cấp
dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có).
- Điều kiện ghi nhận doanh thu:
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
- Doanh nghiệp không nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu
hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
- Tài khoản sử dụng:
- TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này dựng để
phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ
kế toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và các nghiệp vụ sau:
+ Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hoá mua
vào và bất động sản đầu tư;
+ Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong
một kỳ, hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê
TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động…
- Kết cấu:
khấu trừ
Thuế GTGT phải nộp
(theo phương pháp trực tiếp)
Doanh thu thực tế bằng
Vật tư hàng hóa
TK33311
Thuế GTGT
được khấu trừ
nếu có
TK334
TK911
K/c doanh thu thuần về tiêu thụ
Thanh toán tiền lương với
CNV bằng sản phẩm hàng hóa
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
1.3.3 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.
- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
- Tài khoản sử dụng: TK 521 “Chiết khấu thương mại”
- Kết cấu:
Bên Nợ: - Số CKTM đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng
Bên Có:- Kết chuyển toàn bộ số CKTM để xác định doanh thu thuần
Tài khoản 521 không có số dư cuối kỳ.
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Tài khoản sử dụng: TK 532 “Giảm giá hàng bán”
- Kết cấu:
Bên Nợ: - Khoản giảm giá hàng bán đã chấp nhận cho người mua
Bên Có: - Kết chuyển khoản giảm giá để xác định DTT
Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ.
- Các khoản chi phí khác.
- Tài khoản sử dụng:
- TK 811 “Chi phí khác”: Phản ánh các khoản chi phí khác theo nội dung trên
của doanh nghiệp.
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
18
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Công Đoàn
- Kết cấu:
Bên Nợ: - Các khoản chi phí khác thực tế phát sinh.
Bên Có: - Cuối kỳ, kết chuyển chi phí khác để xác định kết quả.
TK 811 không có số dư cuối kỳ
- Phương pháp hạch toán:
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ hạch toán chi phí khác
1.3.4.2 Kế toán thu nhập khác:
- Nội dung Thu nhập khác: Là các khoản thu nhập không phải là doanh thu
của doanh nghiệp. Đây là các khoản thu nhập được tạo ra từ các hoạt động khác
ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, nội dung cụ thể bao
gồm:
+ Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
TK 811
TK 214
TK 111,112,
TK 211,213
TK 111,112
TK 911
TK 152,153,211,213
TK 222,223,228
Phạt do vi phạm hợp đồng KT,
bị phạt thuế, truy nộp thuế
khoản thu nhập khác ở doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp trực
tiếp.
- Cuối kỳ, kết chuyển các khoản thu nhập khác để xác định kết quả.
Bên Có:
- Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.
Tài khoản 711 không có số dư cuối kỳ.
- Phương pháp hạch toán:
SV: Trần Thị Nụ Lớp: CĐKT8
20