Chuyên đề ngoại thương
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Mục tiêu chung 4
2.1 Mục tiêu cụ thể 4
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
3.1 Phương pháp thu thập số liệu 4
3.2 Phương pháp phân tích số liệu 4
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
4.1 Phạm vi về không gian 5
4.1 Phạm vi về thời gian 5
4.1 Phạm vi về nội dung 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1KHÁI NIỆM 6
1.2PHÂN LOẠI 6
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU VÀ LỢI THẾ SO SÁNH
CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007- QUÍ I 2013 8
2.1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN 2007 – QUÍ I 2013 8
2.1.1 Khái quát chung về cây cà phê ở Việt Nam 8
2.1.2 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2007 – Quí I 2013 9
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 1 SVTH: Bí Nguyễn Hồng Quân
Chuyên đề ngoại thương
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI THẾ SO SÁNH
CHO CÀ PHÊ VIỆT NAM 16
3.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU 16
dân. Vì vậy tôi chọn đề tài “Tìm hiểu lợi thế so sánh của cà phê Việt Nam” để
nghiên cứu
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 3 SVTH: Bí Nguyễn Hồng Quân
Chuyên đề ngoại thương
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu lợi thế so sánh và tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam, qua đó
hiểu được các yếu tố tạo nên lợi thế xuất khẩu của mặt hàng cà phê và thấy được
mối quan hệ của lợi thế so sánh và tình hình xuất khẩu của cà phê Việt Nam từ đó có
biện pháp thích hợp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng xuất khẩu cho mặt hàng cà
phê. Đồng thời giúp cho các nhà doanh nghiệp cũng như nông dân có hướng cải tiến
sản xuất.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu tình hình xuất nhập khẩu và biến động của lợi thế so sánh của cà
phê của Việt Nam trong những năm gần đây.
Mối quan hệ của lợi thế so sánh tới xuất khẩu, các yếu tố ảnh hưởng tạo nên
lợi thế so sánh của mặt hàng cà phê Việt Nam.
Đưa ra biện pháp để tăng cường lợi thế so sánh cho mặt hàng cà phê Việt
Nam.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tài liệu được thu thập bằng cách tổng hợp trên cổng thông tin điện tử của
hiệp hội cà phê Việt Nam, Tổng cục thống kê, FAO, Tổng cục hải quan Việt Nam,
Hiệp hộ cà phê thế giới ICO,…
3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp so sánh
+ Phương pháp số tuyệt đối: Là hiệu số của hai chỉ tiêu, chỉ tiêu kỳ
phân tích và chỉ tiêu cơ sở hay chỉ tiêu năm này và năm kia.
+ Phương pháp số tương đối: Là tỉ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu kỳ
xét dựa trên những khác biệt của các quốc gia về trình độ khoa học công nghệ và
quy mô thị trường của từng quốc gia. Nhằm do lường lợi thế sở so sánh của quốc gia
ở các mặt hàng khác nhau. Năm 1965 Balassa đã công bố công thức tính tỷ lệ so
sánh trông thấy (Revealed Comparative Advantage – viết tắt là RCA). Chỉ số này
được tính toán dựa trên tỷ trọng của một mặt hàng trong kim ngạch xuất khẩu của
một nước so với tỷ trọng của của mặt hàng đó trong kim ngạch xuất khẩu của thế
giới trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.
Công thức cụ thể: RCAij=(xij/Xi) / (xwj/Xw).
Trong đó : RCAij là chỉ số đánh giá lợi thế so sánh hàng hóa j của quốc gia i.
xij là kim ngạch xuất khẩu của hàng hóa j của nước i.
Xi là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước i.
xwj là kim ngạch xuất khẩu hàng hóa j của thế giới.
Xw là tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới.
