TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ NGHỆTHUẬT CỦA ĐỒNG DAO VIỆT NAM - Pdf 27


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM TRẦN THỊ QUÍ
LỚP DH5C1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN
TÌM HIỂU
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
CỦA ĐỒNG DAO VIỆT NAM

a tôi xin trân trọng cảm ơn!
Long Xuyên, ngày 2 tháng 5 năm 2008.

Người thực hiện : Trần Thị Quí

Khóa luận tốt nghiệp ĐH Trần Thị Quí

Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

MỤC LỤC : Trang

A. PHẦN DẪN LUẬN : I. Đối tượng nghiên cứu và lí do chọn đề tài :......................................1
II. Lịch sử vấn đề :................................................................................2
III. Phạm vi nghiên cứu, đối tượng của đề tài :....................................4
IV. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu :........................................4
V. Đóng góp của khóa luận :................................................................5
VI. Mục đích của khóa luận : ...............................................................6
VII. Bố cục khóa luận : ........................................................................7 B. PHẦN NỘI DUNG :

1. Thể lục bát : ................................................................................51
2. Thể vãn : .....................................................................................53
3. Thể hỗn hợp : .............................................................................. 57
IV. Thời gian và không gian nghệ thuật :............................................. 62
1. Thời gian nghệ thuật :.................................................................62
2. Không gian nghệ thuật :..............................................................65
V. Một số biểu tượng trong đồng dao : ................................................67
1. Biểu tượng con bống :.................................................................67
2. Biểu tượng con nghé, con trâu :..................................................69
3. Biểu tượng trăng sao :.................................................................70 C. PHẦN KẾT LUẬN :................................................................................. 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
PHỤ
LỤC.

Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 1
A. PHẦN DẪN LUẬN :


thêm về các thể loại văn học dân gian khác.
Đồng thời, giữa đồng dao và thơ thiếu nhi của văn học hiện đại có mối
liên hệ rất gần gũi. Chính vì thế, việc tìm hiểu đồng dao sẽ giúp cho chúng ta tiếp
cận với thơ thiếu nhi một cách thuận lợi hơn.
Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển. Sự xuất hiện và “thống trị” của
công nghệ thông tin đem đến rấ
t nhiều tiện nghi, lợi ích cho cuộc sống, nhưng
đồng thời cũng đẩy chúng ta vào những tất bật, ngột ngạt, xô bồ,…của một xã hội
cơ khí và tự động hóa. Các chính sách mở cửa, hội nhập một mặt giúp chúng ta có
điều kiện tiếp cận với các nền văn hóa tri thức tiên tiến trên toàn thế giới, nhưng
đồng thời cũng kèm theo mặt trái của nó. Khi bản sắc văn hóa truyề
n thống của
dân tộc có dấu hiệu bị mai một, người ta bắt đầu có ý thức tìm lại nguồn cội, bản
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 2 nguyên. Những di sản văn hóa tinh thần được khôi phục. Tinh thần tự hào dân tộc
lại trỗi dậy mãnh liệt ở mỗi con người Việt Nam. Từ những cơ sở đó, chúng tôi
nhận thấy rằng công tác khảo sát, nghiên cứu đồng dao là một việc làm có ý nghĩa
thiết thực. Nó phù hợp với xu hướng chung của thời đại, góp phần làm sống dậy
những tinh hoa văn hóa dân tộc và kêu gọi ý thức giữ gìn truy
ền thống văn hóa tốt
đẹp của nhân dân ta.
Bên cạnh những lý do đã trình bày, việc nghiên cứu đề tài này còn mang
một ý nghĩa sư phạm quan trọng, đó là phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên

