1
ÔN THI MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
A. 6 nội dung chính:
Vấn đề 1: Phân tích và chứng minh tính khoa học, tính CM của Mục
tiêu chiến lược CMVN (đường lối chiến lược CMVN) được Đảng ta đề ra
trong Cương lĩnh đầu tiên là đúng đắn). Liên hệ
Gợi ý ý chính:
- Nêu khái quát 6 nội dung của Cương lĩnh 2/1930 về mục tiêu chiến lược,
về nhiệm vụ cách mạng (vấn đề dân tộc, giai cấp), về lực lượng cách mạng, về lãnh
đạo cách mạng, về phương pháp cách mạng, về đoàn kết quốc tế.
- Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam được Đảng ta đề ra trong
Cương lĩnh đầu tiên: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
- Phân tích, chứng minh mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam được
Đảng ta đề ra trong Cương lĩnh đầu tiên là đúng đắn:
* Phân tích, chứng minh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thể kỷ XX
khi thực dân Pháp thực hiện chính sách thống trị là một xã hội thuộc địa, nửa
phong kiến.
+ Về chính trị: Chuyên chế về chính trị và chia để trị.
+ Về kinh tế: Độc quyền về kinh tế, kết hợp phương thức bóc lột tư bản với
phong kiến.
+ Về văn hóa: Ngu dân về văn hóa, ngăn cản văn hóa tiến bộ vào nước ta,
khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam, dùng
rượu cồn và thuôc phiện đầu độc người Việt Nam.
2
* Phân tích, chứng minh trong xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến có
2 mâu thuẫn cơ bản:
+ Một là, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam mất nước với thực dân Pháp
xâm lược (mâu thuẫn dân tộc).
+ Hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà trước hết là nông dân với
giai cấp địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai cấp)
độ chuyên môn nghiệp vụ để trở thành người cán bộ lãnh đạo, quản lý tốt, luôn
luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó.
- Lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị mình; tuyên truyền động viên gia đình,
nhân dân nơi mình công tác, cư trú thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết quyết tâm hoàn thành tốt các trương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng theo mục
tiêu chủ nghĩa xã hội.
- Luôn lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị, nhân dân chủ động đấu tranh ngăn
chặn, đập tan mọi luận điệu tuyên truyền, hoạt động chống phá công cuộc xây
4
dựng chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch trong thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình”.
v.v…/.
Vấn đề 2: Phân tích nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của
Đảng ta trong thời kỳ 1939 – 1945. Liên hệ
Gợi ý ý chính:
* Khái quát chủ trương của Đảng ta thời kỳ 1930 - 1939:
- Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930): về mục tiêu chiến
lược, về lực lượng cách mạng, về thành lập mặt trận đoàn kết, về chính quyền cách
mạng
- Trong Luận cương chính trị (10/1930): về mục tiêu chiến lược, về lực
lượng cách mạng, về thành lập mặt trận đoàn kết, về chính quyền cách mạng
- Thực tiễn cách mạng những năm 1930-1931, cao trào 1936-1939 đặt ra yêu
cầu phải chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm mang lại thắng lợi trong giai đoạn
cách mạng tiếp theo
* Phân tích nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng ta
trong thời kỳ 1939 – 1945:
- Hội nghị Trung ương 6 (11/1939)
+ Bối cảnh thế giới và trong nước: năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai
nổ ra, cuốn tất cả các nước vào vòng chiến. Thực dân Pháp cũng phát xít hóa sự
chủ nghĩa xã hội, dân tộc với thời đại, về xác định kẻ thù, về xây dựng lực lượng,
…/.
Một số nội dung: (đọc kĩ, kiểm chứng lại)
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân
Pháp, xã hội Việt Nam chìm đắm trong vòng nô lệ: Dân tộc bị tước đoạt tự do, mất
độc lập; đất nước bị chia cắt; nhân dân lao động bị bần cùng hóa. Nhiều mâu thuẫn
nảy sinh phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc
Pháp và bọn tay sai của chúng. Mâu thuẫn này đòi hỏi cách mạng Việt Nam đồng
thời đánh đổ đế quốc thực dân Pháp và chế độ phong kiến Việt Nam, trong đó
nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc và bọn tay sai để giành độc lập cho dân tộc phải được
đặt lên hàng đầu.
