VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA
ĐẢNG VỀ CễNG TÁC DÂN TỘC TỪ 1986 ĐẾN 2005
1.1. Vị trớ, vai trũ của cụng tỏc dõn tộc trong cỏch mạng Việt Nam.
1.1.1. Một số khỏi niệm về dõn tộc.
Dõn tộc là một cộng đồng người cựng sinh sống ổn định trong một khu vực
nhất định, cú chung tiếng núi, phong tục tập quỏn, cú chung đời sống kinh tế, văn
hoỏ và tõm lý xó hội. Mặt khỏc dõn tộc cũn được hiểu là quốc gia dõn tộc trong
trường hợp này, dõn tộc được hiểu là một cộng đồng người cú chung lónh thổ, cú
chung tiếng núi.
Trong quốc gia đa dõn tộc, dõn tộc chủ thể là dõn tộc chiếm đa số hoặc tuyệt
đại đa số dõn cư, cũn dõn tộc thiểu số thường là những cộng đồng ớt người cựng
sinh sống trong một khu vực cú chung huyết thống, cú chung một ngụn ngữ, văn
hoỏ, phong tục tập quỏn, tư tưởng, tõm lý và trỡnh độ phỏt triển.
Khỏi niệm dõn tộc cũn thể hiện được hiểu theo một nghĩa rộng hơn.
Một là, những cộng đồng người được hỡnh thành qua cỏc giai đoạn lịch sử
khỏc nhau cú trỡnh độ phỏt triển khỏc nhau như dõn tộc nguyờn thủy, dõn tộc cổ
đại, dõn tộc cận hiện đại.
Hai là, Những cộng đồng người cú chung văn hoỏ, ngụn ngữ và sinh sống
trong những vựng rộng lớn vượt qua biờn giới quốc gia như dõn tộc Ả Rập, dõn
tộc Mỹ La Tinh, dõn tộc Chõu Phi.
Ba là, Những cộng đồng người tuy cựng sinh sống trong cựng một lónh thổ
nhưng cú nguồn gốc khỏc nhau như dõn tộc bản địa, dõn tộc du mục, dõn tộc ngoại
lai.
Bốn là, Những trường hợp khỏc, từ dõn tộc được hiểu theo nghĩa rất rộng như
phong trào giải phúng dõn tộc, xung đột dõn tộc, truyền thống dõn tộc, văn hoỏ
dõn tộc, CSDT, chủ nghĩa dõn tộc. Trờn thế giới hiện nay xu hướng tư tưởng của
chủ nghĩa dõn tộc và kốm theo đú là mõu thuẫn dõn tộc, xung đột dõn tộc đang đột
phỏ và đang đe doạ sự ổn định và hoà bỡnh ở nhiều khu vực trờn phạm vi toàn
cầu. Bờn cạnh sự bựng nổ của xu hướng dõn tộc. Cực đoan này, trờn thế giới
đương đại đang diễn ra hai quỏ trỡnh dõn tộc đỏng chỳ ý. Thứ nhất, sự hội nhập và
giao lưu kinh tế, văn hoỏ giữa cỏc dõn tộc; trong tiến trỡnh này quan hệ dõn tộc và
đất và quyền tự trị khỏ lớn. Nhà nước Trung ương tập quyền sớm và là người chủ
sở hữu tối cao về ruộng đất, búc lột tụ thuế và lao dịch đối với cỏc làng xó. Bờn
cạnh đú chế độ tư hữu ruộng đất ra đời và ngày càng phỏt triển dẫn đến sự ra đời
một tầng lớp địa chủ và tầng lớp tiểu nụng.
Từ thế kỷ XV, chế độ phong kiến thỳc đẩy sự phỏt triển mạnh mẽ chế độ tư
hữu ruộng đất của kinh tế địa chủ và kinh tế tiểu nụng, của quỏ trỡnh phong kiến
hoỏ sõu sắc cơ cấu cụng xó nụng thụn. Vào đầu thế kỷ XIX cỏc loại đất cụng của
làng xó nụng thụn. Vào đầu thế kỷ XIX cỏc loại đất cụng của làng, xó chỉ cũn 19%
trong lỳc ruộng đất của tư tăng lờn 81%.