ũ Ngọc Phan, 1972 : 277-293]. Trước đó, nhà xuất bản
Kim Đồng cho in hai tập “Gọi nghé”(1967) và “Túng dinh”(1969) rất mỏng và
hình như văn bản cổ đã được chỉnh lý khá nhiều [Vũ Ngọc Khánh, 1999 : 251].
Năm 1977, Vũ Ngọc Phách viết “Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam” [Trần
gia Linh, 2006 : 4]. Năm 1997, Nhà xuất bản Giáo dục cho xuất bản cuốn “Đồng
dao Việt Nam” giới thiệu 176 bài đồ
ng dao do Trần Gia Linh tuyển chọn và giới
thiệu [Trần Gia Linh, 1997]. Tháng 8 năm 2005, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
cho xuất bản quyển “Đồng dao Việt Nam” do Nguyễn Nghĩa Dân biên soạn
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 3 [Nguyễn Nghĩa Dân, 2005]. Đến tháng 10 năm 2006, Nhà xuất bản Giáo dục cho
xuất bản quyển “Kho tàng đồng dao Việt Nam” [Trần Gia Linh, 2006] do Trần
Gia Linh tuyển chọn và giới thiệu với gần 300 bài đồng dao xoay quanh 6 chủ đề
lớn : Đồng dao về thiên nhiên đất nước (gồm 46 bài), đồng dao - trò chơi tuổi thơ
(26 bài), đồng dao - những bài ca tập làm người lao động (56 bài), đồng dao - cái
nhìn ngộ nghĩnh của trẻ thơ (47 bài), đồng dao – những câu đố
lý thú (57 bài),
những bài hát ru (47 bài).
Về trò chơi trẻ em, trước năm 1945 cũng đã được nhắc đến. Phần lớn là
sưu tầm của người Pháp, viết theo góc độ dân tộc học : Cố đạo Cađie chẳng hạn,
từ năm 1902 đã ghi chép về các trò chơi bán lợn, trò lộn chuồn chuồn, trò đánh
khăng trong “Phong tục dân gian ở thung lũng Nguồn Sơn (Quảng Ninh)”, đăng
trên tạp chí “Viễ

ng do trẻ trực tiếp diễn xướng. Chúng tôi thiết nghĩ đây là một thể loại rất
hấp dẫn và thú vị. Việc nghiên cứu nó sẽ giúp cho chúng ta ngược về với tuổi thơ,
khoảng thời gian mà ai cũng có, để khám phá những suy nghĩ, thói quen của trẻ
nhỏ, thông qua đó ta có thể hiểu rõ thêm về giai đoạn của một đời người. Đồng
thời, trẻ em là tương lai của đất n
ước mà đồng dao lại gắn liền với các em, là
“nguồn sữa” bồi đắp và nuôi dưỡng tinh thần cho trẻ. Do đó, việc tìm hiểu đồng
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 4 dao sẽ góp phần tìm ra biện pháp hữu hiệu để giáo dục và chăm sóc tâm hồn trẻ
nhỏ. Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi mong rằng được góp
phần tìm hiểu một cách cụ thể và bước đầu phát hiện ra những giá trị to lớn cả về
“nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam".
III/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI :
1/ Phạm vi nghiên cứu
:
Với đề tài “Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam”,
người viết tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những đặc sắc nội dung và nghệ thuật
của đồng dao Việt Nam trong 279 bài đồng dao được chúng tôi tuyển chọn từ hai
quyển “Đồng dao Việt Nam” tác giả Nguyễn Nghĩa Dân - Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin [Nguyễn Nghĩa Dân, 2005] và “Kho tàng đồng dao Việt Nam”, tác giả
Trần Gia Linh - Nhà xuấ
t bản Giáo dục [Trần Gia Linh, 2006].
2/ Đối tượng của đề tài :

Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 5 việc phân tích, phân loại, đánh giá đối tượng thuận lợi, hiệu quả và có cơ sở thuyết
phục hơn.
2/ Phương pháp so sánh :
“Phương pháp so sánh là phương pháp đặt đối tượng trong các mối quan
hệ, liên hệ với một số đối tượng cùng loại hoặc tương tự nhằm phát hiện ra những
nét chung cũng như cái riêng biệt, cái đặc trưng của đối tượng” [Triều Nguyên,
2001 : 30]. Trong quá trình khảo sát
đề tài này, chúng tôi vận dụng phương pháp
so sánh để phát hiện điểm tương đồng và dị biệt giữa đồng dao với các thể loại
liên quan như ca dao, dân ca, vè, câu đố. Đặc biệt, chúng tôi luôn quan tâm đối
chiếu tần số xuất hiện của các bài đồng dao trong từng tiểu loại cũng như tần số
xuất hiện của các dạng kết cấu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật,…trong đồng dao;
để
từ đó rút ra những kết luận liên quan đến đặc trưng thể loại cũng như quan
điểm thẩm mĩ của tác giả dân gian.
Mỗi phương pháp đều có tác dụng thiết thực trong những mục đích sử
dụng cụ thể, hợp lí. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng riêng biệt một vài phương pháp thì
không thể khai thác vấn đề một cách triệt để được bởi mỗi phươ
ng pháp nghiên
cứu đều có hạn chế nhất định. Mặt khác, đối tượng nghiên cứu của đề tài này
tương đối rộng cho nên bên cạnh hai phương pháp chủ yếu đã trình bày, chúng tôi
còn kết hợp với các thao tác khác như : thao tác đọc sách, thao tác tổng hợp tư