Với mục tiêu trên đã có nhiều phong trào yêu nước chống thực dân Pháp với
những nội dung và phương pháp khác nhau. Thế nhưng tất cả đều thất bại. Thất bại
ấy thể hiện sự khủng hoảng sâu sắc của cách mạng Việt Nam về con đường cứu
nước giải phóng dân tộc, chưa đáp ứng được những yêu cầu khách quan mà xã hội
đặt ra. Nói cách khác, phong trào yêu nước lúc này đều có đường lối xa rời thực
tiễn. Bên cạnh đó xã hội Việt Nam dưới tác động của chính sách khai thác thuộc
địa của Pháp đã đang diễn ra sự phân hóa sâu sắc, nhiều giai cấp mới xuất hiện.
Nhìn chung các giai cấp đương thời, trừ giai cấp công nhân và nông dân, đều đã trở
thành đối tượng, hoặc lực lượng của cách mạng ở các mức độ khác nhau. Giai cấp
công nhân lúc này, do những đặc điểm của họ, chỉ có thể trở thành giai cấp lãnh
7
đạo cách mạng Việt Nam với điều kiện: giác ngộ lý luận Mác-Lênin và tự tổ chức
ra chính đảng của mình.
Từ thực tế trên vừa là hoàn cảnh vật chất để sản sinh phong trào cách mạng,
vừa là thước đo đường lối của các tổ chức chính trị, các phong trào cách mạng Việt
Nam. Sự vận động của các phong trào yêu nước Việt Nam với những thất bại của
nó, một mặt nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm con đường cứu nước mới; mặt khác,
lý giải vì sao phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam lại gặp
nhau ở điểm lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cẩm nang giải phóng dân tộc, giải
đề cao việc giải phóng dân tộc. Tuy có kế thừa chính cương vắn tắt, sách lược vắn
tắt một số điểm như: xác định đường lối chiến lược cách mạng hai giai đoạn, sự
lãnh đạo giai cấp công nhân là đảng cộng sản, muốn giành chính quyền phải dùng
bạo lực cách mạng… Nhưng Luận cương chính trị tháng 10/1930 vẫn còn những
hạn chế: chưa chỉ ra được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa; chưa xác định
nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu; trong khi nhấn mạnh vai trò
của công nông, chưa chủ yếu đúng mức đến vai trò, vị trí, khả năng cách mạng của
các giai cấp, tầng lớp khác. Những hạn chế nói trên đã được các Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương Đảng tiếp theo khắc phục.
Cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh là cuộc diễn tập đầu
tiên của Đảng ta đã xác định đội quân chủ lực của cách mạng, thấu hiểu được sự
liên minh đấu tranh của hai giai cấp công nhân và nông dân, làm cho quần chúng
càng tin tưởng vào giai cấp công nhân, sức mạnh công nông được phát huy mạnh
mẽ.
Chỉ thị thành lập “Hội phản đế đồng minh Đông Dương” tháng 11/1930
khẳng định nếu chỉ thấy lực lượng cách mạng chỉ có hai giai cấp công nhân và
nông dân thì sẽ dẫn tới cô lập, hẹp hòi, hạn chế việc mở rộng lực lượng cách mạng,
thực chất là đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên trên. Chỉ thị còn khẳng định: “Cách
9
mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành
một lực lượng thật rộng, thật lớn thì cuộc cách mạng cũng khó thành công”. Nhưng
trên thực tế chỉ thị này không được đưa vào cuộc sống, nhưng dẫu sao cũng đã thể
hiện nhận thức mới, cách nhìn mới của Đảng vì giai cấp và dân tộc.
Trong thời kỳ 1930-1931 hai nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và chống
phong kiến đã được cụ thể hóa bằng nhiều mục tiêu trước mắt như cải thiện đời
sống, chống khủng bố trắng.
