Luận văn
Sử dụng phương pháp phân tích chi phí
lợi ích mở rộng để đánh giá hiệu quả
việc xây dựng hệ thống xử lí nước thải
của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ
tuthienbao.com
1
LỜI NÓI ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Công nghiệp giấy Việt Nam phát triển và trưởng thành ngày càng đáp ứng
tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp
đổi mới, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách, việc làm và thu nhập ổn định cho
người lao động, nâng cao đời sống văn hoá và trình độ dân trí, xứng đáng là một
trong những ngành chiến lược quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá (CNH - HĐH) đất nước.
Tuy nhiên vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi
trường (ONMT) do nước thải công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp giấy
nói riêng. Vì đây được đánh giá là một trong 2 ngành công nghiệp có lượng nước
thải gây ô nhiễm lớn nhất. Thực tế hiện nay, lượng nước thải khổng lồ chứa các
chất lơ lửng (SS = suppended solid), hàm lượng các chất hữu cơ chứa trong
nước thải thường cao, các chỉ số COD (COD = chemical oxygen demand), và
BOD (BOD = Biochonical oxygen demand) xác định trong nước thải nghành
công nghiệp giấy rất cao này, được thải trực tiếp vào các sông, hồ mà không qua
xử lý, gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực xung quanh nhà máy.
Trong điều kiện thực tế hiện nay, với công nghệ thấp, chậm phát triển so
với khu vực và thế giới, máy móc trang thiết bị lạc hậu, chậm thay đổi, thiếu vốn
đầu tư cho công nghệ xử lý nước thải, ngành công nghiệp giấy khó có thể đáp
ứng được những tiêu chuẩn thải theo quy định.
Nguyên.
4/ Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp thu thập số liệu từ nhiều nguồn khác nhau:
Phương pháp trực tiếp:
3
- Phỏng vấn và thu thập số liệu về tình hình sản xuất, mức độ và phạm vi
ảnh hưởng của hoạt động sản xuất giấy tới môi trường.
- Phỏng vấn lãnh đạo nhà máy và các phường xung quanh khu vực nhà
máy.
- Thu thập số liệu từ sở KHCNMT tỉnh Thái Nguyên và trung tâm Y tế
dự phòng tỉnh Thái Nguyên
- Thu thập số liệu đo đạc về hiện trạng môi trường của nhà máy tại
Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Tư vấn môi trường (CERECE).
Phương pháp gián tiếp
- Những số liệu gián tiếp là những số liệu thu thập từ những nguồn khác
nhau như số liệu của Cục Môi trường, Viện Hoá học Công nghiệp, Khoa Kinh tế,
Quản lý Môi trường và Đô thị, và tài liệu liên quan khác.
Trên cơ sở các số liệu thu thập đó kết hợp với phương pháp phân tích chi
phí lợi ích mở rộng để tính toán các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho mục đích nghiên
cứu.
Phương pháp thống kê xác suất: Các số liệu thu thập được tiến hành xử
lý theo phương pháp thống kê.
5. Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I : Tiếp cận phương phân tích chi phí - lợi ích mở rộng cho sản
xuất công nghiệp giấy
Chương II : Tổng quan về nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ.
Chương III: Phân tích chi phí lợi ích mở rộng
chi phí, lợi ích là rất phức tạp, không dễ gì thấy được và thời gian tác động là bao
5
lâu chính vì vậy việc đo lường để lượng hoá kết quả là không đơn giản, thậm
chí không có một thước đo chung, hay một phương pháp chung phục vụ cho việc
tính toán. Nhưng CBA là kỹ thuật cho phép liệt kê tất cả các điểm được và mất
một cách hệ thống, cố gắng tiền tệ hoá cái được và cái mất đối với môi trường,
cân nhắc tầm quan trọng của chúng nếu phù hợp, thể hiện sự phân phối của cái
được và cái mất giữa các nhóm người như thấy rõ trong tranh cãi môi trường và
đánh giá môi trường.
Đối với các nước đang phát triển, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên là
biện pháp quan trọng, phổ biến để phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy phương
pháp CBA rất phù hợp trong điều kiện thực tế của các nước này.