Trần Thị Quí Trang 6 cần thiết của vấn đề, sự cuốn hút mạnh mẽ của những lời ca dân gian tràn đầy vẻ
thơ ngây, tinh khiết, trong trẻo, chúng tôi luôn ý thức cố gắng hoàn thành những
đóng góp thiết thực sau :
Thứ nhất : Mở ra một hướng nghiên cứu để tiếp cận thế giới đồng dao
Việt Nam trên phương diện nội dung và nghệ thuật. Chúng tôi tiến hành thống kê,
khảo sát và phân loại những bài
đồng dao sưu tầm được thành những tiểu loại nhỏ
dựa trên đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật. Qua đó tạo điều kiện cho
người đọc khám phá vẻ đẹp của đồng dao dưới góc nhìn Folklore học.
Thứ hai, khóa luận không chỉ đơn thuần là sự thống kê nội dung, nghệ
thuật trong đồng dao Việt Nam qua sự phân chia thành các tiểu loại, mà bên cạnh
đó chúng tôi tiếp tụ
c làm sáng tỏ những đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao. Từ
đó, tạo tiền đề cần thiết cho những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn.
Thứ ba, khóa luận còn có ý nghĩa sư phạm thiết thực. Thông qua việc tìm
hiểu những nét đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao sẽ góp phần giúp cho học
sinh hiểu biết sâu sắc hơn về những nét văn hóa truyề
n thống của người Việt xưa.
Đồng thời, đồng dao với những câu ca ngọt ngào, ấm áp đã nuôi dưỡng, bồi đắp
tâm hồn trẻ thơ từ thuở lọt lòng cho đến khi trưởng thành. Do đó, tìm hiểu đồng
dao là tìm hiểu về cả một thời thơ ngây của mỗi con người, về lịch sử, văn hóa dân
tộc. Từ đó, sẽ giúp học sinh có điều kiện để
khám phá ra cái hay, cái đẹp của đồng
dao cũng chính là khám phá ra truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt

VII/ BỐ CỤC KHÓA LUẬN :
“TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA ĐỒNG DAO VIỆT NAM”
` A. Phần dẫn luận :
I/ Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài.
II/ Lịch sử vấn đề.
III/ Phạm vi nghiên cứu và đối tượng của đề tài.
IV/ Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.
V/ Đóng góp của khóa luận.
VI/ Mục đích của khóa luận.
VII/ Bố cục khóa luận.
B. Phần nội dung :
Chương I: Khái quát về đồng dao.
1. Khái niệm ca dao – dân ca.
2. Khái niệm đồng dao.
3. So sánh phân biệt :
3.1. Đồ
ng dao với ca dao, dân ca .
3.2. Đồng dao với vè.
3.3. Đồng dao với câu đố.
Chương II : Tìm hiểu nội dung đồng dao :
I. Những bài đồng dao phản ánh về thế giới tự nhiên :
1. Những bài đồng dao phản ánh về giới thực vật.
2. Những bài đồng dao phản ánh về giới động vật.
3. Những bài đồng dao phản ánh về không gian siêu nhiên.
4. Những bài đồng dao phản ánh về các hiện tượng tự
nhiên.
Chương III : Tìm hiểu ngh
ệ thuật đồng dao :
I. Kết cấu.
II. Ngôn ngữ nghệ thuật.

