Đề tài
"Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của
ca dao Việt Nam theo quan
điểm ngữ pháp chức năng"
MỤC LỤC
Đề tài ..........................................................................................................................................1
"Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng"........1
....................................................................................................................................................1
MỤC LỤC..................................................................................................................................2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các loại hình văn hoá dân gian, ca dao là một kho tri thức độc đáo không
chỉ về nội dung, mà cả về hình thức nghệ thuật, trong đó có như ngôn ngữ. Ca dao
Việt Nam là lời ăn, tiếng nói của nhân dân đã khắc sâu trong tâm trí con người Việt
Nam từ xưa đến nay. Trải qua biết bao thế hệ người Việt Nam đấu tranh dựng nước
và giữ nước, nhân dân ta đã gìn giữ tiếng nói của dân tộc mình qua nền văn học dân
gian, đặc biệt là thể loại ca dao.
Trong lịch sử văn học, những nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những công trình
rất hay, rất bổ ích về ca dao. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát ca dao trên nhiều
phương diện: nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật… Trong đó, về hình thức nghệ
thuật, yếu tố ngôn ngữ trong ca dao cũng được nhiều nhà nghiên cứu bàn đến trong
nhiều công trình. Là một trong những loại hình sáng tác của, những người bình dân
lao động, nên ca dao rất gần gũi với lời ăn, tiếng nói của con người, nên khi nghiên
cứu câu tiếng Việt, vấn đề cấu trúc cú pháp của ca dao cũng được nhiều người quan
tâm.
Với mong muốn khám phá giá trị của kho tàng ca dao Việt Nam trên bình diện
ngôn từ, người viết chọn đề tài: “Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam
theo quan điểm ngữ pháp chức năng”. Thực hiện đề tài này cũng là dịp người viết
trao dồi và cũng cố thêm vốn hiểu biết của mình về ngôn ngữ, đặc biệt là tri thức ngữ
pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng - một quan điểm ngữ pháp mới trong việc
năng tiếng Việt, quyển 2: Ngữ đoạn và từ loại, do Cao Xuân Hạo làm chủ biên.
Quyển sách này đi sâu hơn vào việc phân loại các loại ngữ đoạn chức năng và từ
loại theo quan điểm ngữ pháp chức năng.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác liên quan đến ngữ pháp chức
năng như:
Vị từ hành động tiếng Việt và các tham số của nó của Nguyễn Thị Quy.
Quyển sách này miêu tả vị từ hành động của tiếng Việt và các vai nghĩa gắn liền với
các loại hành động.
Tiếng Việt: Mấy vấn đề ngữ âm − ngữ pháp − ngữ nghĩa [4] của Cao Xuân
Hạo.
Tiếng Việt − văn Việt − người Việt [3] của Cao Xuân Hạo.
Sang đầu thế kỷ XXI, xuất hiện công trình: “Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng
Việt: mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống” của Hoàng Văn Vân.
Như vậy, tính từ công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống xuất hiện vào năm
1991 đến nay, việc nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức
năng ở Việt Nam chỉ mới trải qua 18 năm. Tuổi đời một ngành khoa học còn trẻ như
thế thì chưa thể nói đến những thành tựu rực rỡ nhất của nó. Và nhìn chung, các công
trình về ngữ pháp chức năng hiện nay đều tiếp thu kết quả nghiên cứu của Cao Xuân
Hạo.
2.2 Về ca dao Việt Nam
Việc nghiên cứu câu trong tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng xuất
hiện ở Việt Nam muộn, nên vấn đề nghiên cứu cấu trúc cú pháp của ca dao theo quan
điểm ngữ pháp chức năng còn rất mới mẻ. Trong các công trình nghiên cứu về ca
dao, cũng đã có một số tác giả đã vận dụng quan điểm ngữ pháp chức năng để tìm
hiểu cấu trúc của ca dao. Tuy nhiên, những công trình như thế chưa nhiều, chưa cụ
thể và chưa đưa ra cái nhìn toàn diện và hệ thống về cú pháp ca dao Việt Nam theo
quan điểm ngữ pháp chức năng.