1.1.1.2 Mục đích của việc sử dụng CBA
Đối với các nhà hoạch định chính sách, CBA là công cụ thiết thực hỗ trợ
cho việc ra quyết định có tính xã hội, từ đó quyết định phân bổ nguồn lực một
cách hợp lý, tránh gây ra thất bại thị trường (tức là giá cả hàng hoá không phản
ánh đúng giá trị của nó) có thể xảy ra thông qua sự can thiệp hiệu quả của Nhà
nước.
Phương pháp CBA có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể ở giai
đoạn hình thành (exante), giai đoạn giữa (immedias- res) hoặc giai đoạn cuối
(exposte) của dự án. Chính nhờ quan điểm tiếp cận phong phú này sẽ cung cấp
cho chúng ta những góc nhìn khác nhau. Từ đó sẽ cung cấp cho chúng ta một
lượng thông tin cơ bản về toàn bộ dự án, hay những bài học kinh nghiệm rút ra
khi tiến hành một dự án tương tự.
Muốn đưa ra được phương án đem lại hiệu quả cao nhất trong hàng loạt
các phương án đề xuất thì cần phải có một căn cứ, cơ sở nào đó dùng để so sánh.
Phương pháp CBA sẽ cho chúng ta hình dung ra được toàn bộ những chi phí
cũng như lợi ích mà mỗi phương án đưa ra có thể đem lại, và dựa trên kết quả
phân tích đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp với mục tiêu đề ra.
7
- MR (Marginal revenue) : Doanh thu biên là số lượng doanh thu mà nhà
máy nhận được từ việc bán 1 đơn vị sản phẩm (1 tấn giấy).
Vì yếu tố giá cả là do thị trường quyết định nên doanh thu biên đối với
mỗi tấn giấy là như nhau, do đó đường doanh thu biên biểu diễn trên đồ thị sẽ là
một đường thẳng nằm ngang.
- Chi phí được chia ra làm 2 loại: chi phí cố định và chi phí biến đổi.
+ Chi phí cố định: Là chi phí mà nhà máy phải trả cả trước khi sản xuất và
không đổi khi sản lượng thay đổi.
+ Chi phí biến đổi liên quan đến các khoản mục cần phải mua ngay khi
sản xuất như tre nứa, hoá chất, lao động do đó chi phí này biến đổi cùng với
sự biến đổi của sản lượng. Sự biến đổi này được thể hiện rõ trên đường chi phí
cận biên (tức biến phí của mỗi tấn giấy được sản xuất ra) - MVC (marginal vary
cost) hay MC.
+ Lợi ích cận biên cá nhân (MNPB = MR - MC ) là lợi nhuận hoạt động
mà nhà máy thu được từ doanh thu biên sau khi đã trừ đi chi phí biến đổi cận
biên.
Hình 1: Thu nhập và chi phí cho mỗi tấn giấy
: L
ợi nhuận bi
1
.: S
ố tiền bị lỗ (= MC
-
MR) khi s
ản xuất th
êm m
ột tấn giấy khi qua khỏi
điểm Q
1O
1
: Đi
ểm ho
à v
ốn
(MR = MC), Q
1
Là m
ức sản l
ư
ợng tối
Hình 2: Đường lợi ích cận biên của cá nhân (MNPB)
Như vậy, nhà máy sẽ sản xuất ra từng đơn vị sản phẩm khi nào mà doanh
thu cận biên còn cao hơn chi phí biên để sản xuất ra đơn vị sản phẩm đó. Tức là
mở rộng sản xuất tới mức Q
1
trong hình 1. Và để có thể duy trì việc kinh doanh
lâu dài, tổng lợi nhuận ở điểm Q
1
(diện tích tam giác AOQ
1
= diện tích tam giác
P (giá 1
tấn giấy)
O
Q
1
Q (tấn
gi
ấ
y)
MNPB
A
10Hình 3: Mô hình ngoại ứng tiêu cực
MPC (Marginal private cost)
: Chi phí c
ận bi
ên cá nhân c
ủa nh
à máy
MEC (Marg
inal external cost)
: Chi phí môi trư
ờng cận bi
ên
MSC (Marginal social cost)
: Chi phí xã h
ội cận bi
ên (MPC + MEC)
Q
W
: Lư
: Lượng chất thải thải ra môi trường
O
*
: Điểm cân bằng có tính xã hội O
*
(P
*
, Q
*
) = MSC ầ DD
MSC = MPC +
MEC
Q
W
(lượng thải)
MEC
P (giá 1 t
ấ
n g
i
ấ
y)
P
*
Q
WA
DD = P 11
P
*
: Mức giá bán 1 tấn giấy trên thị trường
Q
*
: Mức sản lượng tối ưu của xã hội
Q
*
W
: Lượng chất thải thải ra môi trường
Bản chất của vấn đề ở đây là, khi chúng ta tiến hành sản xuất thì cũng có
nghĩa là chúng ta phải thải ra môi trường một lượng thải nhất định (nước thải,
chất thải ). Ở một mức độ nào đó, thì môi trường có khả năng tự làm sạch, hấp
thụ được nhưng nếu vượt quá giới hạn khả năng tự làm sạch thì đó là nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường và tiến tới suy thoái môi trường. Vậy thì liệu ở
điểm O
*
, ô nhiễm có bằng O hay không? Chắc chắn sẽ là không, bởi vì xét về
mặt kĩ thuật nó thực sự là không khả thi, trong bất cứ trường hợp nào cũng sẽ
không được chấp nhận vì quá tốn kém xét về cả phương diện đầu tư về thiết bị
và các quy trình làm giảm chất thải cũng như trong việc mất mát các lợi ích sinh
ra từ việc sản xuất những sản phẩm đó.
