Khóa luận tốt nghiệp Hoàn thiện phân tích tài chính tại công ty cổ phần thương mại dịch vụ Thành Đạt - Pdf 27

1

CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện
tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng,
tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,
thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý
các mục tiêu xã hội.
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình
doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
 Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là
doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ
của công ty.
 Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của
doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
 Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ
sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên
hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty
hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

1.2.2. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong
công tác quản lý tài chính. Việc phân tích các báo tài chính của doanh nghiệp là
quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính
hiện hành cũng như trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng tài chính,
hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai. Trong hoạt động
kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc
loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình
tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp,
khách hàng, các cơ quan nhà nước và cả những người lao động. Mỗi đối tượng lại có
những mối quan tâm khác nhau đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Thang Long University Library
3

Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp,
biết tất cả các thông tin của doanh nghiệp. Việc phân tích tình hình tài chính sẽ đem lại
cái nhìn chính xác về các vấn đề doanh nghiệp đang đối mặt.
Do đó, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm:
 Đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, cân bằng tài chính,
khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của
doanh nghiệp.
 Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế
của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận.
 Cung cấp thông tin cơ sở cho các dự đoán tài chính
 Căn cứ để kiểm tra kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp.
Đối với các chủ đầu tƣ
Chủ đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý

phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn
trả vốn và lãi sẽ tùy thuộc vào khả năng sinh lời này.
Đối với cơ quan nhà nƣớc
Dựa vào các báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phân tích
tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động
tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và
pháp luật quy đinh không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước và khách hàng,…
Đối với ngƣời lao động
Bên cạnh nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được
hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của
doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có
tác động tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động. Ngoài ra trong
một số doanh nghiệp, người lao động còn được tham gia góp vốn mua một lượng
cổ phần nhất định. Như vậy, họ cũng chính là những người chủ doanh nghiệp nên có
quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ
hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của
doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan giúp cho từng đối tượng
lựa chọn và đưa những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.2.3. Tài liệu để phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toàn là một bảng báo cáo tình hình tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó. Thời điểm báo cáo thường được chọn là
thời điểm cuối quý hoặc cuối năm. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng
cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả (nguồn vốn).
Bảng cân đối kế toán luôn đảm bảo nguyên tắc cân bằng theo phương trình kế
toán sau:
Thang Long University Library
5

1.2.3.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh
nghiệp. Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực tài sản và nguồn gốc của
những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh
để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ
6

được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp,
tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp. Những luồng vào ra của tiền và các
khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động
sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ
hoạt động bất thường.
1.2.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình
sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thích
thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp
cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể
và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả
hoạt động kinh doanh.
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập căn cứ vào những số liệu và những tài
liệu sau:
 Các sổ kế toán kỳ báo cáo;
 Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo;
 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo;
 Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước.
Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những thông tin chi
tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinh doanh trong kỳ của
doanh nghiệp.
1.2.4. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Phương pháp phân tích tỷ số thường được sử dụng khi phân tích các nhóm tỷ số về khả
năng thanh toán, cơ cấu vốn, khả năng sinh lời kết hợp với phương pháp so sánh.
Nguồn thông tin được sử dụng từ kế toán – tài chính mang lại sự tin cậy lớn khi phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp để từ đó đưa ra những lựa chọn chính xác nhất.
1.2.4.3. Phương pháp phân tích Dupont
Bản chất của phương pháp phân tích Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh
sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhật trên tài sản ROA, thu nhật sau thuế trên
vốn chủ sở hữu ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với
nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.
Phương pháp phân tích Dupont là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích tài
chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng. Thông qua việc sử dụng phương
pháp phân tích Dupont để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm hiểu được
tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu
đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ
tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lý
doanh nghiệp làm tối ưu hóa cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ
sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

8

Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
X
Doanh thu
Tổng tài sản
Doanh thu
Tổng tài sản

1.2.5.1. Phân tích bảng cân đối kế toán
Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
luôn biến động tăng hoặc giảm thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Khi phân tích cơ
cấu và những biến động của tài sản và nguồn vốn, chúng ta có thể đánh giá được một
cách tổng quát về tình hình đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu và tình hình biến động tài sản
Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như của từng loại tài sản thông qua
việc so sánh từng loại tài sản với nhau và so sánh giữa các năm về cả số tuyệt đối và
tương đối. Qua đó thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh. Ngoài ra, ta cần
quan tâm tới tác động của từng loại tài sản tới quá trình kinh doanh. Cụ thể như sau:
 Sự biến chuyển của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng tới khả năng
ứng phó với khoản nợ ngắn hạn.
 Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng bởi hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Thang Long University Library
9