Trong quyển Thi pháp ca dao [13], tác giả Nguyễn Xuân Kính có đề cập đến cấu
trúc cú pháp của ca dao. Trong công trình này, tác giả đã đề cập một số khía cạnh về
ca dao theo quan điểm ngữ pháp chức năng. Xem xét chức năng phản ánh phán đoán
4. Giới hạn vấn đề
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt
Nam nên ở đề tài này, người viết chỉ dừng lại, tập trung vào việc phân tích cấu trúc
của ca dao Việt Nam chứ không quan tâm nhiều đến nội dung, cũng như nghệ thuật
biểu hiện của từng câu ca dao.
Về vấn đề chọn ngữ liệu để thực hiện đề tài, trên thị trường sách vở có nhiều
tuyển tập về ca dao, trong đó có những câu ca dao có nhiều dị bản khác nhau. Để
thống nhất về ngữ liệu, trong luận văn này, người viết dựa vào hai quyển sách. Đó là
quyển Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập IV, quyển 1: Tục ngữ − ca dao [14]
của Viện văn học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia ấn hành và
quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam [12] của Mã Giang Lân.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, có thể sử dụng nhiều phương pháp. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp và các thao tác, thủ pháp kỹ thuật phụ trợ cho hai phương
pháp phân tích, tổng hợp là khái quát hoá, trừu tượng hoá và mô hình hoá. Đây là hệ
phương pháp chính mà người viết sử dụng để tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao
Việt Nam. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết còn sử dụng
phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống hoá khi cần thiết, nhưng đó là những
phương pháp phụ trợ.
Chương 1
HÁI LUẬN VỀ CA DAO VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về ca dao Việt Nam
Trong kho tàng văn học dân tộc nói chung và văn học dân gian nói riêng, ca
dao là một thể loại độc đáo. Ca dao Việt Nam đã làm giàu thêm, phong phú hơn cho
nền văn học Việt Nam và văn học thế giới cả về số lượng lẫn về chất lượng. Ca dao
Việt Nam thể hiện cách nhìn, quan niệm, tình cảm của con người Việt Nam về cuộc
sống, về con người, cách đối nhân xử thế của con người trong xã hội.
Có thể nói, ca dao là tấm gương tốt để chúng ta soi mình vào đó, để tắm mình
trong những nét đẹp giản đơn, mộc mạc thuần khiết mà không lạc hậu, quê mùa. Ca
phú của con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp với thiên nhiên và xã hội.
“Ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân
dân. Tóm lại, cũng như những thể loại văn học dân gian khác, qua ca dao, ta có thể
thấy rõ hiện thực, tức là cái vốn có trong cuộc sống”. [12; tr.8]
Nội dung của ca dao Việt Nam được thể hiện trên hai mặt chính: nội dung trữ
tình và nội dung thế sự.
1.2.1.1 Nội dung trữ tình
Theo Mã Giang Lân trong quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam thì “Ca dao là một
thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm này nói lên mối quan hệ của
con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh
nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người
đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan
những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên ở ca dao, cái tôi trữ tình được nổi lên rõ
nét”. [12; tr.9]
Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Việt Nam. Đó là tiếng hát của tình
yêu, tiếng hát của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh và đấu tranh
dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người nông dân, người lính… trong lao động
và trong đấu tranh xã hội,… Tiếng hát trữ tình của những con người đó chứa đựng
nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc ta.
Trong nội dung trữ tình, ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất. Ca
dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cuộc gặp gỡ của trai gái trong
khung cảnh lao động. Tình cảm gắn bó giữa trai gái, do đó, thường được biểu hiện
trong mối quan hệ khăng khít với cuộc sống của nhân dân lao động.
Nội dung ca dao trữ tình về sinh hoạt trong gia đình phản ánh những mối quan hệ
giữa các thành viện trong gia đình. Nhân vật chính thường xuất hiện trong nội
dung này là những người phụ nữ lao động Việt Nam.
Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội phản ánh những tâm trạng đau
khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách
thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong kiến.