Trong quyển “Văn học dân gian Việt Nam” của Đại học quốc gia Hà Nội,
ông Lê Chí Quế có trình bày lịch sử khái niệm ca dao – dân ca, bắt đầu từ nguồn
gốc Hán Việt. “Ca” : tức là bài hát có hòa với nhạc, còn “dao” tức là lời của bài
hát đó [Lê Chí Quế, 2001 : 215]. Và s
ở dĩ có hiện tượng chiết tự khái niệm “ca”
và “dao” bởi lẽ trong thư tịch cổ Trung Quốc chỉ có khái niệm “ca” và “dao” mà
không có thuật ngữ “ca dao dân ca” như các công trình nghiên cứu văn học dân
gian Việt Nam vẫn thường gọi.
Trong quyển giáo trình biên soạn về văn học Việt Nam – “Việt Nam văn
học sử yếu” [Dương Quảng Hàm, 1993] - ông Dương Quảng Hàm có nói ca dao
“(ca : hát, dao : bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành
trong dân gian, th
ường tả tính tình, phong tục của người bình dân” [Dương
Quảng Hàm, 1993 : 22]. Có lẽ đây chỉ là một định nghĩa còn dừng lại ở mức nhận
định chung chung sơ sài, nhằm để bước đầu phân biệt thể loại này với thể loại
khác.
Nhấn mạnh sự khác nhau của ca dao với một số khái niệm liên quan như :
phong dao, đồng dao, nhóm tác giả Trần Vĩnh - Nguyễn Tấn Phát (Giáo trình Đại
học s
ư phạm - 1978) định nghĩa : Ca dao là những bài hát có hoặc không có
chương khúc, sáng tác bằng thể văn dân tộc để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt
tình cảm [Trần Vĩnh và Nguyễn Tấn Phát, 1978]. Ông Trần Hoàng (Đại học Huế)
xác định khái niệm ca dao được sử dụng rộng rãi đầu thế kỉ XX, với hai loại ý
kiến vẫn còn phiến diện. “Một là, ca dao cổ truyền chính là phần lời củ
a dân ca.
Hai là, ca dao không phải là toàn bộ phần ngôn từ của các bài hát dân gian mà
chỉ là những câu hát mang tính chất trữ tình đậm đà nhất và được sáng tác theo
một phong cách riêng” [Trần Hoàng, 1995 : 61].
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam


Tương tự, ông Đỗ Bình Trị định nghĩa : “Ca dao dân ca là tên gọi chung các thể
loại trữ tình dân gian. Trong diễn xướng, đó là những bài ca, là thơ được hát lên
theo những giai điệu nhạc nhất định. Các thể loại dân ca có bản chất chung là trữ
tình (tức là chủ yếu biể
u hiện những tâm trạng, những cảm nghĩ của con người)
và khác nhau về chức năng sinh hoạt là chính. Và theo ông, thuật ngữ ca dao và
dân ca là hoàn toàn tương đồng với nhau. Hiểu theo nghĩa rộng, đây là khái niệm
bao hàm ba yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau : Đó là lối hát, là điệu hát, là lời hát.
Lời của ca dao chính là thơ. Từ đó, ông Đỗ Bình Trị rút ra và nhận định rằng, khi
nghiên cứu, giới thiệu nhữ
ng câu hát - bài hát dân gian một cách toàn vẹn hoặc
chỉ nghiêng về mặt âm nhạc, ta gọi đó là dân ca. Còn khi nghiên cứu giới thiệu
chỉ riêng phần lời của những câu hát - bài hát ấy, ta gọi đó là ca dao” [Trần Tùng
Chinh, 2002 : 79].
Trên đây là những khái niệm mà chúng tôi đã hệ thống từ những sách
nghiên cứu của các nhà phê bình, lí luận có tên tuổi. Và chúng tôi xin mượn
những khái niệm trên làm cơ sở tiếp tục tìm hiểu, đào sâu đồng dao.
II. KHÁI NIỆM ĐỒNG DAO :
Đồng dao là m
ột bộ phận của văn học dân gian xuất hiện rất sớm và được
lưu truyền rất rộng rãi. Đó là những bài hát mà chúng ta quen hát nơi cửa miệng từ
khi còn rất nhỏ, là những lời ru ngọt ngào dịu êm khi còn nằm trong nôi, là những
câu đố giản dị, lí thú,…Ngay từ lúc ấu thơ, trong mỗi chúng ta không ai không
thuộc một vài bài đồng dao và không thông thạo một trò chơi đồng dao. Tuy vậy,
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 10