 Sự biến động của các khoản phải thu chi chịu ảnh hưởng bởi công việc thanh
toán và chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Điều đó ảnh hưởng lớn tới việc quản lý
và sử dụng vốn.
 Sự biến động của TSDH cho thấy quy mô và năng lực sản xuất của
doanh nghiệp.
Xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản đồng thời so sánh tỷ
trọng giữa các năm để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn. Việc đánh giá cơ cấu
vốn cũng phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ trọng TSDH trên
tổng tài sản của doanh nghiệp chứng khoán thường chiếm tỷ trọng khá nhỏ và sẽ tăng
khi doanh nghiệp đầu tư thêm TSDH. Đây là nhân tố ảnh hưởng tới mức độ ổn định
lâu dài của doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu và tình hình biến động nguồn vốn

khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận
động nhằm đưa ra các quyết định quản lý và quyết định tài chính cho phù hợp.
Doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm,
cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Trong
kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. Trong
quá trình hoạt động cũng như hoạt động phân tích tài chính, mẫu báo cáo kết quả kinh
doanh theo quy định của Nhà nước thường chia doanh thu thành nhiều phần khác nhau:
Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: đây là phần doanh thu mà
doanh nghiệp có được nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đối với những
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, giải trí là doanh thu thu được từ hoạt động cung cấp
dịch vụ. Thông thường, phần doanh thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu
của toàn doanh nghiệp.
Các khoản giảm trừ doanh thu: bao gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT tính
theo phương pháp trực tiếp.
Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: là một chỉ tiêu
trung gian. Khoản mục này được xác định dựa trên hiệu số giữa doanh thu từ hoạt
động bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu.
Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu có được từ các khoản tiền lãi (lãi
cho vay; lãi gửi ngân hàng; lãi bán hàng trả góp, trả chậm; lãi đầu tư trái phiếu, cổ
phiếu), cổ tức, thu nhập từ hoạt động đầu tư khác, lãi tỷ giá hối đoái, các khoản chênh
lệch lãi do bán ngoại tệ, chuyển nhượng vốn,…
Thu nhập khác: là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu
nhập này không thuộc các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh có trong giấy phép đăng ký
kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí
Chi phí theo kinh tế học là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được
một hoặc những mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, hay theo phân loại của kế toán tài
Thang Long University Library

thước đo giúp doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư vào công ty. Đứng trên góc độ nhà đầu
tư muốn đầu tư lâu dài vào công ty và muốn có cơ hội quản lý công ty thì con số lợi
nhuận được chia hàng năm là điều mà họ xem xét tới. Còn đứng trên góc độ là một
người cho công ty vay vốn thì học sẽ xem xét và đánh giá thẩm định tình hình tài
chính của công ty dựa chủ yếu vào nguồn lợi nhuận được tạo ra. Lợi nhuận của công
ty được tính toán dựa trên doanh thu trừ đi chi phí, nó là các chỉ tiêu trung gian phản
ánh các giá trị doanh thu, chi phí có mối quan hệ đối ứng với nhau.
12

Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung ứng dịch vụ: được tính toán dựa trên các
khoản doanh thu từ bán hàng và cung ứng dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu
mà công ty ưu đãi cho khách hàng của mình sau đó trừ đi chi phí giá vốn hàng bán
hình thành nên nguồn doanh thu đó.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh: được tính toán dựa trên công
thức lấy lợi nhuận gộp cộng thêm các khoản thu nhập từ hoạt động tài chính và trừ đi
các khoản chi phí tương đương với nó, chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh. Đây là khoản lợi nhuận cho thấy được khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh
nghiệp khi tính toán đến các chi phí lien quan đến quản lý, bán hàng.
Lợi nhuận khác được tính toán dựa trên công thức thu nhập khác trừ chi phí khác.
Khoản mục này thể hiện lợi nhuận bất thường mà doanh nghiệp không tính toán và
lường trước được nó sẽ phát sinh với giá trị và thời điểm cụ thể.
Lợi nhuận kế toán trước thuế: là lợi nhuận được tính toán sau khi lấy lợi nhuận
thuần cộng với lợi nhuận khác. Nó là con số để cơ quan thuế dựa vào đó để tính toán
khoản thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty có nghĩa vụ phải nộp Nhà nước.
Lợi nhuận sau thuế: là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được sau khi trừ đi các
nghĩa vụ thuế phải nộp cho Nhà nước. Lợi nhuận này sẽ được công ty đem ra chia cho
những người trong công ty hoặc giữ lại để tăng vốn trong năm kinh doanh sau đó.
1.2.5.3. Phân tích lưu chuyển tiền tệ
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ (còn gọi là phân tích ngân lưu) là công việc
quan trọng, ngày càng chiếm nhiều công sức và thời gian của các nhà quản trị, các

