Tiểu luận Vấn đề thời cơ trong cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam - Pdf 27

Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
ST
T
HỌ VÀ TÊN MSSV NHIỆM VỤ
NHÓM ĐÁNH
GIÁ NHIỆM VỤ
1 Nguyễn Thị Ngọc Yến ( NT) 152523855
Tìm hiểu phần 3
vận dụng
100 %
2 Trần Thị Mỹ 152523849
Tìm hiểu phần 3
vận dụng
100 %
3 Nguyễn Thị Bích Thủy
Tìm hiểu phần 3
vận dụng
100 %
4 Dương Vũ Nhật Miên
Viết nội dung phần
mở bài & kết luận
95%
5 Lương Thị Bích Nhung
Tìm hiểu phần 2 a
95%
6 Nguyễn Thị Hồng Loan
Tìm hiểu phần 2 b
90%
7 Nguyễn Trung Tính
Tìm hiểu phần 1 a +

một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng
và việc chớp đúng thời cơ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn, nó
đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm
và của phát xít Nhật đồng thời nó còn lật đổ chế độ Phong kiến tồn tại ngót
ngàn năm trên đất nước ta, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mở
ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Cách mạng tháng Tám được xem là một sự kiện lịch sử vĩ đại của dân
tộc Việt Nam, cũng như để lại nhiều bài học quý giá cho sự phát triển về
kinh tế, văn hóa, chính trị,…của đất nước ta sau này, để tìm hiểu kỹ hơn về
việc chớp đúng thời cơ trong cách mạng tháng 8 năm 1945 và sự ảnh hưởng
của thời cơ đến nước ta hiện nay, nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài: “
Vấn đề thời cơ trong cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam”. Do sự
hạn hẹp về kiến thức và tính phức tạp của đề tài nên trong quá trình làm bài
không tránh khỏi những hạn chế và sai sót, mong nhận được sự đóng góp ý
kiến từ cô giáo.
Trang
3
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
II/ NỘI DUNG
1/ Lý luận chung về vấn đề thời cơ :
a/ Khái niệm thời cơ :
Thời cơ là một hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gian ngắn, là
tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất có lợi nhất cho việc
phát huy mọi sức mạnh, đảm bảo một việc nào đó có thể tiến hành để giành
thắng lợi. Thời cơ, đó là một thành tố khách quan, hoàn toàn không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của một cá nhân nào, của một tổ chức chính trị
nào. Nó xuất hiện một cách bất ngờ và tồn tại trong một khoảng thời gian
nhất định. Nói như vậy không có nghĩa là thời cơ là một cái gì đó không thể
biết trước được, không thể đoán định được. Tuy nhiên, điều lý thú là ở chỗ,
nó có mà không có và ngược lại. Vì thế, không phải ai cũng có thể dự báo

phần thắng nghiêng về Liên Xô và phe dân chủ. Đó là một khả năng làm
xuất hiện thời cơ có lợi cho cách mạng nhiều nước, trong đó có cách mạng
nước ta. Nhận thức được tầm quan trọng của thời cơ, Đảng ta đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chi Minh đã sớm đưa ra những quan điểm, Người viết: “Đằng
sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục,
đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu
tú phải thúc đẩy cho thời cơ đến mau”. Với sự phân tích chính xác, khoa học
mâu thuẫu trong hàng ngũ kẻ thù, đã dự báo cuộc đảo chính của Nhật ở
Đông Dương và vạch ra những kế hoạch hành động khi tình hình mới tới.
Và sau khi phân tích mâu thuẫn ngày càng tăng trong hàng ngũ kẻ thù,
Trường Chinh đã đi tới một nhận định đúng đắn là, sớm hay muộn cuộc đấu
súng giữa chúng với nhau nhất định sẽ xảy ra: “Sự xung đột giữa Nhật -
Pháp ngày thêm sâu sắc. Cho nên Nhật gấp rút”. Đảng và phong trào cách
mạng của quần chúng chủ động đón nhận. Vì thế, khi cuộc đảo chính của
Nhật nổ ra vào đêm 9-3-1945, Đảng ta không bị động trước thời cuộc mà
trái lại, chủ động vạch ra những nhiệm vụ chiến lược sát đúng để đưa cách
mạng tiếp tục tiến lên. Ngay trong đêm Nhật - Pháp bắn nhau, từ chập tối,
Trang
5
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường
Chinh, đã khai mạc tại chùa Đồng Kỵ, Bắc Ninh. Sợ bị lộ, Hội nghị chuyển
sang làng Đình Bảng họp tiếp. Trên đường đi, bỗng nghe tiếng súng nổ dồn
từ phía Hà Nội, các đồng chí dự Hội nghị dồn bước tới địa điểm mới, họp
tiếp và ra ngay Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
vào ngày 12-3-1945. Bản Chỉ thị đó lập tức được chuyển tới nhà in bí mật
của Đảng tại làng Tráng Việt, huyện Mê Linh, Hà Nội. Ông Nguyễn Lương
Hoàng phụ trách nhà in, đã cấp tốc cho in hàng nghìn bản và theo những
đường giây bí mật chuyển đi các nơi. Bản Chỉ thị nhận định, cuộc đảo chính
của Nhật ở Đông Dương đã tạo ra cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc,

Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”
(2)
.
Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân
Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả
nước. Như trên đã nói, thời cơ xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời
gian nhất định. Trong Cách mạng Tháng Mười Nga, thời cơ chỉ tồn tại trong
vòng 24 giờ. Còn trong Cách mạng Tháng Tám, thời cơ tồn tại một cách
khách quan trong vòng hai mươi hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố
đầu hàng (ngày 15-8-1945) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí
giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pô-xđam (ngày 5-9-1945).
Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày
15-8-1945 và sau ngày 5-9-1945 đều không có khả năng thành công, bởi
trước ngày 15-8-1945, quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9-1945, trên đất
nước có nhiều kẻ thù (từ vĩ tuyến 16 trở ra là quân Tưởng - Mỹ và sau đó là
những kẻ “theo đóm ăn tàn”, và từ vĩ tuyến 16 trở vào là quân Anh và sau nó
là quân Pháp trở lại xâm lược). Chỉ có thể giành chính quyền thắng lợi trong
ngưỡng thời gian khắc nghiệt này.Vì thế, vào tháng 7-1945, cho dù đang bị
Trang
7
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
ốm giữa rừng Tân Trào, khi biết tin phát xít Đức-Ý đã bại trận trên chiến
trường Châu Âu. Ở Châu Á, phát xít Nhật đang trên đường sụp đổ, Bác Hồ
vẫn chỉ thị cho các đồng chí của mình: “ Lúc này, thời cơ đã đến, dù hy sinh
tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho
được độc lập!”. Sau đó hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân
Trào từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945 đã đi đến kết luận: “Những điều kiện
khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi”, vì vậy, phải “Kịp thời hành động,
không bỏ lỡ cơ hội”, khẩn trương “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng,
không kể thành phố hay thôn quê, thành lập uỷ ban nhân dân ở những nơi

Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Như vậy, mọi việc được chúng ta hoàn tất
trước ba ngày để ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí
giới quân Nhật trên đất nước ta.
b/ Kết quả của việc chớp đúng thời cơ của Đảng ta
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định
đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp
thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây
là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách
mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi.
Cách mạng tháng Tám đã nêu cao tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam,
một dân tộc có truyền thống lâu đời chiến đấu vì độc lập tự do, quyết không
chịu làm nô lệ. Là kết quả của tám mươi năm đấu tranh không ngừng của
dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp. Nó cũng là một sự kiện lịch sử vĩ
đại nhất của nước ta từ khi Quang Trung đánh đuổi quân xâm lược Mãn
Thanh (1789) đến nay. Thật thế, suốt trong thời gian ấy, không có một cuộc
Trang
9
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
vận động nào thể hiện tinh thần anh dũng, quật cường và sự đoàn kết, thống
nhất của dân tộc Việt Nam bằng Cách mạng tháng Tám. Không những giật
tung được xiềng xích của bọn đế quốc phát-xít, Cách mạng tháng Tám lại lật
nhào được chế độ quân chủ thành lập trên đất nước ta hàng chục thế kỷ, làm
cho nước Việt Nam thành một nước cộng hòa dân chủ, đưa dân tộc Việt
Nam lên hàng các dân tộc tiên phong. Giá trị lớn lao của Cách mạng tháng
Tám chính ở chỗ đó. Và cụ Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, Người lãnh đạo Cách mạng tháng Tám, rất xứng
đáng là anh hùng dân tộc của nước ta. Cách mạng tháng Tám tỏ rõ tinh thần
chống phát-xít và yêu chuộng dân chủ và hòa bình của nhân dân Việt Nam.