như : ca dao, tục ngữ, câu đố …của cả tác giả vô danh và có tên.
Nguyễn Tấn Long và Phan Canh trong “Thi ca bình dân” tập IV ở mục
đồng dao, định nghĩa “Đồng dao tức là ca dao nhi đồng” [Nguyễn Tấn Long và
Phan Canh, 1997]. Theo tác giả này, đồng dao dùng để chỉ một bộ phận (tiể
u loại)
của thể loại ca dao.
Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Văn học dân
gian” có hai mục : Hát vui chơi và hát ru em [Vũ Ngọc Phan, 1972 : 714], gồm
những tác phẩm dân gian có chung đối tượng phục vụ là đồng dao mà không giới
thuyết về tên gọi của hai loại tác phẩm này.
Vũ Ngọc Khánh không gọi “bài hát trẻ em” mà dùng thuật ngữ “đồng dao”
để chỉ những lờ
i ca dân gian trẻ em và loại trừ các câu sấm mà trước đây các nhà
nho xếp vào đồng dao [Vũ Ngọc Khánh, 1999 : 250]. Theo tác giả, đồng dao cũng
là một thể loại văn học dân gian tồn tại bình đẳng với các thể loại khác : tục ngữ,
ca dao [Vũ Ngọc Khánh, 1999].
Trần Hòa Bình trong bài viết “Từ những bài đồng dao đến thơ cho các em
hôm nay” phát biểu ý kiến : “Trong kho tàng văn nghệ dân gian của dân tộc nào
cũng có những bài hát dành riêng cho trẻ em…đ
ó là những bài đồng dao” [Trần
Hòa Bình, 1999 : 83]. Như vậy, với tác giả này, những tác phẩm dân gian nào
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 11 được trẻ em ca hát thì gọi là đồng dao, hay nói cách khác, đó là những “bài hát trẻ

người sáng tác những bài thơ cho trẻ em hát có tên tác giả cũng được các nhà
nghiên cứu gọi là đồng dao” [Nguyễn Văn Vĩnh, 1997 : 5].
Nhìn chung, xung quanh nội dung khái niệm đồ
ng dao có rất nhiều ý kiến
khác nhau, các nhà nghiên cứu chưa thông nhất quan điểm. Tựu trung lại, có thể
phân loại ý kiến các nhà Folklore học như sau :
1. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đồng dao là những tác phẩm văn học
dân gian, không thuộc vào một thể loại cụ thể nào được trẻ em truyền miệng .
2. Một số nhà nghiên cứu xác định đồng dao là ca dao nhi đồng. Chúng bao
gồm những lời hát dân gian thuộc một thể loại v
ăn học dân gian nhất định và trẻ
em nhất thiết phải là chủ thể chủ yếu và đích thực của sự sáng tạo và diễn xướng.
Ví như: Một số tác phẩm hát ru tuy đối tượng hướng tới là trẻ em nhưng chủ thể
diễn xướng không phải là trẻ em nên không thuộc vào đồng dao. Hay những lời
sấm truyền, sấm kí cũng không phải là đồng dao bởi đối tượng mà nó hướ
ng tới
không phải là trẻ em.
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 12 3. Một ý kiến khác, lại quan niệm đồng dao là những bài hát truyền miệng
trẻ em thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm cả những tác phẩm văn học dân
gian và những tác phẩm văn học viết hiện đại.
Theo chúng tôi, đồng dao là những sáng tác dân gian dành cho trẻ em,
được các em diễn xướng và lưu truyền, đối tượng hướng tới là trẻ em. Đồng dao
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 13 Tiêu chí Đồng dao Ca dao
- Đối tượng diễn xướng :
- Ngôn từ : - Nghệ thuật diễn xướng :

- Nội dung :
- Trẻ nhỏ.
- Giản dị, mang tính chất hồn
nhiên, trong sáng, đa số dùng
từ một nghĩa,...
- Có sự kết hợp lời thơ, nhạc
điệu, động tác.
- Mang tính chất trong sáng,
hồn nhiên.
- Không giới hạn.


- Nội dung :
- Trẻ nhỏ.
- Giản dị, mang tính chất
hồn nhiên, trong sáng,
đa số dùng từ một nghĩa,..
- Khá trong sáng, hồn
nhiên.
- Không giới hạn.
- Gọt giũa, trau chuốt bóng
bẩy, từ nhiều tầng nghĩa,...