Khi sản lượng tăng lên thì tổng số lượng chất ô nhiễm phát thải tăng lên.
Và ở dưới mức sản lượng Q
Khả năng hấ
p
th
ụ
O
Q
1
Q
A
Q
*
Q
(tấn giấy)
Q
WA
Q
*
W
Q
W1
Q
W
(lượng
th
ả
Hình 5: Chi phí thiệt hại của ô nhiễm
Nhưng vì chúng ta không thể vì bảo vệ môi trường mà ngừng việc sản
xuất lại. đó chính là lý do vì sao chúng ta phải chấp nhận một khoản chi phí
ngoại ứng nhất định, là chấp nhận một mức thải trong giới hạn cho phép khi tiến
hành sản xuất, và những giới hạn này được quy định cụ thể trong TIÊU CHUẨN
Chi phí thiệ
t
h
ạ
i
MEC
O
Q
1
Q
A
13
VIỆT NAM . Các đơn vị sản xuất sẽ bị xử lý nếu như vượt quá những tiêu chuẩn
đã quy định tuỳ theo mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Hình 6: MNPB và MEC
Khi xét đến nhân tố môi trường thì phương pháp phân tích chi phí lợi ích
mở rộng sẽ đem đến kết quả là :
+ Lợi nhuận của nhà máy sẽ bị giảm xuống SD O
*
Q
*
Q
1
+ Lợi ích xã hội thu về do việc giảm ô nhiễm là S› O
*
EQ
1
Q
O
*
MNPB
O
Q
1
Q
A
Q
*
Q
(tấn giấy)
E
Q
WA
Q
*
W
Q
W1
gian 2 chiều: trục hoành biểu thị thời gian diễn biến của hoạt động phát triển;
trục tung biểu thị lợi ích thu được trong quá trình tiến hành hoạt động.
Lợi ích và chi phí biểu thị trên đồ thị theo luỹ tích, chi phí cho xây dựng,
khai thác và vận hành đều ghi chung. Như vậy, trên đồ thị bất cứ lúc nào ta cũng
có thể so sánh chi phí và lợi ích ở dạng chưa chiết khấu hoặc chiết khấu nếu
được tính toán, bổ sung và điều chỉnh thêm.
1
2 3 4 5 6 7 8 9 10 n
ă
m
Chi phí
- lợi
ích 15
Hình 7: Phân tích chi phí - lợi ích bằng biểu đồ
: tổng chi phí qua các năm
: Tổng lợi ích qua các năm
Hoặc dưới dạng đồ thị
ích
A
B
C
t
*
t
1
t
O 16
Mặt khác, việc sử dụng phương pháp này vào các dự án lớn sẽ rất khó
khăn do số hạng mục, đối tượng phân tích và tính toán thường quá lớn. Ngoài ra
có nhiều yếu tố môi trường không thể quy đổi thành tiền.
1.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế - tài chính
Khác với phương pháp trên, về mặt bản chất, mọi phân tích của chúng ta
là phân tích kinh tế, sau đó quy đổi toàn bộ phân tích kinh tế ra tiền. Trên cơ sở
tính toán các chỉ tiêu liên quan nhằm xác định được bản chất của lợi ích và chi
phí, lợi nhuận có được của dự án.
