Download miễn phí Luận văn Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam
MỤC LỤC
Mở đầu 1
1.Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.2.Phạm vi 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
5.Bố cục của đề tài 3
6.Đóng góp của đề tài 3
NỘI DUNG 5
1.1. Khái niệm truyện cười 5
1.2. Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam 8
Chương 2. Khảo sát một số biện pháp gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam 10
2.1.Nhân vật 10
2.1.1. Cách đặt tên nhân vật 10
2.1.2. Lời nói đáng cười 11
2.1.3. Cử chỉ đáng cười 12
2.1.4. Tính cách đáng cười 13
2.1.5. Hoàn cảnh đáng cười 14
2.2 Kết cấu kịch tính, bất ngờ 16
2.2.1 Kết cấu “tiệm tiến” 16
2.2.2 Kết cấu “gói kín, mở nhanh” 17
2.3. Nghệ thuật chơi chữ trong truyện cười dân gian Viêt Nam 18
2.3.1 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết 18
2.3.2 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ nghĩa 25
2.3.3 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp 32
2.3.4 Chơi chữ dựa vào phương ngữ 36
2.3.5 Chơi chữ dựa vào tiếng lóng 38
2.4 Yếu tố tục trong truyện tiếu lâm Việt Nam 38
2.4.1 Nói tục là để thoát ly sự bực bội, để đối phó với trường họp bất bình trong xã hội 39
2.4.2 Nói tục là một cách gây cười để thỏa mãn sự nghịch ngợm của con người. 41
Chương 3. Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam 44
3.1 Mục đích của truyện cười dân gian Việt Nam 44
3.1.1 Truyện cười nhằm mục đích “mua vui” 44
3.1.2 Truyện cười nhằm mục đích đả kích, châm biếm 45
3.2 Ý nghĩa của truyện cười dân gian Việt Nam 49
3.2.1 Ý nghĩa xã hội 49
3.2.2 Ý nghĩa nhân sinh 51
Kết luận 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-luan_van_gia_tri_cua_tieng_cuoi_trong_truyen_cuoi.net6L9RqDT.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-57168/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
hiện đại thì dung lượng chủ yếu của các truyện cười sử dụng cách phiên âm tiếng nước ngoài chủ yếu là tiếng Anh - một ngôn ngữ đươc xem là tiếng phổ thông của thế giới.
Thời kỳ Pháp mới chiếm đóng Hà Nội, có me Tây được bà con gọi là mụ đội chóp. Mụ vốn làm nghề buôn bán ở chợ, nhờ được chồng và các quan Tâu chiều chuộng mà bà bỗng chốc trở nên có nhiều tiền của, thế lực. Nhiều người muốn được chức tước, lợi lộc phải nhờ đến tay mụ, nghe đâu, trong số đó, có cả bậc đại thần...
Ba Giai đặc tả mụ đội chóp trong bài thơ:
Cô quả tiên, chẳng phải thường
Không làm quan tắt thế mà sang
Tam khoanh trùm lõ bồng bồng tú
Nhất phẩm khâm già dạ dạ ran
2.3.1.4 Chơi chữ theo cách lái âm (nói lái)
+ Dạng tổ hợp lái được nêu trực tiếp
. Lái để vui đùa, để đánh đố
“Có một thái giám đến xin chữ Quỳnh để treo đại tự trên nhà. Trạng Quỳnh cho hai chữ “Thiên đức”. “Thiên đức” nghĩa là đức tốt. Viên thái giam thích lắm, đóng khung thật đẹp để treo. Nhưng rồi có người giải nghĩa “thiên đức” không phải là đức tốt mà là đực thiến. Thật đau hơn cả thiến!”