Khi nói đến nội dung trữ tình của ca dao Việt Nam, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét
Nói về số lượng của các câu trong một bài ca dao, Vũ Ngọc Phan đã nhận
định: “Ca dao là những bài hát thường thường ngắn, hoặc hai, hoặc bốn, sáu hay
tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú”.[16; tr.62]
Đặc điểm của ca dao về hình thức là vần vừa sát, lại vừa thanh thoát, không gò
ép, giản dị, tươi tắn. Nó có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải
chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Ca dao của ta đã tận dụng tính nhạc của
tiếng Việt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên tả người, tả cảnh rất tài tình.
Bàn về hình thức thể loại của ca dao, Hoàng Trinh đã nhận xét: “Về hình thức
thơ, đối ngẫu là hình thức phổ biến trong ca dao dưới mọi thể loại: đối ngẫu từ ngữ,
đối ngẫu ngữ pháp, đối ngẫu ngữ nghĩa, đối ngẫu hai chiều, đối ngẫu đối lập và
phản đề…” [13; tr.132]
Khi sáng tác ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thể thơ khác nhau. Trong
đó, thể lục bát gồm câu sáu, câu tám được dùng rất phổ biến.
Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám
chữ.
Thể vãn gồm câu có bốn hoặc năm chữ, thường được sử dụng trong đồng dao.
Ngoài ra, ca dao cũng sử dụng hợp thể: thể thơ bốn chữ, năm chữ và thường kết
hợp với lục bát biến thể.
Các thể thơ phong phú của ca dao đã diễn tả được nhiều sắc thái tình cảm của
nhân dân lao động
Cũng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Mã Giang Lân cũng đã nhận xét
về nhịp điệu của ca dao “Nói đến ca dao, tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước
hết phải nói đến nhịp điệu. Đó là đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực của
thơ”. Ông đã dẫn lời của Maiacốpxki: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ
bản của câu thơ không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về
từ lực hay điện. Từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lượng”. Song song đó,
ông còn nhấn mạnh đến yếu tố ngắt nhịp của ca dao “Ca dao ngắt nhịp hai là phổ
biến, nhưng nhiều trường hợp, ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo”.[12; tr.15]
1.2.2.2 Cấu tứ
Ca dao Việt Nam có những kiểu cấu tứ rất phong phú và độc đáo.
- B thường là cụ thể.
Đây là kiểu làm việc trên chất liệu ngôn ngữ mang tính phổ biến của ca dao.
Bên cạnh việc xác lập các yếu tố trong ca dao trên hai thao tác lựa chọn và kết
hợp, Trương Thị Thuyết còn lưu ý thêm: “Mỗi ngữ đoạn đã được mã hoá thành
một chỉnh thể, rồi toàn bộ cấu trúc cũng trở thành một chỉnh thể nữa”. [15; tr.60]
Nhờ những yếu tố ngôn ngữ, cấu tứ và các biện pháp nghệ thuật được dùng
trong ca dao mà ca dao có những cái hay rất đặc sắc và đa dạng. Có những lời ca
dao giản dị, cụ thể. Bên cạnh đó cũng có những bài ca dao rất điêu luyện, tinh tế.
(4)
Sông Cầu nước chảy lơ thơ,
Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi.
(5)
Em ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.
1.2.2.4 Các biện pháp nghệ thuật
So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, chơi chữ,… là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu
biểu trong ca dao.
(6)
Thân em như cây sầu đâu…
(7)
Thuyền ơi có nhớ bến chăng…
Ca dao Việt Nam thường lấy việc khai thác các yếu tố đồng nghĩa lâm thời làm
phương tiện biểu hiện cơ bản. Nó làm việc chủ yếu trên thao tác lựa chọn. Vì vậy,
hình tượng ngôn ngữ trong ca dao trước hết là những hình ảnh ẩn dụ tính.
Chính việc tập trung vào khai thác thao tác lựa chọn đã làm cho ca dao Việt
Nam rất ít sử dụng hệ kết hợp một cách mỹ học. Các kết hợp ca dao hầu như đều là
những kết hợp theo hình tuyến. Các hình ảnh xuất hiện theo quy tắc “Từ bình diện
này đến bình diện khác” theo thời gian.