- Phong phú, thể hiện nhiều
cung bậc tình cảm,...
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 14 2/ Đồng dao với vè :
- Vè : là một hình thức sáng tác dân gian bằng văn vần với những thể thơ,
luật thơ đa dạng. Vè cũng diễn xướng theo một làn điệu nhất định qua con đường
truyền miệng của các tác giả dân gian. Chúng ta không loại trừ một số đoạn vè
khá trữ tình. Nhưng không giống như ca dao, vè thiên về tự sự ít có tính chất trữ
tình. Trong dân gian, người ta hay bảo là “kể vè” chứ không nói “hát vè”. Điề
u
này chứng tỏ làn điệu âm nhạc và vần luật trong vè chỉ là phương tiện bổ trợ cho

chất trữ tình, nội dung vè kể về những người thực, việc thực. Bằng hình thức nôm
na, đơ
n giản dễ hiểu, vè phản ánh nhanh nhạy, kịp thời những sự vật, sự kiện,
nhân vật, sản vật ở một địa phương nào đó.
Như vậy, có thể thấy rằng, về phương diện khái niệm đồng dao và vè rất
gần gũi với nhau ở tính chất tự sự bằng văn vần, trong đồng dao hiện tượng này
cũng rất phổ bi
ến. Bên cạnh đó, với nội dung phản ánh sự vật của vè cũng là một
nội dung được phản ánh trong đồng dao. Song, giữa vè và đồng dao vẫn có những
điểm khác biệt khá lớn đó là : 1/ Đối tượng hướng tới của vè khác đồng dao, đối
tượng của vè rất rộng không giới hạn tuổi tác, trình độ,…mọi người đều có thể kể
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 15 vè, còn ở đồng dao đối tượng là trẻ em, bị hạn chế về trình độ và nhận thức. 2/
Nội dung phản ánh của vè thuộc nhiều phương diện : sinh hoạt xã hội, lịch sử, sự
vật trong khi đó nội dung phản ánh của đồng dao có hình thức vè chỉ giới hạn ở
vè sự vật mà thôi. 3/ Những bài đồng dao có hình thức vè ít có tính chất thời sự.
Bảng so sánh :
+ Giống nhau :
• C
ả hai đều là những sáng tác dân gian.
• Đồng dao và vè rất gần gũi với nhau ở tính chất tự sự bằng văn vần,
nội dung phản ánh sự vật của vè cũng là một nội dung được phản ánh trong đồng
dao.

ại sáng tác nghệ thuật dân gian
ngắn gọn phản ánh các sự vật hiện tượng khách quan bằng một lối nói đặc biệt,
lối nói chệch, lối nói gần với ẩn dụ” [Trần Hoàng, 1995 : 56]. Cách nói “chệch”
hay “nửa kín nửa hở” đó theo ông Lê Chí Quế, “được hình thành từ sự quan sát
những nét tương đồng giữa các sự vật, giữa vật đố với vật được miêu tả, và đó
chính là ph
ương thức khám phá và phản ánh các sự vật, hiện tượng khách quan
bằng những hình tượng nghệ thuật đặc biệt” [Lê Chí Quế, 2001 : 207].
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 16 Câu đố là hình thức sáng tác dân gian có chức năng miêu tả, phản ánh đặc
điểm của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống xã hội bằng phương
pháp dấu tên và nghệ thuật ẩn dụ đặc biệt (hay phương pháp chuyển hóa - chuyển
cái nọ thành cái kia) để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mua vui, giải trí.
Thật vậy,“câu đố vừa là nghệ thuật vừa là khoa học (khoa học th
ường thức
dân gian), câu đố đem lại cho dân gian một loại thức ăn tinh thần đặc biệt, vừa
bổ ích vừa rất thú vị, hấp dẫn” (Hoàng Tiến Tựu) [Hoàng Tiến Tựu, 1998 : 145].
Như vậy, về nội hàm khái niệm ta thấy giữa những bài đồng dao có hình
thức đố giải và câu đố có những điểm tương đồng là : Cả hai đều là những sáng
tác dân gian có chức năng miêu tả
, phản ánh đặc điểm sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên và đời sống xã hội, đều sử dụng phương pháp dấu tên và ẩn dụ, đều có mục
đích để kiểm tra sự hiểu biết và vui chơi giải trí. Song, điểm khác biệt khá lớn
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của đồng dao Việt Nam

Trần Thị Quí Trang 17
Bảng so sánh chung :
+ Giống nhau : Tất cả đều là những sáng tác dân gian.
+ Khác nhau :
Tiêu chí Đồng dao Ca dao Dân ca Vè Câu đố
- Đối tượng
diễn xướng :
- Ngôn từ :
- Nội dung
(đề tài) :
- Trẻ nhỏ.

bóng
bẩy,
từ nhiều
tầng nghĩa,...