Từ năm 1936-1939 cách mạng Việt Nam diễn ra trong bối cảnh có nhiều diễn
biến phức tạp, chủ nghĩa phát xít xuất hiện, nhân loại đứng trước thảm họa chiến
tranh. Trên cơ sở quan điểm thể hiện trong nghị quyết của Quốc tế cộng sản, Hội
nghị Trung ương tháng 7/1936, Đảng ta đã xác định kẻ thù chủ yếu trước mắt là
do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị đã đưa ra nhiều chủ
trương quan trọng.
Sau khi phân tích những biến động của Chiến tranh thế giới lần thứ hai,
chính sách tăng cường bóc lột, đàn áp của thực dân Pháp để phục vụ chiến
tranh làm biến động đời sống kinh tế và chính trị của các giai cấp ở Đông
Dương, mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với đế quốc và tay sai ngày
càng gay gắt, cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Pháp nhất định sẽ bùng nổ,
Hội nghị cho rằng cần có những thay đổi phù hợp :
• Cách mạng Đông Dương lúc này phải là cách mạng giải phóng dân tộc, đó là
một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền. Hai nhiệm vụ chống đế quốc và
chống phong kiến là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền
luôn quan hệ khăng khít nhau – nguyên tắc không bao giờ thay đổi. Nhưng
hiện nay, « nhiệm vụ chính cốt » là đánh đổ đế quốc. Vấn đề dân tộc thành
vấn đề khẩn cấp, phải lấy quyền quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi
11
vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề ruộng đất cũng phải nhằm vào mục
tiêu ấy mà giải quyết. Vì vậy, chỉ nêu khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của
những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc.
• Nhiệm vụ cụ thể là đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa, tay sai của bọn đế quốc
và bọn phản bội dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
• Lập chính phủ Liên bang Cộng hoà Dân chủ Đông Dương gồm tất cả các
tầng lớp trong phong trào giải phóng dân tộc.
• Tịch thu và quốc hữu hoá các nhà máy, xí nghiệp, ngân hàng của đế quốc và
bọn phản bội dân tộc giao cho công nhân quản lý. Tịch thu và quốc hữu hoá
ruộng đất của đế quốc và bọn phản bội dân tộc cùng với việc lấy đất công và
ruộng đất bỏ hoang chia cho nông dân cày cấy. Thực hiện các quyền tự do
dân chủ về kinh tế, chính trị, văn hoá.
• Thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay Mặt trận
dân chủ Đông Dương để đoàn kết tất cả các dân tộc Đông Dương, tất cả các
giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng dân tộc, đánh
linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược nên chưa thấy vấn đề cấp bách là giải phóng
dân tộc như Hi nghị trung ương 6 đã nêu. Ưu điểm của Hội nghị trung ương 7
là chỉ rõ Pháp – Nhật và tay sai là kẻ thù cụ thể trước mắt ; thành lập Mặt trận
dân tộc phản đế ; tích cực chuẩn bị lực lượng vũ trang, phải vũ trang cho nhân
dân, tổ chức nhân dân cách mạng quân,, duy trì lực lượng khởi nghĩa Bắc Sơn
để tiến tới bạo động giành chính quyền ; hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ vì chưa đúng
thời cơ trong cả nước.
13
Hội nghị Trung ương 6 đã bước đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách
mạng, tiếp tục được khẳng định và bổ sung ở Hội nghị Trung ương 7 – mấu
chốt là giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, cơ sở để giải
quyết các quan hệ khác phù hợp hơn.
- Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) : Ngày 28-1-1941, sau 30 năm hoạt
động cách mạng ở nước ngoài, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài
về Cao Bằng, triệu tập Hội nghị Trung ương họp tại Pắc Bó (Cao Bằng)
từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941.