Ca dao Việt Nam thường hay dùng lối so sánh ví von để xây dựng hình tượng,
biểu đạt ý tứ. Trong cách so sánh, những liên từ “giống như”, “như là”, “như thể”…
đặc điểm về thủ pháp nghệ thuật mà còn tồn tại dưới dạng những câu hát có sẵn được
dùng vào trong những tác phẩm mới. Sự hình thành nên một kho văn liệu thơ ca
dân gian phong phú và việc sử dụng thường xuyên kho văn liệu đó trong sáng tác ca
dao là một đặc điểm của sự sáng tạo nghệ thuật trong văn học dân gian.
1.3. Phân biệt ca dao và các thể loại gần gũi
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tuy có phát triển muộn, các nhà nghiên cứu trên
phương diện này cũng rất quan tâm tới đặc điểm các mặt của ca dao. Trên cơ sở đó,
các tác giả đã nêu ra một số kiến giải về ca dao để phân biệt với các thể loại văn học
khác.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu ca dao Việt Nam, muốn hiểu được
khái niệm cũng như những biểu hiện cụ thể của nó, ngoài việc chỉ ra được dấu hiệu
đặc trưng của nó, chúng ta còn phải đặt nó trong mối tương quan với các sản phẩm
ngôn từ khác có liên quan để thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệt
giữa chúng. Những sản phẩm ngôn từ có liên quan rất dễ nhầm lẫn với ca dao là tục
ngữ và dân ca. Trong thực tiễn nghiên cứu, việc phân định ranh giới giữa các thể loại
là điều không phải dễ dàng.
Do phạm vi và yêu cầu của đề tài nêu ra, người viết không chú ý nhiều đến nội
dung và ý nghĩa của từng thể loại mà chỉ quan tâm đến hính thức và ngôn ngữ thể
hiện của chúng.
Để đưa ra các tiêu chí nhận diện ca dao, chúng ta phải xét nó trong mối tương
quan với hai thể loại văn học dân gian khác: tục ngữ và dân ca.
1.3.1 . Ca dao và dân ca
Cao Huy Đỉnh trong Lối đối đáp trong ca dao trữ tình khi chỉ ra mối quan hệ giữa
ca dao và dân ca Việt Nam đã giải thích về mối quan hệ giữa ca dao và dân ca: “Ngày
xưa, phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát. Rồi từ những bài hát có những câu tách
ra thành ca dao. Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu thông qua
sinh hoạt dân ca. Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn in đậm rất rõ
dấu ấn của dân ca…” [17; tr.7]
Theo Vũ Ngọc Phan, “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các
loại thơ khác và có thể xây dựng thành các giai điệu dân ca” [16; tr.42]. Còn
một thể loại được sáng tạo trên cơ sở hình thức thơ lục bát còn dân ca là lời ca ngắn
có giai điệu. Vì thế, dân ca thường được nghiên cứu trên phương diện văn hoá nghệ
thuật còn ca dao có thể được nghiên cứu trên nhiều phương diện: văn học, ngôn ngữ
học…
1.3.2 . Ca dao và tục ngữ
So sánh về đặc tính của ca dao và tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoa Bằng đã nhận
định: “Đặc tính của tục ngữ là đem những điều kinh nghiệm về thiên thời, về nhân
sự, về thế thái, về tục tình, về cách xử lý, về phương tiếp vật mà nêu lên những bài
học thuộc phạm vi nhân cách,… tuỳ theo trình độ và hoàn cảnh thời đại. Đặc tính
của ca dao là khoác hình thức văn chương bình dị và thiết thực mà trau dồi cái ý
bóng bẩy, tư tưởng thâm trầm, khiến cho nghe dễ lĩnh hội vì lời văn nhẹ nhàng, giản
dị, tiện ghi nhớ…”
[17; tr.52]
Xét về mặt ngôn ngữ học, Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao cho rằng
“Tục ngữ là những đơn vị thông báo, là những câu đơn hoặc câu ghép, là một hay
nhiều phán đoán” [13; tr.47], “Ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát” [13;
tr.49]
Xét về cả hai mặt nội dung và hình thức, căn cứ vào thời gian xuất hiện, Vũ