nhân dân Việt Nam. Dù người ta muốn hay không muốn, Cách mạng Việt
Nam đã thành một bộ phận của cuộc đấu tranh vĩ đại của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhân dân Việt Nam
đã hiểu nhiệm vụ quốc tế của mình trong thời kỳ sau chiến tranh này. Nó
quyết hoàn thành nhiệm vụ ấy, bất chấp mọi trở lực.
3/ Vận dụng.
Hơn sáu thập kỷ đã trôi qua, bài học về nhận định thời cơ và chớp thời cơ
cách mạng của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám 1945, vẫn còn nguyên
giá trị thời sự và đi cùng năm tháng. Nếu như trước đây, trong Cách mạng
Tháng Tám, Ðảng chủ trương xây dựng lực lượng, chủ động đón thời cơ
khởi nghĩa giành chính quyền,thì ngày nay, nhận định về thời cơ trong bối
cảnh tình hình trong nước và quốc tế đã có những thay đổi căn bản, vấn đề
hội nhập, toàn cầu hóa nổi lên như một xu thế vận động tất yếu của thế giới
hiện đại. Cho dù khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng nếu biết
tranh thủ thời cơ, tận dụng những yếu tố thuận lợi, những thời cơ nảy sinh từ
cuộc khủng hoảng, nhất định chúng ta sẽ vượt qua thách thức đưa đất nước
Trang
11
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
tiếp tục tiến lên, vững bước trên con đường Ðổi mới. Ðể nắm bắt được thời
cơ, vượt qua thách thức, trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển
mạnh mẽ, thời đại phát triển kinh tế tri thức, Ðảng ta chỉ ra rằng, cùng quyết
tâm chính trị, thì yếu tố con người, nguồn lực con người có tri thức là yếu tố
quyết định.Trên nền tảng ổn định chính trị, Đảng ta đề ra đường lối đối
ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, theo phương châm “Việt Nam
muốn là bạn của tất cả các nước”. Đường lối đối ngoại cởi mở đó đã tạo ra
những cơ hội tốt đẹp, trong đó có việc thu hút vốn của các nước vào Việt
Nam, nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vị trí của Việt Nam
trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp
quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và vào ngày 7-11-

tranh thủ tối đa những cơ hội thuận lợi, vượt qua mọi thách thức, phát triển
đất nước. Đó là thành tựu nhiều mặt của cuộc cách mạng khoa học, công
nghệ trên thế giới. Đó là thời kỳ chấm dứt chiến tranh lạnh, đối thoại thay
cho đối đầu, là quá trình toàn cầu hóa, hợp tác và hội nhập quốc tế. Đảng và
Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn,
đối tác tin cậy của các nước, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng
quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, nhờ vào
việc vận dụng thờ cơ trong cách mạng Tháng Tám vào thực tế ngày nay.
Trước hết, nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực
tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý. Những năm đầu sau ngày giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời
Trang
13
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá,
lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn
mới, nền kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước tình hình
trên, Đảng xác định cần tiến hành công cuộc đổi mới, chỉ rõ thách thức lớn
nhất của cách mạng nước ta là nền kinh tế từ điểm xuất phát rất thấp lại lâm
vào khủng hoảng kéo dài, vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nhiệm
vụ dân tộc, vừa làm nghĩa vụ quốc tế, vấn đề cấp bách là ổn định, cải thiện
đời sống nhân dân, sớm đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) khởi xướng đã
mở đầu cho thời kỳ mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX nước ta lại chịu tác
động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
các nước Đông Âu và Liên Xô. Trong nước, có không ít ý kiến dao động,