- Hội nghị đã thông qua những nội dung như sau:
Hội nghị phân tích kỹ tình hình chiến tranh thế giới và những biến chuyển ở
trong nước, dự báo khả năng phát triển sắp tới, đã đi đến nhận định : chính sách cai
trị của hai tên đế quốc Pháp – Nhật đã làm cho tất cả các dân tộc trên bán đảo
Đông Dương không thể nào sống được. Quyền lợi của tất cả các giai cấp bị cướp
giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Nguyện vọng của nhân dân
Đông Dương là đánh đuổi Pháp – Nhật, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập,
cho nên : « Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh
tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được
vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì
chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi
của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được ». Từ đó, Hội nghị
khẳng định :
• Cách mạng Đông Dương lúc này không phải là cách mạng tư sản dân quyền,
15
vệ, các lực lượng du kích, phát triển lực lượng du kích Bắc Sơn và tranh thủ
lôi kéo binh lính địch. Điều quan trọng hơn là tập hợp lực lượng quần chúng,
đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi trong
Mặt trận Việt Minh. Đồng thời phải tích cực lợi dụng mâu thuẫn trong hàng
ngũ kẻ thù để cô lập kẻ thù chủ yếu nhất. Với lực lượng ấy, khi có điều kiện
sẽ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
• Phương thức khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương
để mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn. Nhưng với điều kiện là
khi phe dân chủ chiến thắng phát xít ở Thái Bình Dương hoặc nhân dân
Trung Hoa chiến thắng quân Nhật ; về phía ta không cjờ đợi khách quan mà
phải chủ động chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng đánh bại quân thù.
• Khởi nghĩa vũ trang phải đúng thời cơ cách mạng. Nội dung thời cơ được
xác định : Mặt trận cứu quốc đã thống nhất cả nước ; nhân dân không thể
sống được nữa dưới ách Pháp – Nhật ; sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa ; lực
lượng thống trị ở Đông Dương khủng hoảng toàn diện và cực điểm ; khi lực
lượng dân chủ đánh thắng phát xít ; cách mạng Pháp hay Nhật nổi dậy hoặc
cách mạng thuộc địa ở hai nước này sôi nổi ; Đảng phải đủ mạnh và cương
quyết hành động.
• Cần nhanh chóng xây dựng Đảng vững mạnh cả số lượng và chất lượng.
Tăng cường huấn luyện, bồi dưỡng cho cán bộ để họ có đủ năng lực đảm
đương công tác lãnh đạo và công tác chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của
phong trào, yêu cầu của khởi nghĩa vũ trang sắp tới. Việc đào tạo cán bộ trở
thành công tác gấp rút. Tất cả các cấp bộ Đảng phải đặc biệt chú trọng công
tác này, dù phải đình đốn rất nhiều bộ phận khác, việc đào tạok cán bộ cũng
không thể xao lãng được. Phải làm cho đảng viên cộng sản có tinh thần kiên
quyết hi sinh, đủ sức chỉ huy và ứng phó trước mọi tình thế.
16
Như vậy, tại hội nghị này, đường lối cách mạng được xác định là cách mạng
giải phóng dân tộc, một bước quan trọng của cách mạng tư sản dân quyền ở
chiến lược của cách mạng Việt Nam
- Xây dựng liên minh công - nông - trí thức là nguyên tắc chiến lược của chủ
nghĩa Mác – Lênin, là tất yếu phổ biến đối với các cuộc cách mạng do Đảng của
giai cấp vô sản lãnh đạo.
- Ngay từ năm 1930, Đảng ta đã chủ trương thực hiện chiến lược đại đoàn kết
toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công – nông – trí do Đảng ta lãnh đạo, trải
qua các thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp,
kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta ngày càng mở
rộng, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh trên dưới sự lãnh đạo
của Đảng là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Dựa vào khối liên minh này, Đảng ta xây dựng được khối đại đoàn kết toàn
dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch, là động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi bền vững
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
- Một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững
của cách mạng Việt Nam là Đảng ta xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân trên
cơ sở liên minh công - nông - trí thức do Đảng ta lãnh đạo.
18
- Phân tích, chứng minh qua các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,VII,
VIII, IX, X, XI, mà nhất là thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử qua 20 năm đổi
mới:
+ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ bài học kinh
nghiệm lớn đầu tiên: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư
tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động ” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1987, trang 213).