- Phong phú,
thể hiện
nhiều
cung bậc
tình cảm,...
- Không giới
hạn.
- Giản dị
và cô đúc. - Thuộc
nhiều
phương
diện :
sinh hoạt,
lịch sử,
sự vật,...
→ tính thời
sự cao.
- Không giớ
i

chọn mảng nội dung : “Những bài đồng dao phản ánh về thế giới tự nhiên”,
để đi
sâu tìm hiểu, nghiên cứu, góp phần làm nổi bật những nét đặc sắc về nội dung của
đồng dao.
Trẻ thơ sống trong lòng thiên nhiên, nơi ban ngày có ánh sáng chan hòa,
ban đêm có ánh trăng thanh ngọn gió mát, chỗ này có mặt nước trong xanh, chỗ
kia có núi non hùng vĩ. Bao quanh các em là tràn đầy sắc màu của hoa lá. Bao
nhiêu loài hoa là bấy nhiêu hình dáng, bấy nhiêu hương sắc. Bao nhiêu loài chim là
bấy nhiêu tiếng hát, tiếng ca. Thế giới thiên nhiên vô cùng lộng lẫy mà cũng rất
bình dị. Qua đôi mắt trẻ thơ
, thiên nhiên gắn bó với các em như những người bạn
thân thiết, giống như người chị, người anh trong gia đình : chị lúa, chị ngô, anh
dưa chuột. Không gian tĩnh mịch của thế giới thực vật bỗng trở nên sinh động, có
hồn. Hoa bông bụt có thể cạo đầu đi tu, hoa dâu tằm có thể đi đám cưới. Quả khế,
quả na cũng biết mở mắt lơ mơ như thiu thiu ng
ủ. Trong đồng dao không có sự
cách biệt giữa thiên nhiên và trẻ nhỏ : Bầu trời và mặt đất là nơi vui chơi đầy hấp
dẫn với các em. Tâm hồn trẻ thơ giao cảm đặc biệt với trời mây, cây cỏ, non nước.
I. Những bài đồng dao phản ánh về giới thực vật :

Giới thực vật tồn tại trong đồng dao vô cùng phong phú và đa dạng. Theo
kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy :
- Hoa : chiếm 1/25 bài đồng dao về giới thực vật, tỷ lệ : 4 %, gồm rất nhiều
loại : hoa bông giếng, hoa chim chim, hoa bông bụt, hoa bông đá, hoa cứt chuột,…
- Lúa : 2/25 bài, chiếm tỷ lệ : 8 %.
- Các loại củ : 2/25 bài, chiếm tỷ lệ : 8 %, gồm rất nhiều loại : củ đậu, củ
hành,…
- Các thứ
rau : 3/25 bài, chiếm tỷ lệ : 12 %, rất nhiều loại : rau ngành
ngạnh, rau tâm lang, rau muống biển, rau bình bát, rau diếp cá,…

“Thú ở hỗn hào
Là rau ngành ngạnh
Trong lòng bất chính
Vốn thiệt tâm lang…”
Không rõ hình dáng của loài rau ngành ngạnh này ra sao, đặc điểm của
chúng như thế nào? Chỉ biết rằng tác giả dân gian đã nhìn sự vật bằng lăng kính,
bằng nhận thức đơn giản của trẻ th
ơ mà suy luận cùng với chúng. Phải chăng đây
là một thứ rau chuyên bò ngang, xiên dọc lung tung trên mặt đất, không hàng,
không lối? Ở đây, chúng tôi không thể bàn nhiều về vấn đề này, mà điều chúng tôi
quan tâm chính là cách miêu tả, lí giải khá ngộ nghĩnh bằng đôi mắt trẻ thơ : Rau
“ngành ngạnh” là loài rau ăn ở hỗn hào, rau “tâm lang” là loài trong lòng bất
chính,… Thật thú vị! Có thể thấy rằng, tác giả bài đồng dao chỉ mới căn cứ một
cách
đơn giản vào tên gọi của từng loài rau như : ngành ngạnh, tâm lang,…để từ
đó suy luận ra đặc điểm của chúng. Những suy luận này đều được thanh lọc qua
đôi mắt hồn nhiên của trẻ thơ. Có thể nó không đúng về mặt khoa học, nhưng lại
vô cùng hợp lí với logic tưởng tượng bay bổng của tư duy trẻ nhỏ.
Hay trong một bài đồng dao khác :
“Vác bóng mà soi
Là hoa bông giếng
Hay bay hay liệng
Là hoa chim chim
Xuống n
ước mà chìm
Là hoa bông đá….”
Các loài hoa lần lượt được hiện ra, gắn với mỗi loài đều có sự lí giải : Hoa
bông giếng là loài hoa vác bóng mà soi, hoa chim chim là loài hay bay liệng, hoa
bông đá xuống nước sẽ bị chìm,…Rõ ràng phải hiểu và gắn bó với thế giới trẻ thơ
lắm, tác giả mới có được sự suy luận như vậy. Và điều đó rất phù hợp với những