Trong chế độ đú khụng cú giai đoạn phỏt triển kinh tế lónh đạo với quan hệ
lónh chỳa- nụng nụ, khụng cú tỡnh trạng cỏt cứ kiểu hầu quốc, cụng quốc xu
hướng cỏt cứ dựa trờn nền tảng kinh tế tự nhiờn và lợi ớch của một số thổ hào, tự
trưởng địa phương cú lỳc xảy ra như loạn 12 sứ quõn thời Ngụ; cuộc tranh chấp
của một số thổ hào cuối đời Lý, nhưng nhanh chúng bị dẹp tan, chế độ trung ương
tập quyền và quốc gia thống nhất sớm được xỏc lập và củng cố vững vàng.
Như vậy Việt Nam khụng trải qua thời kỳ phỏt triển của chế độ chiếm hữu nụ
lệ và cỏc chế độ phong kiến cú những đặc điểm đặc thự khỏc với chế độ phong
kiến phương Tõy đó tạo ra những yếu tố thuận lợi cho việc hỡnh thành sớm dõn
tộc Việt Nam.
Hai là, Yờu cầu của cuộc đấu tranh trinh phục thiờn nhiờn, phỏt triển nụng
nghiệp trồng lỳa nước.
Việt Nam là một nước nhiệt đới giú mựa, thiờn nhiờn đa dạng phong phỳ
nhưng cũng rất khắc nghiệt. Vỡ vậy, nhõn dõn ta bao đời nay phải đấu tranh chống
lại mối đe doạ của thiờn tai như: lũ lụt, hạn hỏn, mưa bóo, sõu bệnh….
Nền kinh tế Việt Nam vốn là nền kinh tế nụng nghiệp trồng lỳa nước, cho nờn
phải tổ chức xõy dựng những cụng trỡnh thuỷ lợi, trị thuỷ bảo đảm tưới nước, tiờu
nước cho cõy lỳa như đắp đờ, đắp đập, đào kờnh mương dẫn nước.
Trong lịch sử Việt Nam từ khi Nhà nước đầu tiờn hỡnh thành vào những năm, thế
kỷ trước Cụng nguyờn như Nhà nước Văn Lang- Âu lạc. Từ thế kỷ X, đặc biệt là
trong cỏc thế kỷ XI- XV dưới cỏc Triều Lý, Trần, Lờ, cụng việc đắp đờ làm thuỷ lợi
cũn được phản ỏnh đậm nột trong cỏc truyền thuyết dõn gian.
b) Thời kỳ chống chủ nghĩa bành trướng của cỏc đế chế Trung Hoa từ Thế kỷ
III Trước Cụng nguyờn đến Thế kỷ XVIII. Trong lịch sử Trung Hoa, chủ nghĩa
bành trướng Đại Hỏn ra đời rất sớm từ thời Tõy Chu (1050-771 TR. C.N). Trung
Quốc thành một đế chế mạnh ở Phương Đụng kể từ nhà Tần. Tất cả đế chế Trung
Hoa từ nhà Tần (221-207 Tr.C.N), đến cỏc nhà Hỏn (206 Tr. C.N- 220), nhà Tuỳ
(581-618), nhà Đường (618-907), nhà Tống (960-1279) nhà Nguyờn (1271-1368),
nhà Minh (1368-1644), nhà Thanh (1644-1911) đều xõm lược Việt Nam, cú đế chế
xõm lược tới hai, ba lần và phong kiến phương Bắc đụ hộ đất nước ta hàng thế kỷ.
Trước thảm hoạ ngoại xõm, cỏc dõn tộc trong cộng đồng dõn tộc Việt Nam
miền xuụi cũng như miền nỳi, dõn tộc đa số cũng như thiểu số đó đoàn kết bờn
nhau liờn tục đứng lờn chống giặc ngoại xõm giữ nước.
c) Thời kỳ chống chủ nghĩa đế quốc từ 1858-1975.