Ngọc Phan cho rằng “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian đã phát triển trước
ca dao”. Ông đưa ra lý do của nhận định như sau “Tục ngữ là những câu ngắn, có
câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè. Còn ca dao, ngay ở những bài được coi
là cổ thì nhạc điệu cũng đã rất phong phú, lời rất vững chắc, biểu hiện những diễn
biến, tiến sâu theo nhiều cung bậc”.[16; tr.53]
Về mặt hình thức ngôn ngữ, Mã Giang Lân đã nêu: “Ở tục ngữ, tư tưởng thường
được biểu hiện qua hình thức ngôn ngữ ngắn gọn. Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm
một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được
diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ học”. Ông còn
nói rõ hơn: “Thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến
trình độ nghệ thuật cao”. [12; tr.14]
không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau. Trong ca dao cũng có
xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao còn nội dung là
tục ngữ”. [12; tr.9]
Đặc biệt là khi những sản phẩm ngôn từ dân gian có yếu tố cảm xúc và được thể
hiện bằng một cặp lục bát thì việc xác định nó là ca dao hay tục ngữ trở nên rất phức
tạp. Điển hình như trong những trường hợp sau đây:
(13)
Chim khôn chưa bắt đã bay,
Người khôn ít nói, ít hay trả lời.
(14)
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
(15)
Ai ơi! chẳng chóng thì chầy,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Bên cạnh đó, lại có những bài ca dao nêu lên những nhận định về con người, xã
hội, nên chúng mang dáng dấp tục ngữ. Mã Giang Lân cũng đã đề cập đến hiện
tượng này: “Do nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao, chủ yếu là những câu
ca dao nhận định về con người và việc đời thì ca dao lại được dùng như tục ngữ”
[12; tr.9]:
(16)
Tranh quyền cướp nước gì đây,
Coi nhau như bát nước đầy thì hơn.
(17)
Gánh cực mà đổ lên non,
Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.
Trên đây là những trường hợp gây khó khăn cho việc phân biệt ca dao và tục
ngữ. Tuy nhiên, những trường hợp tương tự như thế không xuất hiện nhiều. Nhưng
sự có mặt của chúng cũng gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc
phân định ranh giới của chúng.
(18)
, “Cụ già” là phần đề nêu lên một đối tượng mang tính chất cá nhân,
ngữ đoạn “cắn môi nghĩ ngợi” là phần thuyết. Phần thuyết triển khai nội dung nhận
định về phần đề đã nêu ra.
Trong ví dụ
(19)
, “Đèn ghi” là phần đề nêu lên một đối tượng mang tính chất sự vật
- cá thể; ngữ đoạn “đã ra kia rồi” là phần thuyết. Phần thuyết này triển khai nội dung
nhận định về phần đề đã nêu ra.
Và ví dụ
(20)
có phần đề là “Cả đình”. Phần đề này nêu lên một đối tượng có tính
chất cá thể. Phần ngữ đoạn còn lại là thuyết. Phần thuyết này triển khai nội dung
được nói ở phần đề.
2.2 . Phân loại đề
Trong quyển Ngữ pháp chức năng quyển 1, Câu trong tiếng Việt: Cấu trúc − ngữ
nghĩa − công dụng, Cao Xuân hạo đã chia đề thành nội đề và ngoại đề, trong đó,
ngoại đề không thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu còn nội đề là thành phần cấu
trúc cơ bản của câu tiếng Việt.
Ví dụ:
(21)
Tôi nghĩ thầm trong bụng như thế. Còn lão Hạc, lão / nghĩ gì? (Nam Cao)
Ngoại đề nội đề
Nội đề được chia thành chủ đề và khung đề. Hai loại đề này được định nghĩa như
sau:
Chủ đề: là thành phần câu nêu cái được nói đến trong phần thuyết của câu. Nó thu
hẹp phạm vi ứng dụng của phần thuyết vào một đối tượng. Đối tượng đó có thể là
một cá nhân, một tập hợp hay một sự tình [5; tr.42].