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Chiến lược
xác định: xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ đó, tình hình kinh tế - xã hội dần có những biến chuyển mới, đời sống
người dân có những cải thiện đáng kể, chính trị, xã hội tiếp tục ổn định, quốc
phòng, an ninh được giữ vững, đường lối đối ngoại Việt Nam muốn là bạn
với tất cả các nước trên thế giới đã chủ động, tích cực mở rộng quan hệ đối
ngoại giúp tăng cường, củng cố lòng tin của nhân dân về vai trò lãnh đạo
của Đảng. Sự kết thúc Chiến tranh lạnh, đối thoại thay cho đối đầu, sự mở
rộng liên kết, hợp tác giữa các nước, các khu vực, phát triển thị trường thế
giới và thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đã tạo
điều kiện cho nhiều nước ổn định và phát triển. Đó là cơ hội thuận lợi cho
Việt Nam phát triển ở thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, tiến hành chính sách đối
Trang
15
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
thoại, hợp tác và hội nhập quốc tế: khôi phục quan hệ bình thường với Trung
Quốc (năm 1991), bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ (năm 1995), gia
nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á (năm 1995). Sau mười năm đổi mới,
năm 1996, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và hoàn thành
những nhiệm vụ đặt ra cho chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Đó là
cơ hội thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở
rộng hơn quan hệ hợp tác với các nước và tích cực, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế. Những năm cuối của thế kỷ XX đất nước phải vượt qua thách
thức mới do khủng hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực 1997 - 1998,
những khó khăn trong nước và đã ngăn chặn có hiệu quả đà suy giảm về
kinh tế.
Thứ ba, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển
phù hợp. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng về đường lối đổi mới, phát triển
đất nước, làm cho sản xuất "bung ra" trong điều kiện đời sống nhân dân gặp

giới lâm vào khủng hoảng và suy thoái kinh tế nặng nề và kéo dài suốt các
năm 2008, 2009 đã tác động tiêu cực không chỉ đến các nền kinh tế của các
nước phát triển hàng đầu mà cả với các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam đứng trước những khó khăn thách thức
mới: Thị trường xuất khẩu thu hẹp, vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, lạm
phát tăng, năm 2008 lên tới trên 19%, lao động thiếu việc làm, nhiều doanh
nghiệp có nguy cơ phá sản, giá cả tăng, đời sống khó khăn Để chủ động
vượt qua tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, ngày 4-4-2008,
Bộ Chính trị đã có kết luận số 22 và Chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp
nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Hội nghị Trung ương 7 khoá X (tháng 7-2008) đã đề ra những chủ trương
lớn để khắc phục khủng hoảng. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 10-2008) đã
Trang
17
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
đánh giá và đề ra giải pháp toàn diện, đưa ra Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 4
thảo luận và quyết định. Chính phủ có chính sách hỗ trợ có hiệu quả cho các
doanh nghiệp, các ngành, các thành phần kinh tế, phát triển mạnh thị trường
trong nước. Với những quyết sách đó, kinh tế - xã hội của đất nước ngày
càng có những bước phát triển mới; nền văn hoá dân tộc được duy trì và
phát huy, thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực cho sự phát triển; quốc
phòng, an ninh được giữ vững; đời sống nhân dân ngày càng ổn định, ấm no;
mối quan hệ hợp tác của nước ta với nhiều nước trên thế giới được củng cố
thêm, tăng cường, tạo nền tảng cho sự phát triển hoà bình, ổn định trong khu
vực và trên thế giới. Năm 2008, Việt Nam đạt thu nhập đầu người trên 1.000
USD vượt qua ngưỡng của nước nghèo, kém phát triển là cơ hội tốt để phát
triển nhanh để có thu nhập 2.000 USD vào năm 2015, 3.000 USD vào năm
2020. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng của đất nước không ngừng
phát triển bảo đảm cho sự phát triển nhanh và vững chắc của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. ị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về