. Lái để làm đẹp lời
“Xiển Bột có anh học trò đỗ đạt sắp ra làm quan, về nhà làm tiệc mừng, mời Xiển Bột tới dự. Xiển chè chén xong, viết tặng bốn chữ “Thượng đẳng tối linh”. Anh ta thích lắm, đem treo giữa nhà. Ít lâu sau, bạn của anh ta (quan phủ, quan huyện) đến chơi, thấy bức trướng tỏ ra kinh hãi: “Chỉ hoàng đế mới xưng thế, quan bác làm vậy mà đến tai triều đình thì khó tránh khỏi tội phản nghịch vô đạo.”Anh ta hoảng hốt, cho mời Xiển Bột đến. Ông giải thích : “Thượng đẳng” là bậc trên, “tối linh” là lính tôi,có gì sai đâu?”.
. Lái để châm biếm, đả kích
Truyện kể về mụ Tư Hồng, là một người đàn bà lẳng lơ, làm giàu bất chính mà được phong là “Ngũ phẩm Nghi nhân”, bố mụ là “Hàn Lâm thi độc”. “Mụ sử sang làm tiệc mừng,xin cụ Tam Nguyên Yên Đỗ mấy chữ đại tự, khắc cổng. Cụ Tam cho “chi chi dã”, và giảng giải là ba chữ này rút ra từ một câu trong sách cổ “Đại tiểu do chi xuất nhập khả dã”, nghĩa là lớn nhỏ đều có thể ra vào cửa này. Mụ Tư Hồng thích lắm, cho khắc ngay. Nhiều người đi ngang cổng nhà mụ Tư đọc chữ đề, đều nén nụ cười khinh bỉ. Mụ ta tìm người gạn hỏi, mới hay rằng cụ Tam đã chửi mình; Bởi chi chi dã là cha cha đĩ! Thật điếng người!”[ ,73]
. Lái để văng tục
Lái để văng tục tức tránh việc phải nói, phải viết thẳng từ ngữ tục. Chẳng hạn trong Đá bèo chơi[, ], Trạng đã chửi bà lớn bằng cách nói lái “đá bèo” tức là “đéo bà” mà bà không biết chính mình đang trở thành trò cười cho thiên hạ. Việc nói lái để văng tục có tác dụng chửi những tầng lớp trên bằng cách hạ nhục vị thế của chúng xuống tận hàng thấp nhất để so với cái tục tĩu mà không hề bị chịu sự trừng phạt. Bởi cái bề mặt của từ ngữ lái đã ngụy trang cho cái tục ấy nhưng người ta vẫn phát hiện ra để cười.
+ Dạng tổ hợp từ lái được nêu gián tiếp, thông qua một tổ hợp khác
. Lái để đùa vui, văng tục
Trạng Quỳnh có lần dâng Chúa Trịnh một hũ mắn “đại phong”. Chúa ăn rất ngon miệng, nhưng không biết tên “đại phong” nghĩa lý ra sao, nên gọi Quỳnh vào giải thích: Trạng cắt nghĩa “đại phong” là gió lớn, gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lo là lọ tương. Đây là quá trình tư duy kết hợp với suy luận theo quan hệ nhân quả, và cách đồng nghĩa Hán Việt – thuần Việt.
Ngọa sơn, “ngọa” là nằm, “sơn” là núi, núi thì có đèo, cho nên ‘ngọa sơn” bằng “ngáy đèo” tức “đéo ngày”.
Trạng Quỳnh chơi thái giám và vua Tự Đức: “vi sương tứ địch” nghĩa là “làm sao cho sáo” lái lại là “làm sao cho sướng”. “Dĩ phát tư phùng” nghĩa là “lấy tóc mà may”, lái lại là “lấy tay mà móc”!