Khung đề: là thành phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về tình
một chủng loại.
2.2.2. Đề khung
Đề khung là loại đề nêu lên một giới hạn về không gian, thời gian hay điều kiện
mà nội dung được triển khai ở phần thuyết có hiệu lực.[6]
Ví dụ:
(26)
Năm nay / thì đói to đấy.
(27)
Trong vườn / trồng toàn cam.
(28)
Con này (hễ) đã lên tiếng / (thì) y như là có kẻ gian vào nhà.
Ví dụ
(26)
, “Năm nay” là một đề khung nêu lên giới hạn một phạm vi về thời
gian.
Ví dụ
(27)
, “Trong vườn” là một đề khung nêu lên giới hạn một phạm vi về không
gian.
Ví dụ
(28)
, “Con này hễ đã lên tiếng” là phần đề khung nêu lên một điều kiện có
tính chất khẳng định.
2.3 . Mở rộng cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn
Câu tiếng Việt có thể được cấu tạo bằng một cấu trúc đề − thuyết. Bên cạnh đó,
cấu trúc câu còn có thể mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn bằng cách thêm vào cấu trúc
đề − thuyết đã có một, một vài phần đề, một, một vài phần thuyết, hay một, một vài
cấu trúc đề - thuyết. Kết quả thu được của việc mở rộng cấu trúc cú pháp theo
quan hệ ngữ đoạn là các hiện tượng ghép: ghép đề, ghép thuyết, ghép đề −
ĐT
1
ĐT
2
ĐT
3
T
Ví dụ này có ba phần đề, mỗi phần đề có một chức năng ngang nhau và độc lập
với nhau. Cả ba phần đề đều là 3 đề tài, mỗi đề tài nêu lên một đối tượng về một
cá nhân. “Lý cựu” là đề tài thứ nhất, “phó lý” là đề tài thứ hai, “thủ quỹ” là đề tài
thứ ba. Đây là câu có hiện tượng ghép đề.
(30)
Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
(Ca dao)
ĐT T
1
T
2
T
3
Trong ví dụ này, phần thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành ba
phần: “có phố Kỳ Lừa” là thuyết một, “có nàng Tô Thị” là thuyết hai, “có chùa
Tam Thanh” là thuyết ba. Đây là hiện tượng ghép thuyết.
(31)
Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch. (Nam
cao)
ĐT T ĐT T ĐT T
C’
(34)
(Nếu) Nguyệt đã hy sinh thật (thì) tôi sẽ ôm mối hận mãi mãi. (Nguyễn Minh
Châu)
đt t đt t
ĐT T
Trong ví dụ này, cả phần đề và phần thuyết đều được phức tạp bằng một cấu
trúc đề - thuyết bậc tiểu cú. phần đề của câu là đề khung, nêu lên một điều kiện. Điều
kiện này được triển khai ở phần thuyết có hiệu lực. Đây là hiện tượng phức tạp hóa
cả cấu trúc đề - thuyết.
2.5 . Đề tình thái và thuyết tình thái trong câu tiếng Việt
2.5.1 . Khái niệm về nghĩa tình thái và sự thể hiện nghĩa tình thái trong
câu
Nghĩa của câu gồm hai thành phần: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Nghĩa miêu
tả là thành phần nghĩa phản ánh sự tình trong thế giới bên ngoài câu. Nghĩa tình thái
là thành phần nghĩa phản ánh thái độ, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói, người
nghe về sự tình được câu biểu đạt.
Nội dung tình thái biểu thị sự nhìn nhận, đánh giá của người nói xoay quanh các
tính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tất
yếu; tính may rủi; tính tích cực, tiêu cực.
(35)
Giá tôi có ở nhà thì đâu đến nỗi. (Nam Cao)
(36)
Thiếu chút nữa (thì) ta giết oan một người vô tội.
Nội dung tình thái của câu có thể được cấu trúc hoá thành phần đề hay phần
thuyết. Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần đề thì ta có đề tình thái.
Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần thuyết thì ta có thuyết tình thái.