dụng thời cơ một cách thích hợp, đẩy lùi, hạn chế những nguy cơ, thách
thức, để nhân dân tin tưởng và đoàn kết, nhất trí một lòng thi đua thực hiện
tốt các chủ trương, đường lối của Đảng. Đảng đề cao sự phát huy cao độ nội
lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong điều kiện mới, tận dụng và nắm bắt thời cơ, cơ hội một
cách nhanh chóng, sáng tạo, lấy đó làm nền tảng đẩy lùi và hạn chế các nguy
cơ, thách thức. Sau khi gia nhập WTO, Đảng và Nhà nước động viên toàn
dân phát huy nội lực, tranh thủ cơ hội mới để phát triển và tích cực, chủ
động đẩy lùi nguy cơ. Nước ta có nội lực rất to lớn (tài nguyên, đất đai,
rừng, biển, sức lao động). Kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển là thế mạnh.
Dân số đang ở thời kỳ dân số vàng, có hơn 40 triệu lao động trẻ, khỏe, nếu
Trang
19
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
được đào tạo tạo nên nguồn nhân lực có trình độ cao sẽ tạo nên sức phát
triển to lớn cho đất nước. Năm 2008, Việt Nam đạt thu nhập đầu người trên
1.000 USD vượt qua ngưỡng của nước nghèo, kém phát triển là cơ hội tốt để
phát triển nhanh để có thu nhập 2.000 USD vào năm 2015, 3.000 USD vào
năm 2020. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng của đất nước không
ngừng phát triển bảo đảm cho sự phát triển nhanh và vững chắc của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nền kinh tế nước ta đã xuất
hiện những dấu hiệu tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiềm
chế, an sinh xã hội được giữ vững. Một số lĩnh vực kinh tế sản xuất và kinh
doanh đã phục hồi trở lại. Đứng trước thời cơ mới xuất hiện trong làm ăn về
kinh tế như trên, các ngành kinh tế, các nhà doanh nghiệp, các cấp ủy đảng
và chính quyền các cấp cần quan tâm hơn nữa tạo mọi điều kiện để cho các
doanh nghiệp có điều kiện để bứt phá nhằm hoàn thành kế hoạch sản xuất,
kinh doanh năm 2009. Cùng với việc tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp,
các chủ thể sản xuất kinh doanh có nguồn vốn, vật tư, đủ sản xuất và kinh
doanh, nhất là các đơn vị làm hàng xuất khẩu, thì một vấn đề có tính cấp

gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là
13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%. Năm 2010, chúng ta hoàn toàn
có khả năng đạt thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD và tăng
trưởng kinh tế khoảng 6,5%.
Gần một phần tư thế kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta đã tận dụng được những cơ hội thuận lợi để phát triển đất nước,
đồng thời cũng chủ động vượt qua nhiều thách thức, khủng hoảng chính trị,
kinh tế, tài chính của thế giới để giữ vững ổn định và tiếp tục phát triển về
mọi mặt. Sự kế thừa và vận dụng sáng tạo bài học về chớp thời cơ, đẩy lùi
Trang
21
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
nguy cơ từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vẻ vang của Đảng ta trong những
năm qua đã, đang và sẽ luôn là bài học kinh nghiệm quý báu cho bước
đường phát triển đất nước ta trong thời kỳ hội nhập ngày nay. Và hiện nay,
đã tiến hành xong Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở, đang tiến hành Đại hội đảng
bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI vào đầu năm
2011. Đại hội XI có ý nghĩa trọng đại, đề ra đường lối tiếp tục nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo tiền đề vững chắc để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại.
Trang
22
Đường lối CMĐCS Việt Nam Nhóm 2 – K15QNH5
KẾT LUẬN
Dân tộc Việt Nam đã viết lên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến
công chống xâm lược và chống ách thống trị của giặc ngoại xâm, trong đó
cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất,
đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Sự thành công của cách

1. Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3.
2. Một số chuyên đề lịch sử đảng.
3. Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có chỉnh
sửa bổ sung).
II/ Nguồn từ internet
1. />tam.html
2. />id=168201073541
3. />4. />co_id=30257 & cn_id=474112#
5. & ndid=4834
6. />option=com_content & task=view & id=1064 & Itemid=69
7. />8. />m_quy_tu_Cach_mang_Thang_Tam.aspx
9.

• Chú giải:
(1) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 7, tr
100
(2) Văn kiện đã dẫn, t 3, tr 140-141
Trang
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status