1.2 PHÂN LOẠI
Chỉ số này được sử dụng rộng rãi để đo lường lợi thế so sánh của một mặt
hàng cụ thể của một quốc gia trong một khoảng thời gian. Chỉ số RCA này là một
con số dương và giá trị của chỉ số RCA này càng lớn chứng tỏ lợi thế so sánh của
quốc gia này càng cao. Và mặt hàng mà quốc gia có lợi thế xuất khẩu nhất là mặt
hàng có lợi thế so sánh cao nhất. Cụ thể:
+ Một mặt hàng được coi là có lợi thế so sánh khi có chỉ số RCA > 1
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 6 SVTH: Bí Nguyễn Hồng Quân
Chuyên đề ngoại thương
+ Hàng hóa được coi là có lợi thế so sánh rất cao nếu có chỉ số RCA > 2,6
1
+ Ngược lại các hàng hóa có chỉ số RCA < 1 thì bị coi là không có lợi thế so
sánh.
Công thức trên chỉ ra là lợi thế so sánh phụ thuộc vào 4 yếu tố là kim ngạch
xuất khẩu của hàng hóa j của nước i, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa i trên thế giới,
tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia và thế giới. Do đó để tăng lợi thế so sánh
của một mặt hàng của một quốc gia thì phải thay đổi các yếu tố trong 4 yếu trên, cụ
C) giúp cây cà phê sinh trưởng và phát triển
tốt. Tại Việt Nam trồng chủ yếu 2 loại cà phê là cà phê vối (Robusta) và cà phê chè
(Arabica). Ngoài ra còn một số giống cà phê khác như cà phê mít (cheri), cà phê
Liberia,…. Trong đó cà phê vối có mùi thơm nồng, vị không chua, hàm lượng cafein
cao được người Việt Nam ưa chuộng nhưng quá đậm đặc so với người nước ngoài.
Cà phê chè (gồm 2 loại Moka và Catimor) có mùi thơm quyến rũ,vị nhẹ nên được
thị trường nước ngoài ưa chuộng. Trong đó hằng năm nước ta xuất khẩu khoảng 90-
95% là cà phê vối.
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 8 SVTH: Bí Nguyễn Hồng Quân
Chuyên đề ngoại thương
2.1.2 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2007 – Quí I 2013
Hiện tại Việt Nam xuất khẩu chủ yếu 2 loại cà phê chè và cà phê vối. Tuy
nhiên, mức độ chấp nhận của thì trường thế giới đối với 2 loại này có khác nhau.
Việc cà phê xuất khẩu của Việt Nam được tiêu thụ mạnh trên thế giới hay không sẻ
ảnh hưởng tới thu nhập của người trồng cà phê cũng như chuỗi thu mua, chế biến
tiêu thụ cà phê. Do đó việc đẩy mạnh tiêu thụ măt hàng này không có ý nghĩa về mặt
kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội. Ở Việt Nam 1 niên vụ cà phê được tính từ
tháng 10 cho tới tháng 9 năm sau. Tây Nguyên nơi sản xuất ra trên 80% cà phê xuất
khẩu của nước ta thì mùa thu hoạch thường kéo dài từ tháng 10 – tháng 1 năm sau.
Bảng 1: Sản lượng và giá tri xuất khẩu cà phê từ năm 2007 – Quí I 2013
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ hiệp hội cà phê Việt Nam và Tổng cục thống kê)
Dựa vào bảng ta thấy sản lượng cà phê xuât khẩu nhìn chung là có sự tăng
trưởng từ 1.329 nghìn tấn năm 2007 đã tăng lên 1.732 nghìn tấn năm 2013 và chỉ
trong quí I đã xuất khẩu được hơn 410 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước đã giảm
4,5 % về sản lượng và 2% về giá trị. Theo ông Nguyễn Nam Hải – TGĐ Cty Cà Phê
Việt Nam cho rằng xuất khẩu giảm là do nắng hạn kéo dài dẫn đến hạt cà phê nhỏ
nên làm giảm sản lượng, mặt khác niên vụ 2012 – 2013 ta đã xuất khẩu được nhiều
trong 3 tháng đầu ( quí IV – 2013) đạt 850 nghìn tấn nên trong các tháng đầu năm