1.2.2.1 Các khái niệm liên quan
Bộ "công cụ" của CBA bao gồm các khái niệm cơ bản sau:
Về mặt lý thuyết, phân tích kinh tế các dự án phải được kéo dài trong
khoảng thời gian vừa đủ để có thể bao hàm hết mọi lợi ích và chi phí của dự án.
Trong việc lựa chọn biến thời gian thích hợp cần lưu ý đến 2 nhân tố quan trọng
sau đây:
- Thời gian tồn tại hữu ích dự kiến (Expected useful life).
- Hệ số chiết khấu.
Chiết khấu
Chiết khấu là một cơ chế mà nhờ nó ta có thể so sánh lợi nhuận và chi phí
ở các thời điểm khác nhau trên trục thời gian. Trong việc sử dụng chiết khấu cần
phải đảm bảo 2 điều kiện tiên quyết:
- Mọi biến số đưa vào tính toán chiết khấu ( ví dụ chi phí tài nguyên, lợi
nhuận đầu ra ) phải được quy đổi về cùng 1 hệ đơn vị (đơn vị tiền tệ).
- Giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi nhuận hiện tại phải lớn hơn một đơn
vị chi phí hoặc lợi nhuận trong tương lai.
Hai điều kiện này sẽ có khó khăn khi đưa các nhân tố môi trường vào quá
trình phân tích dự án.
18
d. Mức tối ưu Pareto
Khi ta lựa chọn một phương thức quyết định nào đó làm cho một người
giàu lên nhưng cũng không làm cho người khác nghèo đi, do đó một phương
thức phân bổ hiệu quả là phương thức mà khi chúng ta quyết định 1 người nào
đó giàu lên mà không làm cho người khác nghèo đi.
e. Nguyên tắc chi phí - lợi ích
Một dự án chỉ được chấp nhận khi mà tổng lợi ích xã hội là dương, tỷ lệ
lợi ích - chi phí dương thay vì âm. Tuy nhiên, đối với các dự án môi trường,
trong một số trường hợp, khi nguồn số liệu về ảnh hưởng cũng như lợi ích đem
lại cho môi trường bị hạn chế, mức độ hiểu biết không đầy đủ để thiết lập mối
quan hệ giữa sự phá huỷ môi trường, ảnh hưởng tới sức khoẻ công đồng thì
việc tiến hành dự án phát triển có thể đưa ra một mục tiêu và phân tích các cách
t
t
t
r
C
C
r
B
NPV
1 1
0
11
19
Hệ số hoàn vốn nội tại k được định nghĩa như là hệ số mà qua đó giá trị
hiện thời của lợi ích và chi phí là bằng nhau. Hệ số k tương đương với hệ số
chiết khấu (r) , có thể xác định bằng cách suy diễn khi thoả mãn hệ thức sau:
r
C
C
r
B
1
0
1
1 1
0
11
0
11
IRR được các tổ chức tài chính sử dụng rộng rãi
Giá trị IRR sau khi tính toán sẽ được so sánh với lãi suất về tài chính hoặc
hệ số chiết khấu để xem mức độ hấp dẫn về tài chính hoặc kinh tế của dự án.
c. Phân tích độ nhậy. (B/C)
Tỷ lệ này so sánh lợi ích và chi phí đã được chiết khấu. Thông qua chỉ tiêu
này người ta xác định một đồng vốn bỏ ra so với lợi ích thu về chiếm tỉ lệ là bao
nhiêu.
Các
tham số được sử dụng:
B
t
: L
ợi ích thu về tại năm t
n
i
t
t
n
t
t
t
r
C
C
r
B
C
B
1
0
1
1
1
tuthienbao.com
20
r
: h
ệ số chiết khấu
-
Khả năng sáng suốt của người phân tích là bằng cách nào đó xác định
được toàn lợi ích mà khi dự án được chấp nhận, nếu xác định càng đầy đủ bao
nhiêu thì tính hiệu lực của dự án càng chính xác bấy nhiêu, càng tiếp cận điểm
hiệu quả và điểm cân bằng mà xã hội mong muốn.