tiền thu vào từ việc nhượng bán hoặc thanh lý các tài sản cố định, bất động sản đầu tư,
tiền thu hồi các khoản đầu tư ở các đơn vị khác, tiền thu được từ lãi cho vay và cổ tức,
lợi nhuận được chia. Dòng tiền chi ra cho hoạt động này bao gồm tiền chi ra để mua
sắm các loại tài sản cố định, bất động sản, tiền chi ra để góp vồn và cho vay.
Ta có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư phản ánh chênh lệch giữa tổng
số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động đầu tư trong kỳ báo cáo. Nếu chỉ số
này >0 cho thấy hoạt động đầu tư đang mang lại mức tăng của tiền. Ngược lại, chỉ số
này <0 cho thấy hoạt động đầu tư tạo ra mức giảm của tiền.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính: Dòng tiền từ hoạt động tài chính
trình bày dòng tiền thu (vào) và dòng tiền chi (ra) liên quan đến nguồn vốn của doanh
nghiệp. Dòng tiền thu vào từ hoạt động tài chính bao gồm tiền thu được cho việc phát
hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc nhận góp vốn của chủ sở hữu, tiền thu được từ các
khoản nay ngắn hạn hoặc dài hạn. Dòng tiền chi ra từ hoạt động này gồm tiền chi trả
vốn góp các chủ sở hữu, tiền chi ra để mua lại các cổ phiếu do chính doanh nghiệp
phát hành, tiền chi ra để hoàn trả các khoản nợ vay (vốn gốc), chi trả nợ thuê tài chính,
và tiền chi trả cổ tức hoặc chi lợi nhuận cho các chủ sở hữu.
Ta có lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính phản ánh chênh lệch giữa tổng
số tiền thu vào với tổng số tiền chi ra từ hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo. Nếu chỉ
số này >0 cho thấy hoạt động tài chính đang mang lại mức tăng của tiền. Ngược lại,
chỉ số này <0 cho thấy hoạt động tài chính tạo ra mức giảm của tiền.
Từ đó, ta có lưu chuyển tiền thuần trong kỳ là chỉ tiểu tổng hợp các kết quả tính
được từ các dòng lưu chuyển qua ba mặt (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động
14

đầu tư, hoạt động tài chính). Nếu nguồn thu > nguồn chi thì ta có mức tăng của tiền,
ngược lại, nguồn thu < nguồn chi thì ta có mức giảm của tiền.
1.2.5.4. Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính
a. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn bao gồm: chi tiêu về khả năng
thanh toán nhanh, khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán bằng tiền.

nhất của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền
(tiền mặt và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi…)
và khoản nợ đến hạn phải trả. Hệ số này quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều
tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội sinh lời của đồng vốn. Nhưng khi hệ số khả
Thang Long University Library
15

năng thanh toán quá nhỏ cho thấy doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán
các khoản nợ đến hạn. Do đó, các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng việc dự trữ các
khoản tiền và tương đương tiền sao cho hợp lý và hiệu quả.
b. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Nhóm chỉ tiêu này cho chúng ta những đánh giá khái quát về doanh thu và lợi
nhuận từ nguồn vốn đầu tư. Và sau đây là những chỉ tiêu chính:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất sinh lời trên
doanh thu
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Chỉ số tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) cho biết năng lực sinh lời của doanh
thu, một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu
này dương chứng tỏ doanh nghiệp đanh hoạt động kinh doanh có lãi và ngược lại. Khi
phân tích chỉ số này, người ta thường hay so sánh với chỉ số bình quân ngành để có thể
đánh giá chính xác nhất về tình hình sinh lời của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên
tổng tài sản
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản

thương mại của doanh nghiệp. Nếu số vòng quay khoản phải thu quá thấp cho thấy
hiệu quả sử dụng vốn kém, nhưng quá cao sẽ giảm mức cạnh tranh.
Ngoài việc so sánh chỉ tiêu này giữa các năm, giữa các doanh nghiệp cùng ngành
thì người phân tích cần xem xét từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ quá
hạn, nợ khó đòi để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời. Ta tính toán thời gian thu tiền bình quân:
Thời gian thu tiền bình quân
=
360
Số vòng quay khoản phải thu
Thời gian thu tiền bình quân là số ngày bình quân cần có để chuyển các khoản
phải thu thành tiền mặt, thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc thu nợ từ khách
hàng.
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay kho
=
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho ta biết khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng
quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ
số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực
quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay
vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay
vòng hàng tồn kho thấp. Hệ số càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh,
hàng tồn kho không bị ứ đọng. Nhưng hệ số quá cao cũng không tốt vì nếu nhu cầu thị
trường đột ngột tăng cao thì có khả năng doanh nghiệp sẽ bị mất khách hay thị phần.
Thời gian quay vòng hàng tồn kho bình quân
Thời gian quay vòng hàng
tồn kho bình quân
=
360

Chỉ số này cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp trả nợ cho nhà cung
cấp. Thời gian trả nợ càng dài thì doanh nghiệp càng có nhiều thời gian chiếm dụng
vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác và ngược lại.
Thời gian trả nợ trung bình
=
360
Vòng quay các khoản phải trả
Thời gian luân chuyển tiền
Thời gian luân chuyển tiền cho biết khoảng thời gian ròng kể từ khi chi thực tế
đến khi thu được tiền.
Thời gian luân chuyển tiền = Thời gian quay vòng hàng tồn kho + Thời gian thu nợ
trung bình – Thời gian trả nợ trung bình.
Thời gian luân chuyển tiền càng cao thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng
khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt dộng đầu tư khác. Chu kì
tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô tới khi nhận được tiền mặt từ
18

bán hàng. Ngược lại nếu con sô này nhỏ thì doanh nghiệp được coi là có khả năng
quản lí vốn lưu động tốt.
Hiệu suất sử dụng TSNH
Hiệu suất sử dụng TSNH
=
Doanh thu thuần
Giá trị TSNH
Chỉ số này cho ta biết hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua việc
sử dụng TSNH. Hiệu suất sử dụng TSNH cho biết mỗi đồng TSNH đem lại cho doanh
nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu. TSNH ở đây bao gồm tiền và các khoản tương
đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản trả trước ngắn hạn và hàng
tốn kho, các khoản TSNH khác.
Hiệu suất sử dụng TSDH

đông, mặt khác nó cũng làm gia tăng rủi ro. Do đó việc quản lý công nợ cũng quan
trọng như quản lý tài sản. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý nợ bao gồm:
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (D/A)
Tỷ số nợ trên tổng
tài sản
=
Tổng nợ
Tỏng tài sản
Tỷ số nợ phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài
sản. Mặt khác cũng phản ánh nợ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn. Do
đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà những nhà đầu tư thường quan tâm,
xem xét và dựa vào đó để đánh giá độ rủi ro trong việc đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy
nhiên với mức tỷ lệ thấp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không tận dụng được lợi
thế của đòn bẩy tài chính, đánh mất cơ hội tiết kiếm được từ thuế do sử dụng nợ.
Tỷ số nợ trên VCSH (D/E)
Tỷ số nợ trên VCSH
=
Tổng nợ
VCHS
Tỷ số này cho biết mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ và VCSH hay cơ cấu
vốn trong doanh nghiệp như thế nào. Tỷ số này sẽ được đem so sánh với 1. Nếu tỷ lệ
này quá lớn hơn 1, tức là doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay tài trợ cho tài sản, điều
này cho thấy doanh nghiệp đang quá phụ thuộc vào các khoản đi vay, không tự đảm
bảo nguồn tài trợ cho bản thân, rủi ro vì thế sẽ tăng cao. Song doanh nghiệp lại tiết
kiệm được một khoản từ thuế. Ngược lại, nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 cho thấy doanh
nghiệp sử dụng VCSH nhiều hơn khoản nợ vay. Điều này sẽ khiến doanh nghiệp mất
đi khoản chi phí cơ hội sử dụng vốn cho các hoạt động khác của công ty. Chính vì vậy
mà công ty nên có chính sách sử dụng nguồn vốn hợp lý, cân bằng cả hai yếu tố.
Tỷ lệ chi trả nợ vay
Là hệ số tài chính đánh giá đánh giá khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp

phân tích đối với các mục tiêu phân tích tài chính đã đặt ra.
Đối với nhà quản trị tài chính: Sự hoàn thiện phân tích tài chính đợc đánh giá bằng
một tập hợp các chỉ tiêu đáp ứng yêu cầu đánh giá chính xác tình hình tài chính của
doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc ra quyết định tài chính với chi phí hợp lý.
Trong phạm vi khóa luận này, chủ yếu đề cập tới các chỉ tiêu đánh giá sự hoàn thiện
của việc phân tích tài chính doanh nghiệp trên góc độ người quản trị doanh nghiệp.
Dựa vào những nội dung phân tích trên, các chỉ tiêu đánh giá sự hoàn thiện phân tích
tài chính của doanh nghiệp như sau:
a. Thời gian phân tích và mật độ phân tích
Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp được duy trì thường xuyên hay không?
Có đáp ứng được tính kịp thời cho yêu cầu của Ban lãnh đạo hay không? Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến sự hoàn thiện phân tích tài chính. Bởi vây, nếu việc phân tích tài
chính cho kết quả chính xác nhưng lại mất quá nhiều thời gian hoặc không được tiến
hành kịp thời, thường xuyên nên khi kết quả phân tích chuyển đến người sử dụng thì
đã bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh tốt hoặc xử lý chậm những vấn đề còn tồn tại gây
ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh thì không thể đánh giá là đã hoàn thiện phân
tích tài chính.
Thang Long University Library
21

Doanh nghiệp không nên chỉ phân tích tài chính vào cuối kỳ khi hoàn thành báo
cáo tài chính năm mà công tấc này cần tiến hành thường xuyên, liên tục. Đặc biệt,
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh hiện nay, chỉ doanh nghiệp nào hiểu
rõ tình hình tài chính của mình, nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mình và nắm bắt
kịp thời cơ hội kinh doanh thì mới có thể phát triển vững mạnh. Việc duy trì công tác
phân tích tài chính một cách thường xuyên, báo cáo phân tích tài chính được chuyển
đến người sử dụng kịp thời sẽ nâng cao giá trị sử dụng của kết quả phân tích và là cơ
sở để hoàn thiện phân tích tài chính.
Mặc dù không có tiêu chuẩn chung về thời gian phân tích tài chính, mật độ phân
tích tài chính, nhưng tùy thuộc vào quy mô, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi doanh

hóa chi phí luôn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng phân tích tài chính,
qua đó đánh giá sự hoàn thiện của phân tích tài chính. Chi phí phân tích tài chính quá
cao sẽ là gánh nặng đối với doanh nghiệp, nhưng nếu chi phí thấp không đủ trang trải
cho hoạt động phân tích thì chất lượng sẽ không được đảm bảo.
c. Đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp và mức độ vận dụng
kết quả phân tích.
Để đảm bảo phân tích tài chính đạt kết quả tốt thì quá trình phân tích cần thỏa mãn cả
hai điều kiện cần và đủ. Nếu thông tin phân tích đã đảm bảo chất lượng, các chỉ tiêu và
phương pháp phân tích áp dụng đã phù hợp và đầy đủ thì có nghĩa là đã đạt được điều
kiện cần cho việc đảm bảo chất lượng phân tích tài chính. Điều kiện đủ là sau khi có
được số liệu tính toán thì những đánh giá về tình hình tài chính của doanh nghiệp một
cách chính xác. Bởi vậy đây là căn cứ cuối cùng giúp người sử dụng báo cáo phân tích
tài chình đưa ra quyết định tài chính đúng đắn. Chính vì vậy, mức độ chính xác của
các đánh giá tình hình tài chính là thước đo sự hoàn thiện phân tích tài chính doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp chính xác nhưng việc vận
dụng kết quả đó vào thực tế để mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp cũng là một chỉ
tiêu phản ánh sự hoàn thiện phân tích tài chính. Mục tiêu cuối cùng của việc phân tích
tài chính đạt chất lượng là để giúp doanh nghiệp tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro
trong tương lai và nó được thể hiện rất rõ trong kết quả sản xuất kinh dianh của kỳ tiếp
theo. Đây là căn cứ chính xác nhất để đánh giá mức độ hoàn thiện của phân tích tài
chính đạt mức cao, trung bình hay kém.
1.3. Nhân tố ảnh hƣởng tới phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Nhân tố chủ quan
1.3.1.1. Thông tin sử dụng
Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp là nền tảng quyết
định tới tính chính xác của kết quả phân tích. Khi thông tin sử dụng không chính xác,
không phù hợp thì kết quả thu được từ quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ
là hình thức, không có ý nghĩa. Bên cạnh đó, việc sử dụng thông tin chuẩn xác trong
phân tích còn giúp nhà phân tích báo cáo chính xác tình hình tài chính của doanh