+ Cương lĩnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu lên
bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn cách mạng Việt Nam: “Sự nghiệp cách mạng
là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”( Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011, trang 48).
+ Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh trên dưới
sự lãnh đạo của Đảng qua 20 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử.
- Liên hệ
- Nêu lên việc làm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với việc xây dựng, củng cố, phát huy khối
đại đoàn kết nhân dân địa phương.
20
- Nêu lên những ưu điểm, hạn chế cơ bản và nguyên nhân.
- Phương hướng xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương, đơn vị mình.
(xem thêm trang 325 – 362 Giáo trình cũ; xem thêm giáo trình mới từ trang
140 - 144)
Vấn đề 4: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (xem thêm giáo trình
Lịch sử Đảng cũ, chương 7, trang 297; giáo trình mới từ 135 - 140)
Gợi ý ý chính:
- Cơ sở lý luận của bài học: Cơ sở lý luận của bài học là lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan niệm và cách giải quyết mối quan hệ
giữa dân tộc và giai cấp, giữa cách mạng giải phóng dân tộc với xu thế thời đại.
+ Phân tích mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp.
+ Phân tích mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với xu thế thời đại.
- Cơ sở thực tiễn của bài học:
+ Đất nước bị đế quốc xâm lược, chống đế quốc và bọn phong kiến tay sai là
yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc. Sau khi giành độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước chỉ có tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới vững chắc.
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng 10 Nga năm 1917 mở ra thời đại mới
trong lịch sử phát triển loài người qui định mọi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
cách mạng Việt Nam (xem thêm giáo trình LSD cũ, chương 10, trang 397; giáo
trình mới từ 157 - 164)
Gợi ý:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của bài học:
- Cơ sở lý luận của bài học:
+ Chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng trong cuộc đấu tranh lật đỗ sự thống trị của
giai cấp tư sản, giai cấp vô sản phải thành lập được chính đảng độc lập của mình là
Đảng Cộng sản, được vũ trang bằng lý luận sắc bén của chủ nghĩa Mác thì mới hoàn
thành sứ mệnh lịch sử của mình.
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mệnh trước hết phải có Đảng
cách mệnh, để trong thì vận động tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc
bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.
- Cơ sở thực tiễn:
+ Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở nước ta đã xuất hiện nhiều
tổ chức chính trị đấu tranh chống thực dân Pháp, nhưng đều thất bại, do hạn chế của
lịch sử đã không đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn.
+ Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối
chiến lược đúng đắn đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, mở đường cho những
23
thắng lợi oanh liệt, ngày càng to lớn cho cách mạng Việt Nam.
- Phân tích các nội dung:
- Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận, tăng cường
bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
- Bảo đảm sự đúng đắn của đường lối và nâng cao bản lĩnh chính trị của
Đảng.
- Xây dựng củng cố Đảng về tổ chức, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Phát huy những truyền thống vẻ vang và những bài học lớn trong quá trình
lãnh đạo của Đảng.
- Liên hệ
+ Đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn dẫn đến sự suy giảm niềm tin
đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đòi hỏi Đảng và Nhà nước
cần phải lắng nghe, tổng kết sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh
quan điểm, đường lối, chính sách cho phù hợp.
25
+ Các nước xã hội chủ nghĩa từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội thấy rõ
cần thiết phải cải cách, mở cửa, cải tổ, đổi mới, nước ta cũng thể hiện xu thế chung
đó
- Phân tích nội dung đường lối đổi mới của Đảng ta đề ra tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI:
Đổi mới cơ cấu kinh tế. Có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các
thành phần kinh tế.
- Chính sách đó là sự vận dụng quan điểm của V.I. Lênin coi nền kinh tế có
cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ.
- Đây là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần giải phóng và khai thác
mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Các thành phần kinh tế: Kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể, bộ
phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó), kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa,
kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc.
- Nhận thức và vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
- Đổi mới cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
- Đặc trưng của cơ chế quản lý kinh tế mới là tính kế hoạch và sử dụng đầy
đủ, đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ.
- Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo
phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân
chủ.