2013 sản lượng bị giảm một phần. Giá trị xuất khẩu củng tăng từ 1.911 triệu USD
năm 2007 đã tăng lên 3.672 triệu USD năm 2012. Tuy nhiên, nhìn theo từng năm thì
1 Đức 113 231,3
2 Mỹ 95 227,9
3 Italia 45 92,3
4 Tây Ban Nha 37 75,4
5 Indonesia 34 68,8
6 Nhật Bản 33 75,2
7 Bỉ 25 52,2
8 Angeria 21 40,6
9 Mexico 18 35,1
10 Vương quốc Anh 18 35,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê và Hiệp hội cà phê Việt Nam)
Trong đó đáng chú ý là các thị trường mới như Indonesia có mức tăng
trưởng vượt bậc về nhập khẩu cà phê thô Việt Nam cả về khối lượng lẫn giá trị, tăng
750% về khối lượng và tăng 740% về giá trị so với niên vụ trước. Ngoài ra Angeria
cũng đang nổi lên như một thị trường đầy tiềm năng với sự bứt phá ngoạn mục từ vị
trí thứ 14 trong bảng xếp hạng của niên vụ trước lên hàng thứ 8 trong niên vụ năm
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 10 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
trước (2011 – 2012). Mặt khác các thị trường cũ như Đức được các doanh nghiệp
khai thác tiếp nhờ vào sự ưa thích của người tiêu dùng nước này về sản phẩm cà phê
Việt Nam nên trong niên vụ 2011- 2012 xuất khẩu cà phê sang Đức đã tăng 53% cả
về sản lượng lẫn giá trị
2
.
Mặc dù ta là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới nhưng về giá xuất
khẩu ta còn thua nhiều nước như Brazil, Peru, Colombia, Nguyên nhân được cho
là do việc thiếu đầu tư cho kỹ thuật chăm sóc, giống cà phê, tỷ lệ cây cà phê sắp hết
độ tuổi thu hoạch cao, đặt biệt là thói quen thu hái, sơ chế bảo quản của người trồng
cà phê cũng như việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật của các doanh nghiệp. Ta lấy ví
lên hơn 2 lần năm 2011, ngay đối với quốc gia láng giềng Indonesia thì giá của
chúng ta vẫn thấp hơn 156 EUR năm 2011. Cho nên nếu chúng ta tăng được giá
xuất khẩu lên thì nguồn ngoại tệ thu về cho quốc gia cũng như nguồn lợi cho người
dân và doanh nghiệp sẽ rất lớn.
Bảng 4: Giá cà phê xuất khẩu trung bình/tấn từ năm 2007 – Quí I 2013
Năm 2007 2008 2009 2010 2011 2012 QI-2013
Giá (USD) 1.350 2.240 1.465 1.462 2.134 2.200 2.100
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ trang web giacaphe.com)
Theo bảng trên ta thấy giá cà phê vối tăng từ 1.350 USD năm 2007 đã tăng
65,5% lên 2.240 USD năm 2008 điều này được nhận định là do cà phê đang trong
chu kỳ tăng giá của cà phê, mặt khác là do sự sụt giảm về sản lượng dưới tác động
4
Trần Thị Mỹ Hằng, 2012, Năng lực cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang liên minh
châu Âu, Đại học Ngoại Thương, TP. Hồ Chí Minh
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 12 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
của El Nino. Tuy nhiên trong năm 2009 giá cà phê lại giảm nghiêm trọng giảm
34,6% do đầu cơ, tin đồn
5
. Sau năm 2009 giá cà phê tăng dần nhờ sự hồi phục của
kinh tế thế giới và sự tăng cao trở lại của nhu cầu cà phê trên thế giới. Giá đã nhích
dần lên 2.134 USD năm lên 2.200 USD năm 2012. Trong quí I – 2013 tuy giá cà phê
giảm con 2100 USD xuất khẩu trung bình. Điều này được các chuyên gia nhận định
thứ nhất là do nhu cầu về cà phê hồi phục sau khủng hoảng, thứ hai là do sự tăng giá
theo chu kỳ sau thời kỳ giảm giá.