Trong hơn hai thế kỷ, Việt Nam phải liờn tiếp chiến đấu chống đế quốc Phỏp,
phỏt xớt Nhật, đế quốc Mỹ xõm lược. Dưới sự lónh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam, nhõn dõn ta đó lần lượt đỏnh thắng chủ nghĩa thực dõn cũ và chủ nghĩa thực
dõn mới giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc.
Trong thời kỳ này, nhõn dõn ta cũn phải kết hợp đối phú với nhiều hành động xõm
lược và can thiệp của những chớnh quyền mang nhiều tham vọng bành trướng như cuộc
xõm nhập của hàng vạn quõn Thanh vào Bắc Kỳ (1873-1874), sự can thiệp của 20 vạn
quõn Tưởng ngay sau khi Cỏch mạng Thỏng 8/ 1945 thành cụng…
Từ khi lập nước đến nay, Việt Nam liờn tiếp phải chống ngoại xõm. Từ thế kỷ III
Tr.C.N đến 1975 trong vũng 22 thế kỷ Việt nam đó phải tiến hành 15 cuộc khỏng chiến
chống ngoại xõm lờn đến 12 thế kỷ, chiếm quỏ nửa thời gian lịch sử {25, 21}.
Đối với nhiều nước, nhõn tố chống ngoại xõm chỉ tỏc động những nhất định,
cũn với Việt Nam, nạn ngoại xõm đe doạ thường xuyờn, vỡ Việt Nam là một nước
nhỏ tồn tại bờn cạnh một đế chế khổng lồ mà giai cấp cầm quyền ở đõy luụn
mang tham vọng bành trướng bỏ quyền. Đồng thời, Việt Nam cú vị trớ chiến lược
rất quan trọng đối với khu vực Đụng Nam Á. Việt Nam luụn là mục tiờu xõm lược
của những thế lực phản động khỏc nhau. Cho nờn dựng nước, đi đụi với giữ nước
suốt quỏ trỡnh dựng nước và giữ nước và giữ vai trũ rất quan trọng trong quỏ trỡnh
hỡnh thành và phỏt triển của dõn tộc Việt Nam.
Do những điều kiện sinh sống và biến đổi trong quỏ trỡnh lịch sử, cỏc thành
phần dõn tộc Việt Nam cư trỳ xen kẽ nhau, khụng cú địa bàn cư trỳ và lónh thổ
riờng. Do vậy, cú nhiều ảnh hưởng lẫn nhau trong quỏ trỡnh giao tiếp ngụn ngữ,
giao lưu văn hoỏ cú ảnh hưởng tới quỏ trỡnh hỡnh thành phỏt triển dõn tộc. Mặt
khỏc, mỗi thành phần dõn tộc đều cú sắc thỏi riờng về văn hoỏ ngụn ngữ… Nhưng
khi gia nhập vào cộng đồng dõn tộc Việt Nam đều gắn bú với nhau tạo nờn sự
thống nhất trong một quốc gia thống nhất.
Với những đặc điểm trờn, trong quỏ trỡnh vận động của lịch sử đó tỏc động
lẫn nhau, tạo ra những điều kiện, những nhõn tố thuận lợi cho quỏ trỡnh hỡnh
thành và phỏt triển của dõn tộc Việt Nam.
Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của dõn tộc Việt Nam
Kết quả nghiờn cứu khoa học cho thấy Việt Nam ở vào một trong những khu
vực loài người xuất hiện rất sớm, là một trong những cỏi nụi của loài người. Ở
nước ta đó phỏt hiện được răng người vượn ở Bỡnh Gia (Lạng Sơn) và nhiều cụng
cụ thuộc buổi đầu thời kỳ đồ đỏ cũ ở nỳi Đọ (Thanh Hoỏ). Đú là dấu vết xưa cỏch
chỳng ta hiện nay khoảng mấy chục vạn năm.