.Lái để châm biếm, đả kích
Làng Mỹ Lộc có một người đàn bà thường hay lăng nhăng, tằng tịu với nhiều hạng người nhưng lại làm bộ đoan chính. Khi chồng chết, bà ta làm vẻ thương tiếc, khóc lóc thảm thiết và xin chữ để thờ. Một nho sĩ đã cho một chữ “dĩ” nghĩa là rất lớn; và giải thích là rút từ “dĩ chi sự lễ” (lấy lễ mà thờ). Bà ta không biết rằng nhà nho nọ đã mắng mình. Bởi “dĩ” viết to là dĩ lớn là “đại dĩ”, “đại dĩ” là “đĩ dại”! [ ,134]
2.3.1.5 Chơi chữ theo cách đan xen ngôn ngữ
+ Một số cách chơi chữ về chữ viết: chữ Hán
.Tách ghép chữ Hán
Truyện Trạng Quỳnh có mẫu kể về việc Quỳnh trêu ghẹo con gái quan Bảng nhãn (người Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội), quan bảng ra vế đối khó, nếu đối không được sẽ bị đòn:
“Thằng quỷ ôm cái đấu, đứng cửa khôi nguyên”
Vế ra sử dụng cách ghép chữ: “quỷ” + “đấu” = “khôi”
Quỳnh đối lại:
“Con mốc nấp cây bàng, dàn nhà bảng nhã”
Vế đối cũng sử dụng cách ghép chữ: “mộc” + “bàng” = “bảng”. Ý nghĩa cũng tương xứng (“mộc” (con mộc): một loại ma gỗ, ma cây)
. Đọc nhầm chữ Hán
Truyện Trạng Lợn có mẩu: “Chung Nhi cùng bạn cùng bạn trẩy kinh ứng thi, hôm nọ đi đến một làng thì trời tối, định tìm chỗ xin ở qua đêm. Bất đồ, khi qua đình, Chung Nhi lại giục mọi người rảo chân nhanh: Đi mau để trọ nơi khác, làng này bất yên! Thấy các bạn ngạc nhiên, Chung Nhi chỉ tay vào tấm bia trước đình. Ở đấy có khắc hai chữ “hạ mã” (xuống ngựa). các bạn suýt bật cười vì sự nhầm lẫn, nhưng Chung Nhi lôi đi, vẻ quyết liệt, đành nghe theo. Vừa đi ra tới, quả nhiên thấy trong làng phát hỏa. mọi người cho có thần linh báo trước, chứ không làm sao mà một người lặn lội lên tận kinh đô để thi, lại đọc “hạ mã” thành “bất yên” (không an lành) được”.
Hay trong truyện “Ông thầy đồ dốt, một lần dạy đến chỗ “phàm huấn mông” (phàm việc dạy học), thầy không biết nghĩa là gì, cứ dạy rằng: “phàm” là ông Phàm, “huấn” là ông Huấn, “mông” là ông Mông. Lần khác, dạy chữ “bôi” (chén nhỏ) mà không biết âm và nghĩa ra sao; thấy chữ “mộc” (cây) đứng bên chữ “bất” (không), thầy đoán một đằng nghĩa, một đằng âm, bèn dạy: - “bất” là cây bất.
Học trò hỏi: - Thưa thầy, cây bất nó như thế nào ạ?
Thầy vội mắng át đi: - Cây bất tận ngoài bể Đông, chúng bay biết thế nào được mà hỏi?
Ở cạnh trường, có một người đàn bà biết chữ, nghe thầy dạy láo, mới hát ru con rằng: “Ai trồng cây bất bể Đông,
Hay là ông Huấn, ông Mông, ông Phàm?”
2.3.1.6 Một số cách chơi chữ về chữ viết: chữ Quốc ngữ
+ Chuyển đổi các yếu tố thuộc một bộ phận của âm tiết chữ Quốc ngữ
.Chuyển đổi giữa các yếu tố thuộc bộ phận vần: Dạng này giữ nguyên phụ âm đầu và thanh điệu, bộ phận vần chuyển đổi theo hướng thêm vào, bớt ra hay thay thế một số âm nào đó.
“Thấy mấy chàng trai cứ quấn quýt, quẩn quanh bên các cô tiếp viên ở quán rượu mà không chịu về, dù đêm đã khuya, chủ quán muốn đóng cửa, bèn nhờ một người đứng tuổi đọc rằng: Cây luồng mà bỏ u rê,
Làm cho mấy chú mải mê không về.
Nghe vậy, các chàng đỏ mặt, kéo nhau về”.
“Luồng” là một loại tre nứa. ...