2.2 LỢI THẾ SO SÁNH CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM
2.2.1 Lợi thế so sánh của mặt hàng cà phê Việt Nam
Trong những năm vừa qua sản lượng cà phê xuất khẩu tăng liên tục qua các năm
đã làm cải thiện lợi thế so sánh của nước ta. Bên cạnh đó sự tăng lên về sản lượng
. Điều này cho thấy khả năng gia tăng lợi thế so sánh của cà phê Việt
Nam trước sự biến động của thị trường thế giới. Việc tăng lợi thế so sánh của Việt
Nam làm cho khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thì trường thế giới được gia
tăng giúp tăng thu nhập cho đất nước, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng
cao, biên giới.
Năm 2007 lợi thế so sánh biểu hiện của mặt hàng cà phê Việt Nam là rất
cao 42, 3. Tuy nhiên đến năm 2008 thì còn 34,7 và cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2009 làm sụt giảm nghiêm trọng giá trị xuất khẩu của cà phê Việt Nam khiến cho
chỉ số RCA của cà phê xuất khẩu Việt Nam bị suy giảm xuống còn 28,5. Chỉ số lợi
thế so sánh của mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam giảm sau khi gia nhập WTO
(năm 2007) điều này chứng tỏ cà phê Việt Nam đang trong giai đoạn định vị lại lợi
thế của mình sau khi gia nhập WTO Đồng thời một số yếu tố tự nhiên như lao động
giá rẻ, đất đai màu mở, thời tiết,… đang mất dần đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên
cứu cho các yếu tố phi tự nhiên như giống, thâm canh, chế biến, đàm phán, kinh
doanh,… Năm 2010 chỉ số RCA vẫn chưa thế hồi phục nằm ở con số 28,1 tiếp tục
năm 2011 giảm còn 25,8 và năm 2012 tăng lên 26,3 Tuy nhiên, chúng ta có thể
nhìn thấy từ Bảng 4 là lợi thế so sánh của ta đều lớn hơn 2,6, điều này phần nào nói
lên cà phê Việt Nam là một sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới lợi thế so sánh của cà phê xuất khẩu Việt
Nam
6
Nguyễn Quang Bình, Giải mã hiện tượng cà phê giảm giá, báo điện tử giacaphe.com, đăng ngày 8/6/2013
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 14 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
Ngay từ khi chưa gia nhập WTO, Đảng và Nhà nước đã xác định cà phê là
một trong những mặt hàng chủ lực, có lợi thế so sánh cao của Việt Nam, là một
trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có khả năng cạnh tranh khi gia nhập WTO.
Tiềm năng sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu cà phê còn lớn. Do đó Việt Nam cần đẩy
mạnh sản xuất mặt hàng này và cố gắng duy trì lợi thế so sánh cao. Tuy nhiên lợi thế
theo nhu cầu của khách hàng thế giới. Đây là kẻ hở cho các đối thủ khác lợi dụng.
Thứ hai là chất lượng cà phê xuất khẩu của ta còn thấp. Nguyên nhân là do
việc thu hái quả xanh của người dân còn khá phổ biến, số lượng cà phê chưa qua chế
biến đạt chuẩn 1 và 2 vẫn còn thấp so với tổng số. Thực tế cho thấy nếu không qua
chế biến thì cà phê không đạt chuẩn TCVN 4193-2005 vì vượt qua 150 lỗi/ 300g.
Tính liên kết trong cơ cấu ngành thiếu chặc chẽ, mối liên kết giữa thu mua
và xuất khẩu chưa được đảm bảo, năng lực quản lý xuất khẩu còn yếu. Nhiều doanh
nghiệp chỉ tiến hành thu mua khi đã ký được hợp đồng xuất khẩu cho nên không thể
chủ động về giá và thời gian với khách hàng. Rộng hơn trong tổng quan ngành thì
các doanh nghiệp chưa tận dụng được sự hỗ trợ từ các cơ quan, hiệp hội cũng như
kết nối với người nông dân và cơ sơ cung ứng. Người nông dân thì luôn lo lắng vấn
đề về đầu ra, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu thông tin thị trường. Đây là do hoạt động liên kết
theo chiều dọc của ngành cà phê còn khá lỏng lẻo giữa Nhà nước, doanh nghiệp và
nông dân.