Hình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Là trái bắp nấ
u…”
Đậu rồng là loài dây leo, chúng mọc trên các giàn cao và trái buông xuống
gầm giàn. Tác giả đã giúp trẻ căn cứ vào đặc điểm ấy để lí giải : đậu rồng là trái đậu ở
trên mây. Đu đủ là loài rất nhiều trái, mặc dù thân cây không lớn nhưng trái thì lại rất
sai, mỗi cây thường từ 10 – 15 trái trở lên. Sự quan sát thực tế ấy đưa đến cách lí giải:
có con thật đông – là trái đu đủ. Tương tự như th
ế, các trái mít ướt, trái thơm, trái
bắp, cũng được tác giả lí giải : chặt ra nhiều mủ - là trái mít ướt, mình tựa gà xước –
vốn thiệt trái thơm, cái đầu chơm bơm – là trái bắp nấu,…Bằng cách này, những đặc
điểm điển hình của từng loại sự vật, từ những đường nét ngoại hình, diện mạo bên
ngoài đến những thuộc tính bản chất bên trong của chúng lần lượt được quan sát, lí
giải theo một logic rất trẻ con. Đó là điểm đặc sắc trong việc nắm bắt thế giới sự vật
được thể hiện trong nội dung của các bài đồng dao.
Cách lí giải này đã thể hiện sự quan sát khá tinh tường nhưng cũng rất hồn
nhiên của các tác giả đồng dao. Qua quá trình quan sát các sự vật, trẻ phải biết căn cứ
vào từng đặc điểm riêng biệt của chúng để
miêu tả. Từ sự miêu tả dựa trên các đặc
điểm của sự vật, tác giả đi đến gọi đích danh chúng. Cách lí giải và gọi tên này đã tạo
được căn cứ vững chắc để thuyết phục người đọc, người nghe.
Từ những quan sát, phân tích và lí giải, các tác giả đồng dao đã hướng cho trẻ
dần dần chuyển sang bước nhận thức cao hơn, đó là : Phát hiện ra mối quan h
ệ họ
hàng thân thuộc, gần gũi giữa các loài thực vật trong tự nhiên như lúa, ngô, đậu, dưa,
bí,…
cao đẹp mai sau. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc từng nổi tiếng với những trang sử
chói l
ọi về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Phải chăng đất nước ta có được
những trang sử rực rỡ, chói lọi ấy chính là nhờ những tâm hồn bé nhỏ, đẹp đẽ này xây
đắp?!
Những nội dung thể hiện trong các bài đồng dao mà chúng tôi vừa trích dẫn,
đã đánh dấu từng bước sự phát triển ngày càng cao trong nhận thức của trẻ. Những
nội dung ấy đã phản ánh được s
ự phong phú, nhạy cảm của tâm hồn trẻ thơ. Tuy nó
còn non nớt nhưng đã tràn đầy sự nhạy bén, lém lỉnh và thông minh.
4. Tiếp theo là quá trình nhận biết các hiện tượng của thế giới tự nhiên
gắn với từng thời điểm không gian cụ thể :
Chẳng hạn như :
“Tháng bảy ông thị đỏ da
Ông mít chớm chớm, ông đa rụng rời
Ông mít đóng cọc mà phơi
Ông đa r
ụng rời đỏ cả chân tay…”
Gắn với thời điểm tháng bảy, mỗi loài cây có đặc điểm riêng như : Cây thị đỏ
da, quả mít chớm chín, cây đa rụng lá,…Đến lúc này, trẻ đã nhận thức được cả bước
chuyển mình của các sự vật hiện tượng gắn với mỗi thời điểm cụ thể. Đây chính là
một bước phát triển cao hơn củ
a quá trình nhận thức, trẻ đã tiếp cận sự vật trên tất cả
các phương diện từ đặc điểm bên ngoài (1.1); (1.2), đến các mối quan hệ giữa các loài
(1.3), và đến đây là quá trình chuyển biến của các sự vật ấy theo mùa, mỗi mùa một
đặc điểm riêng, một dáng vẻ riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status