Việc phân định chi phí xem ai là người phải chịu thì đơn giản hơn việc xác
định lợi ích. Như đối với nhà máy giấy, đầu tư lắp đặt hệ thống xử lý môi trường
thì tất nhiên chi phí phải do phía chủ đầu tư chịu, cụ thể ở đây là nhà máy.
Đây là bước cơ sở nền tảng cho mọi bước tiếp theo nếu như phân định lợi
ích và thiệt hại không đúng thì sẽ làm giảm hiệu lực của dự án.
21
2.2 Lựa chọn danh mục các dự án thay thế
Bất cứ một dự án nào đưa ra thì cùng với nó sẽ có nhiều dự án thay thế, có
nghĩa là khi dự án không được đạt hiêu quả thì sẽ được thay thế bằng dự án khác
hiệu quả hơn.
Về mặt kĩ thuật mỗi dự án đưa ra khả năng kĩ thuật để hình thành dự án
khác nhau do đó hiệu quả sẽ khác nhau, việc thay đổi 1 dự án thay thế tức là thay
đổi toàn bộ quá trình CBA. Do đó vấn dề đặt ra đối với người làm CBA là phải
liệt kê được tất cả các phương án có thể có và trong mỗi phương án đưa ra phải
phân tích CBA một cách đầy đủ nhất, để từ đó người ra quyết định có cơ sở xem
xét và đi đến quyết định lựa chọn phương án tốt nhất.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng phương án được lựa chọn nhiều khi không
thể dám chắc được đó là phương án tối ưu nhất hay không, bởi vì trong quá trình
đi vào hoạt động của dự án thì còn có những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, mà bản
thân các nhà phân tích cũng khó có thể dự đoán được vì nó không theo một quy
luật thuần tuý nào.
2.3 Liệt kê các ảnh hưởng tiềm năng và chỉ số đo lường
Các ảnh hưởng tiềm năng là các ảnh hưởng mà chúng ta chưa thể thấy hết
được khả năng xuất hiện của nó mà nó chỉ xuất hiện trong tương lai khi dự án đã
đi vào hoạt động. Do đó, nó sẽ làm sai lệch kết quả chúng ta tính toán, nếu như
nhân thường phản ứng lại tỷ lệ khấu hao có tính xã hội.
2.7 Tổng hợp các lợi ích và chi phí.
Giá trị sử dụng NPV, tuy nhiên không thể chỉ lấy chỉ số này làm căn cứ
mà cần phải sử dụng thêm chỉ số IRR để lựa chọn phương án có tính tổng hợp.
Như đã trình bày, có nhiều loại dự án khác nhau vì vậy khi phân tích phải cân
23
nhắc, lựa chọn những chỉ số nào cho thích hợp đó là điều quan trọng. Ba đại
lượng NPV, IRR, B/C có mối liên hệ khăng khít với nhau.
2.8 Phân tích độ nhậy
Xác định khả năng thay đổi trong quá trình vận hành CBA khi một
phương án lựa chọn. Trong mọi trường hợp, chúng ta phải có điểm dừng, một sự
thừa nhận hay bằng lòng vì không có một dự án nào có tính tuyệt đối.
2.9 Tiến cử phương án đem lại lợi ích xã hội cao nhất.
Là kết quả của 8 bước trên và các quyết định đưa ra chứng tỏ nguồn lực
phân bổ là hiệu quả nhất.
III/ VẬN DỤNG CBA ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC LẮP ĐẶT
HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO NHÀ MÁY GIẤY.
Vấn đề ô nhiễm không khí, tiếng ồn, bụi, cũng thường gặp ở các nhà
máy giấy hiện nay nhưng thường chưa cấp bách so với vấn đề nước thải, vấn đề
cần tập trung xử lý ở đây là nước thải công nghiệp. Nguyên nhân chính của việc
này là vấn đề xử lý môi trường chưa được đặt ra đúng mức, mặt khác khi môi
trường đã bị ảnh hưởng nặng nề thì các cơ sở này không đủ kinh phí để tiến hành
xây dựng hệ thống xử lý. Muốn giải quyết được vấn đề ô nhiễm nước thải
nghành giấy, phải giải quyết đồng thời bằng 2 con đường:
- Lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp theo hướng sản xuất sạch
(cleaner production)
- Xử lý triệt để nước thải (The end of pipe techonology).
Và kết quả đạt được sau khi đã xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải
là phải đạt tiêu chuẩn thải của Việt Nam (được quy định chi tiết trong TCVN