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 16 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
Cơ quan kiểm tra giám định ở Việt Nam vẫn chưa được chú trọng. Cà phê
hiện nay vẫn xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, phân loại theo tiêu chuẩn cũ 4193:1993
không phù hợp với tiêu chuẩn phân loại mới trên thế giới. Mặc dù hiện nay ta đã có
tiêu chuẩn mới TCVN 4193:2005 nhưng vẫn chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm
kiểm tra khiến cho tỷ lệ cà phê Việt Nam thải loại cao nhất thế giới. Hiện nay Việt
Nam đã có nhiều công ty kiểm tra và giám định chất lượng nhưng việc giám định
vẫn rất đơn giản, khâu nếm thử chỉ được thực hiện khi có yêu cầu trong khi trên thế
giới là bắt buộc. Cho nên dù đã được kiểm định ở Việt Nam nhưng không đạt được
lòng tin của nhà nhập khẩu nước ngoài nên thường phải giám định lại tại nước nhập
khẩu.
Lợi thế so sánh sẻ được tăng cao khi thị trường được mở rộng (tức gia tăng
xuất khẩu hay gia tăng xij). Ngày nay, khi nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào
thị trường thế giới thì đây chính là lợi thế để gia tăng lợi thế so sánh của Việt Nam
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 18 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO LỢI THẾ SO SÁNH
CHO CÀ PHÊ VIỆT NAM
3.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng từ khâu thu mua cho tới container
xuất khẩu. Áp dụng TCVN 4193:2005 để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế cho cà phê
xuất khẩu. Vì hiện nay TCVN 4193:2005 chỉ mang tính hướng dẫn, chưa có tình
pháp lý mạnh mẻ nên chưa được các doanh nghiệp áp dụng nhiều. Mà chủ yếu dựa
trên thỏa thuận giữa doanh nghiệp và đối tác về hạt đen, hạt vở, tạp chất.
Định hướng nghiên cứu đầu tư chế biến cà phê, hạn chế xuất khẩu ở dạng
thô. Mặc dù ta là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới nhưng 90% là dưới
dạng thô. Chưa có nhiều thương hiệu cà phê nổi tiếng trế thế giới, trong khi hầu hết
các thường hiệu lớn trên thế giới như starbucks, coffee bean,….đều sử dụng nguyên
liệu của ta để chế biến.
Xây dựng hệ thống kho bãi, sân phơi, chế biến sau thu hoạch hạn chế tới
mức thấp nhất thất thoát sau thu hoạch, có khả năng dự trữ, bảo quản cà phê sau thu
hoạch lâu dài. Tránh bị hư hỏng, tăng giá trị hạt cà phê, giảm thiểu sự bị động trước
sự ảnh hưởng của thị trường khi giá cả xuống thấp.
3.2 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
Thay đổi thói quen canh tác từ sử dụng giống sạch bệnh, có chứng nhận
của các cơ quan cho tới kỹ thật chăm sóc, chủ yếu dựa theo kinh nghiệp trước đây.
Không vì chạy theo số lượng mà bón nhiều phân hóa học và tưới nhiều như trước.
Điều này không những làm cho cây cà phê bị già cỏi mà còn làm tăng khả năng
nhiễm sâu bệnh và giảm chất lượng cà phê hạt.
Do sợ bị mất trộm nên người dân thường thu hải một lượt cả quả đen và
quả chín. Do vây người dân thường đợi tới cuối mùa thu hoạch để tăng lượng quả
chín. Điều nay gây bất lợi cho chế biến, thói quen trữ cà phê ngay sau khi thu hoạch
chưa qua phơi sấy hoặc phơi với diện tích nhỏ mật độ dày làm cho cà phê dễ bị niễm
Cho nên nhiều mặt hàng của Việt Nam có lợi thế so sánh cao được thế giới ưa
chuộng. Trong đó nổi bật là mặt hàng cà phê, lúa gạo, tiêu, thủy sản,… Đặc biệt là
cây cà phê, tuy không có nguồn gốc bản địa nhưng lại thích nghi cao với khí hậu và
thổ nhưỡng của Việt Nam và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
trong thời gian qua.
