Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Thương mại và Kinh tế Quốc tế
BÀI TẬP THẢO LUẬN KINH TẾ
QUỐC TẾ
CHỦ ĐỀ : LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH CỦA HECKSCHER OHLIN
1
MỞ ĐẦU
Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế xã hội khác
nhau, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử loài người đều có những cách hiểu biết
và giải thích hiện tượng theo một cách nhất định. Việc giải thích các hiện tượng
kinh tế xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết với xã hội loài người. Ban đầu
các hiện tượng được giải thích một cách rời rạc, về sau mới trở thành quan niệm,
quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau. Cho đến ngày nay,
đã xuất hiện nhiều trường phái với những đại biểu đưa ra quan niệm khác nhau khi
đứng trước hiện thực kinh tế xã hội.
Khi thương mại quốc tế phát triển, kéo theo đó là sự phát triển của nhiều
ngành khác nữa,đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà sự chuyên môn hóa ngày
càng trở nên rõ ràng hơn thì việc nghiên cứu một lý thuyết kinh tế phù hợp nhằm
giải thích những hiện tượng kinh tế quốc gia mình là một việc nên làm.
Trải qua thời gian, các học thuyết kinh tế ngày một trưởng thành hơn, mang
nhiều tính lý luận thực tiễn hơn và ngày càng hoàn thiện. Buổi trước chúng ta đã
cùng nhau nghiên cứu về chủ nghĩa trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của
Adam Smith, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo… và buổi hôm nay,
chúng ta sẽ đến với một học thuyết nữa, học thuyết Heckscher-ohlin. Trong lý
thuyết của mình, David Ricardo giả thiết chỉ có một yếu tố sản xuất duy nhất là lao
động, lợi thế so sánh tồn tại là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các
quốc gia. Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra, đó là tại sao lại có sự khác nhau về
năng suất lao động giữa các quốc gia. Đó có thể là do sự khác nhau về công nghệ,
các nguồn lực khác Hai nhà kinh tế học Thụy Điển là Eli Heckscher (1879-1952)
và Bertil Ohlin (1899-1979) đã đưa ra lời giải thích dựa vào sự khác biệt về
- Thế giới bao gồm hai quốc gia(Nhật Bản và Việt Nam), 2 yếu tố sản xuất
(lao động và vốn) và 2 mặt hàng(thép và vải)
- Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất, 2 mặt hàng, mức độ trang bị
các yếu tố sản xuất ở mỗi quốc gia là cố định.
- Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia: nếu giá cả các yếu tố sản
xuất là như nhau thì để sản xuất 1 đơn vị vải các nhà sản xuất vải ở Việt
Nam và ở Nhật Bản sẽ sử dụng lượng lao động như nhau và lượng vốn như
nhau.
- Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau và
không có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả
yếu tố tương quan nào (có mặt hàng sẻ dụng nhiều lao động, có mặt hàng sử
dụng nhiều vốn)
- Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hoá lẫn thị trường yếu tố
sản xuất ( mức giá trên thị trường là duy nhất và được xác định bởi nhu cầu,
và về dài hạn giá cả hàng hóa đúng bằng chi phí sản xuất)
4
- Chuyên môn hoá là không hoàn toàn ( hai nước có quy mô tương đối giống
nhau, không có nước nào được coi là nước nhỏ so với nước kia)
- Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không
thể di chuyển giữa các quốc gia.
- Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia ( nếu 2 nước có cùng mức thu nhập,
cùng mức giá cả hàng hóa thì sẽ có xu hướng tiêu dùng lượng hàng hóa
giống nhau)
- Thương mại được thực hiện tự do, chi phí vận chuyển bằng 0( thương mại
hàng hóa sẽ cân bắng giá cả giữa hai nước).
II.2 Các khái niệm hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu
tố:
Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên 2 khái niệm cơ bản là hàm lượng(mức
độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố. Một mặt hàng được coi
là sử dụng nhiều(một cách tương đối) lao động nếu tỷ lệ giữa lượng lao động và
A
K
L
K
L
>
L
A
và L
B
là lượng lao động ở các nước A và B một cách tương ứng.
K
A
và K
B
là lượng vốn ở các nước A, B
- Mức độ dồi dào của một yếu tố sản xuất của một quốc gia được đo không
phải bằng số lượng tuyệt đối mà bằng tương quan giữa số lượng yếu tố đó
với các yếu tố sản xuất khác của quốc gia.