Tiến lờn một bước, con người bước vào chế độ thị tộc nguyờn thuỷ cỏch
chỳng ta hiện nay khoảng ba, bốn vạn năm. Dấu tớch con người cựng với những
hoỏ thạch động vật cổ bước đầu phỏt hiện được hang Hựm (Yờn Bỏi), hang
Thung Lang (Ninh Bỡnh).
Truyền thống kỹ thuật và văn hoỏ đồ đỏ Việt Nam được tiếp nối với cỏc nền
văn hoỏ Hoà Bỡnh (thuộc thời đại đồ đỏ giữa), Sơn Vi và Bắc Sơn (thuộc buổi đầu
thời đại đồ đỏ mới) cỏch ngày nay khoảng một vạn năm.
Cựng những thị tộc, bộ lạc ở miền nỳi, trờn đất Việt Nam lỳc đú cũn cú những
tập đoàn người nguyờn thuỷ khỏc sinh sống ở miền ven biển Đụng. Di tớch văn
hoỏ Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) đó chứng minh điều đú.
Với những di tớch văn hoỏ trờn đó khẳng định rằng trờn mảnh đất Việt cổ xưa
đó cú những cư dõn bản địa sinh sống. Chủ nhõn của nền văn hoỏ Hoà Bỡnh, Bắc
văn hoỏ để quần tụ nhau lại, dựa vào nhau để sinh tồn.
Mặt khỏc, cuộc sống của họ diễn ra hàng ngàn năm từ đời này qua đời khỏc trong
hoàn cảnh địa lý cơ bản giống nhau và điều kiện lịch sử giống nhau, do vậy những nột
khỏc biệt của từng cộng đồng trở nờn chủ yếu và giữa những cộng đồng nảy sinh những
nột cơ bản giống nhau về nhõn chủng, ngụn ngữ, văn hoỏ và nhất là ý thức tự giỏc chung
sống trong một quốc gia dõn tộc. Về nhõn chủng họ đều thuộc tiểu chủng Mụng-gụ-Lụit
phương Nam. Về văn hoỏ, họ cựng cỏc cư dõn Đụng Nam Á đó tạo nờn một trung tõm
văn minh cổ đại rực rỡ với những nột riờng biệt.
Sự hợp quần, hợp sức của cỏc cư dõn trong buổi đầu được đỏnh dấu bằng sự cố kết
giữa họ với nhau trong một cộng đồng quốc gia dõn tộc thống nhất (Văn Lang- Âu Lạc)
mở đầu cho một xu thế phỏt triển chủ đạo của toàn bộ lịch sử Việt Nam.
Do nhu cầu trị thuỷ, chống xõm lấn và trao đổi kinh tế, văn hoỏ ngày càng được
đẩy mạnh, giữa cỏc bộ lạc gần nhau về dũng mỏu cú xu hướng tập hợp nhau lại và
thống nhất với nhau, dần dần hỡnh thành nờn Nhà nước đầu tiờn. Lỳc đú trong số cỏc
bộ lạc Việt cú bộ lạc Văn Lang là hựng mạnh lónh thổ của họ từ chõn nỳi Ba Vỡ trải
dài sang chõn nỳi Tam Đảo, ở giữa cú Sụng Hồng chảy qua. Thủ lĩnh bộ lạc Văn
Lang đó thống nhất cỏc bộ lạc Lạc Việt lập ra nước Văn Lang nhà nước đầu tiờn ở
nước ta. ễng xưng vua gọi là Hựng Vương.
Chế độ xó hội của Nhà nước Văn Lang là một chế độ xó hội bắt đầu cú sự
phõn hoỏ giai cấp và mang hỡnh dỏng của một hỡnh thỏi đầu tiờn của Nhà nước.
Đứng đầu nước Văn Lang là vua (Hựng Vương), ngụi vua đó cha truyền con nối.
Dưới vua là tầng lớp quý tộc mang tờn Lạc Hầu, Lạc Tướng.