Lợi thế so sánh của mặt hàng cà phê Việt Nam từ năm 2007 đến nay tuy có
giảm thể nhưng nhìn chung luôn đứng ở mức cao thể hiện cà phê Việt Nam là mặt
hàng có lợi thế so sánh cao có khả năng canh tranh với các đối thủ trên thế giới.
Trong nhưng năm gần đây lợi thế so sánh của ta tiếp tục được cải thiện lên làm gia
tăng khả năng xuất khẩu của mặt hàng cà phê Việt Nam. Trong tương lai lợi thế so
sánh của cà phê Việt Nam còn có nhiều thay đổi dưới sự ảnh hưởng của cuộc cải
tiến trong nông nghiệp, của các đối thủ trên thế giới cộng với biến đổi khí hậu làm
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 21 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân
Chuyên đề ngoại thương
cho khả năng sản xuất, xuất khẩu của ta sẻ thay đổi . Chúng ta sẻ còn gặp nhiều khó
khăn, thách thức. Tuy nhiên việc cần làm là phải biết giữ gìn những lợi thế mà ta có
được đồng thời biết hạn chế những khuyết điểm để năng cao lợi thế so sánh, giúp
tiếp tục duy trì và gia tăng lợi thế so sánh của cà phê Việt Nam trên thị trường thế
giới.
Cà phê của Việt Nam đã từ lâu có được ưa chuộng trên thị trường thế giới,
lại được thiên nhiên ưu đãi cho vùng Tây Nguyên có khí hậu, đất đai màu mỡ phù
hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê. Mặt khác Việt Nam có nguồn
lao động dồi dào có trình độ không ngừng được cải thiện. Cho nên rất phù hợp phát
triển cây cà phê. Về giao thông, biển đông là con đường giao thương rộng lớn làm
con đường đi ra nước ngoài cho cây cà phê thuận lợi và nhanh chóng. Bên cạnh
những thuận lợi đó ta thấy còn những hạn chế như trình độ canh tác, diện tích canh
tác còn manh mún, khâu thu hái và chế biến còn chưa hoàn thiện, khâu tiêu thụ còn
gặp khó khăn,… Do vậy trong tương lai để không ngừng nâng cao lợi thế so sánh
cho mặt hàng cà phê Việt Nam là một quá trình đòi hỏi sự phấn đấu lâu dài của
Quân
Chuyên đề ngoại thương
9. HVP, Kỹ Thuật Trồng Cà Phê, Cổng thông tin điện tử Công ty CP DV KT
NN Hồ Chí Minh,
truy cập ngày
03/06/2013
10.ICO, 2008, Rule on Statistics – Statistical report, WP-Council 180/08, London
11.ICO, 2012, Statistics on coffee – Exporting countries, WP-Council 180/08,
London
12. ICO, Historical data, Cổng thông tin điện tử International Coffee Ogranization,
truy cập ngày 08/06/2013
13. ICO, Những hạn chế của ngành cà phê Việt Nam hiện nay, Cổng thông tin điện
tử International Coffee Ogranization,
truy cập ngày 08/06/2013
14. Khánh Ngọc, Tiêu chuẩn mới cho cà phê xuất khẩu, báo điện tử ViêtBáo.vn,
truy
cập ngày 28/05/2013
15. Lvcdongnoi, Đề tài nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam, trang
web luanvan.co,
/>nam-18718/, truy cập ngày 08/06/2013
16. Nhóm tác giả Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Vài nét về mặt hàng cà phê và lợi
thế so sánh trong sản xuất và xuất khẩu cà phê, website của Tài Nguyên Giáo Dục
Mở Việt Nam,
17.
xuat-khau-ca-phe-trong-nen-kinh-te-quoc-dan.html, truy cập ngày 28/05/2013
18.Nguyễn Phú Son, 2001, Kinh Tế Quốc Tế, NXB Thống Kê, TP. Hồ Chí Minh.
19. Nguyễn Quang Bình, Giải mã hiện tượng cà phê rớt giá, báo điện tử
giacaphe.com,
GVHD: Huỳnh Thị Kim Uyên 24 SVTH: Bí Nguyễn Hồng
Quân