II.3 Định lý H-O
Nội dung định lý: một quốc gia sẽ nhập khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất
đòi hỏi sủ dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó
- Tính thâm dụng của yếu tố sản xuất: sản phẩm thâm dụng một yếu tố hơn
sản phẩm khác khi nó sử dụng nhiều yếu tố này trong quá trình sản xuất với
tỷ lệ lớn hơn
Vốn Lao động
Việt Nam 20 200
Nhật Bản 300 1500
Do vải có tính thâm dụng với lao động và thép có tính thâm dụng về vốn.
Nếu xét về con số tuyệt đối thì nhật bản hơn Việt Nam cả về lao động và vốn,
xuất chuyên môn hóa mặt hàng mà nước mình có lợi thế so sánh
Khi tiến hành thương mại tự do:
8
Giá vải ở Việt Nam sẽ tăng, ở Nhật Bản giảm và giá thép ở nhật sẽ tăng, ở Việt
Nam giảm. Quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi diễn ra cho đến khi mức
giá tương quan giữa vải và thép ở 2 nước trở nên cân bằng đạt đến điểm sản xuất
mới N1 đối với Nhật và V1 đối với Việt Nam,tức là (Pv/Pt)nb = (Pv/Pt)vn =
(Pv/Pt)tt
Nhật Bản tiêu dùng ở mức Cn ở đường bàng quan cao hơn còn Việt Nam tiêu
dùng ở mức Cv ở đường bàng quan thấp hơn.Chứng tỏ rằng Nhật Bản có lợi hơn từ
thương mại so với Việt Nam.
Sơ đồ minh họa
thép (Pv/Pt)N
N1
No Cn
K Cv (I2)
(I1)
Vo (Io)
(Pv/Pt)v
Tuy nhiên, điều mấu chốt ở đây là cả 2 quốc gia đều có lợi từ thương mại vì đều
đạt đường bàng quan cao hơn so với tự cung tự cấp ( No-> N1; Vo->V1)
9
Tại mức giá quốc tế cân bằng nhật xuất khẩu N1K thép để đổi lấy KCn vải từ
Việt Nam còn Việt Nam xuất khẩu V1L vải để đổi lấy CvL thép từ Nhật,và xuất
khẩu của nước này bằng nhập khẩu của nước khác.
III: Các mệnh đề khác của lý thuyết H-O
Trên cơ sở các giả thiết đơn giản ở trên, ngoài định lý H-O, còn có thể rút ra
một số mệnh đề bổ sung khác lien quan đến mức độ trang bị các yếu tố, thương
mại quốc tế, giá cả hàng hóa và giá cả các yếu tố, tác động đến sự gia tăng của mức
cung các yếu tố và vấn đề phân phối thu nhập.
khoảng cách giàu nghèo.
Sau đây là mô hình của lý thuyết
11
III.2 Định lý Rybezynski
Nội dung định lý: tại mức giá hàng hóa tương quan không đổi thì sự gia tăng mức
cung của một yếu tố sản xuất sẽ làm tăng sản lượng mặt hàng sử dụng nhiều yếu
tố đó và làm giảm sản lượng mặt hàng kia.
Trước khi mức cung một yếu tố, chẳng hạn là lao động tăng lên thì đường giới hạn
khả năng sản xuất của quốc gia( được giả định là một nước nhỏ) là HF và quốc gia
sản xuất tại điểm E. Khi lao động tăng lên, và nếu như tất cả các nguồn lực được
sản xuất vải thì sản lượng vải sẽ tăng lên nhiều do vải là mặt hàng sử dụng nhiều
12
lao động. Còn nếu tất cả lượng lao động và vốn dung cho sản xuất thép thì lượng
thép chỉ tăng chút ít, do thép là mặt hàng cần nhiều vốn. Điều này thể hiện trên
đường giới hạn khả năng sản xuất mới UV. Lúc đó với mức giá tương quan không
đổi giữa thép và vải, quốc gia đó sẽ sản xuất tại điểm E’ với sản lượng của vải tăng
lên, còn của thép giảm xuống so với điểm cân bằng ban đầu E.
III.3 Định lý Stolper – Samuelson
a, vài nét tiểu sử:
- Wolfgang Friedrich Stolper ( 13/5/1912-31/3/2002)
- Paul Anthony Samuelson (15/5/1915-13/12/2009)
Cả hai ông đều là những nhà kinh tế học của Hoa kỳ và đã có những đóng góp to
lớn cho nền kinh tế học hoa kỳ và có nhiều tác phẩm kinh tế học nổi tiếng. Trong
13
lĩnh vực kinh tế quốc tế, năm 1941, hai ông góp phần xây dựng lý thuyết kinh tế
quan trọng trong mô hình H-O với định lý Stolper – Samuelson
b, Nội dung định lý: Nếu giá tương quan của một mặt hàng nào đó tang lên thì giá
tương quan của yếu tố được sử dụng nhiều một cách tương đối để sản xuất ra mặt
hàng đó sẽ tăng lên, còn giá tương quan của yếu tố kia sẽ giảm xuống.