Vào nửa sau thế kỷ III Tr.C.N, Thục Phỏn, thủ lĩnh của người Âu Việt, lập ra
nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương và rời đụ xuống Cổ Loa. Việc rời đụ
xuống miền đồng bằng là biểu hiện sự phỏt triển lớn mạnh của dõn tộc ta tỏ rừ ý
chớ mạnh mẽ, lũng tự tin quyết tõm giữ gỡn đất nước. Với những cụng cụ sản xuất
bằng kim loại, miền đồng tõm giữ gỡn đất nước. Với những cụng cụ sản xuất bằng
kim loại, miền đồng bằng được khai phỏ nhiều. Hai thành phần dõn tộc Lạc Việt
và Âu Việt, miền xuụi và miền nỳi được thống nhất thành nước Âu Lạc.
Nước Âu Lạc ra đời là sự kế tục và phỏt triển cao hơn quốc gia đầu tiờn –
thể hiện ý thức tỡm về nguồn văn hoỏ, văn minh dõn tộc một thời đó phỏt triển rực
rỡ, một chớnh quyền non trẻ, cũn đơn sơ, được xõy dựng nhưng đó mang tớnh chất
của Nhà nước phong kiến tập quyền.
Nửa sau thế kỷ XV chế độ phong kiến tập quyền phỏt triển đến mức thịnh đạt.
Nước Đại Việt là một quốc gia hựng cường ở Đụng Nam Á, địa vị và uy tớn được
nõng cao, nền độc lập được bảo đảm. Trong nước kinh tế và văn hoỏ phỏt triển rực
rỡ. Dưới triều Lờ Thỏnh Tụng (1460-1497) bộ mỏy hành chớnh, tổ chức quõn đội
và hoạt động lập phỏp của Nhà nước đạt tới mức hoàn bị với những thiết chế chặt
chẽ. Điều đú khẳng định những thành quả của dõn tộc Việt Nam trong dựng nước
và giữ nước.
Tuy nhiờn thời kỳ này, cơ sở thống nhất đất nước, thống nhất dõn tộc cũn bị
hạn chế bởi bản thõn chế độ phong kiến. Nhưng cũng từ thế kỷ XV, chế độ phong
kiến tập quyền Việt Nam phỏt triển mạnh mẽ theo chế độ chuyờn chế nặng nề. Xu
thế phỏt triển đú dẫn đến hậu quả làm suy yếu sự thống nhất dõn tộc trong thế kỷ
XVI-XVIII. Cỏc thế lực phong kiến tranh giành quyền bớnh gõy ra tỡnh trạng chia
cắt và nội chiến kộo dài trờn hai thế kỷ…
Để bảo vệ sự thống nhất dõn tộc và cuộc sống bỡnh yờn, nhõn dõn ta liờn tục
nổi dậy chống lại cỏc thế lực phong kiến, suốt thế kỷ XVII-XVIII là thời kỳ chiến
tranh nụng dõn gần như thường xuyờn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra và tiờu biểu
nổi trội hơn cả là cuộc khởi nghĩa của nụng dõn Tõy Sơn (1771) đó tập hợp được
đụng đảo nhõn dõn tham gia. Đến 1786 đó đỏnh tan cỏc thế lực phong kiến cỏt cứ
thống nhất được đất nước và 1789 lại đỏnh tan quõn xõm lược Món Thanh, bảo vệ
toàn vẹn bờ cừi.
Trong thế kỷ XVII- XVIII nền kinh tế hàng hoỏ tiếp tục phỏt triển, làm suy
yếu dần tớnh chất tự nhiờn của nền kinh tế phong kiến. Quan hệ giao lưu hàng hoỏ
tiền tệ giữa một số thành thị, thương cảng với nụng thụn rộng lớn, giữa cỏc vựng
kinh tế, giữa miền xuụi và miền ngược… ngày càng phỏt triển.
Từ thế kỷ XVIII, mầm mống CNTB đó xuất hiện, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX
khi thực dõn Phỏp sang xõm lược nước ta, ngay từ đầu nhõn dõn ta đó anh dũng
đứng lờn chống kẻ thự xõm lược bảo vệ đất nước. Nhưng nhà Nguyễn, một triều