Chẳng hạn nếu giá mặt hàng cần nhiều lao động là vải tăng lên, thì kết quả là mức
đầu vào phong phú nhất (có thế mạnh) của quốc gia đó. Tuy nhiên, Leontief đã chỉ ra:
mặc dù Mỹ có nguồn vốn dồi dào hơn các quốc gia khác, nhưng đa số hàng hóa xuất
khẩu lại là những mặt hàng có tỷ lệ lao động nhiều hơn vốn và ngược lại, đa số hàng hóa
nhập khẩu của Mỹ lại được nhiều vốn.
Để đi đến kết luận này, ông đã sử dụng số liệu của những ngành cạnh tranh với hàng
hóa nhập khẩu của Mỹ năm 1947, và tính toán tỷ lệ (K/L) của hàng hóa nhập khẩu và
xuất khẩu có giá trị 1tr USD. Ông đã phát hiện ra tỷ lệ K/L trong sản xuất thay thế hàng
nhập khẩu của Mỹ lớn hơn 30% so với tỷ lệ tương ứng trong sản xuất hàng XK. Điều này
hoàn toàn trái ngược với kết luận của lý thuyết H-O.
15
Nghịch lý này đã được giải thích bằng nhiều cách nhưng cho đến nay vẫn chưa có
cách giải thích nào được chấp nhận, do đó nghịch lý vẫn tồn tại và là thách thức đối với
các nhà kinh tế.
V: Tổng kết
V.1 Đánh giá lý thuyết H-O
Như vậy chúng ta có thể tóm tắt những nét chính của lý thuyết Heckscher Ohlin ở
những điểm sau:
- Mô hình H-O nhấn mạnh vai trò của nguồn lực trong ngoại thương.
- Định lý H-O cho biết một nước sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất và xuất
khẩu hàng hóa thâm dụng yếu tố sản xuất mà nước đó dồi dào. Và chúng ta
phải xác định được các yếu tố thâm dụng (tức là các yếu tố đầu vào được sử
dụng nhiều trong sản xuất 1 hàng hóa) và các yếu tố dư thừa, từ đó ta mới có
thể vận dụng chúng vào mô hình H-O để xác định mô hình mậu dịch của
mỗi quốc gia.
- Định lý cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất cho rằng tự do thương mại sẽ
làm cho giá cả các yếu tố sản xuất có xu hướng trở nên cân bằng.
- Định lý Rybezynski cho rằng tại mức giá tương quan không đổi, khi mức
cung một yếu tố sản xuất tăng lên sẽ làm tăng cung sản lượng mặt hàng sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất đó, giảm cung sản lượng của mặt hàng kia.
- Định lý Stolper-Samuelson cho biết một sự gia tăng trong giá tương đối của
yếu tố sản xuất,và gây nên sự phản kháng của một số tầng lớp dân cu trong
xã hội. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh, TMQT phát triển làm tăng năng
suất của tất cả các yếu tố sản xuất và tăng phúc lợi xã hội với mọi tầng lớp
dân cư trong xã hội.
Mô hình ban đầu do Heckscher và Ohlin xây dựng chưa phải là mô hình toán, chỉ
giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thể đem trao đổi quốc tế và hai loại
yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh). Vì thế mô hình ban đầu còn được gọi là
Mô hình 2 x 2 x 2. Về sau, mô hình được Paul Samuelson là người đầu tiên áp
dụng toán học vào, nên có khi được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson
hay Mô hình H-O-S. Jaroslav Vanek mở rộng để áp dụng cho nhiều quốc gia và
nhiều sản phẩm, nên cũng thường được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Vanek.
V.2 Kết luận
Như vậy thì lý thuyết về lợi thế so sánh được bắt đầu từ David Ricado và tiếp tục
được phát triển bởi nhiều các học giả với sự chú ý đầy đủ hơn những nhân tố khác
nhau của nền kinh tế thị trường.
Đến với lý thuyết H-O được coi là một trong những lý thuyết mạnh nhất của kinh
tế học nói chung. Mô hình Heckscher-Ohlin ngự trị tư duy kinh tế quốc tế trong
suốt nửa thế kỉ, và giải thích được hầu hết các mối quan hệ thương mại quốc tế thời
đương thời. Cho đến khi xuất hiện nghịch lý Leontief, thì lý thuyết H-O đã gapej
phải những thách thức nghiêm trọng. Điều này đã khuấy động các cuộc tranh luận
TMQT và dẫn đến sự ra đời của những lý thuyết mới.
18
19