tạo đầy đủ về chuyên môn nghiệp vụ thì phương pháp, nội dung phân tích sẽ đầy đủ,
khoa học, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Khi có chuyên môn giỏi cán bộ phân tích
sẽ biết gắn kết, tạo lập mối liên hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để lý giải tình hình tài chính doanh nghiệp,
hiểu rõ điểm mạnh điểm yếu đồng thời lý giải được nguyên nhân hình thành nên điểm
yếu đó, Từ tầm quan trọng cũng như sự phức tạp của phân tích tài chính doanh nghiệp
đòi hỏi cán bộ phân tích phải đáp ứng được trình độ chuyên môn cao cộng với áp lực
công việc.
1.3.1.5. Công nghệ, kỹ thuật
Ứng dụng tốt kỹ thuật, công nghệ vào quá trình phân tích tài chính sẽ đem lại kết
quả chính xác, khoa học, tiết kiệm được thời gian, công sức. Ứng dụng các phần mềm
24

phân tích tài chính, tra cứu thông qua internet, liên kết thông tin giữa các phòng ban
thông qua hệ thống mạng. Việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật vào phân tích tài chính
doanh nghiệp không những đảm bảo tính chính xác, khoa học, tiết kiệm mà còn đảm
bảo tính toàn diện, phong phú, phù hợp với xu hướng phát triển hiện đại.
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước
Với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước, trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, các doanh nghiệp đều phải có
nghĩa vụ tuân thủ chính sách về thuế, kế toán, thống kê,…Các chính sách này được
nhà phân tích tài chính vận dụng trong quá trình phân tích để đảm bảo tính phù hợp,
sát thực của công tác phân tích với pháp luật của nhà nước. Ngoài ra, các chính sách
đó còn có tính định hướng và là động lực cho công tác phân tích tài chính
doanh nghiệp.
1.3.2.2. Chỉ số trung bình ngành
Công tác phân tích tài chính thực sự có hiệu quả khi có hệ thống chỉ tiêu
trung bình chuẩn của toàn ngành, trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đánh giá,
xem xét tình trạng tài chính để nhận thức vị trí của mình nhằm đưa ra những

nghiệm về các sản phẩm máy văn phòng và giải pháp toàn diện cho doanh nghiệp.
Với tôn chỉ hoạt động “Thành Đạt luôn sát cánh cùng thành công của bạn”
Thành Đạt đã dần khẳng định được vị trí và thương hiệu của mình trên thị trường cạnh
tranh khốc liệt trong quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực. Hiện nay,
thương hiệu Thành Đạt đã và đang nhận được sự tín nhiệm của hơn 500 tổ chức,
doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, từ các cơ quan nhà nước, các
tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong và ngoài nước đến các công ty và tập đoàn
hàng đầu Việt Nam như: Kho bạc nhà nước, tổng công ty Điện lực – Dầu khí Việt
Nam, tập đoàn Hòa Phát, công ty máy tính Trần Anh, công ty VMS Mobifone, ngân
hàng Vietinbank, ngân hàng HDbank, ngân hàng Eximbank, ngân hàng Phương Nam,
khách sạn Daewoo, khách sạn Sofitel Đặc biệt Thành Đạt là đơn vị cung cấp thiết bị
máy văn phòng phục vụ các hội nghị quan trọng của quốc gia như: Hội nghị APEC 14,

Trích đoạn Hạn chế và nguyên nhân Định hướng phát triển của công ty cổ phần TMDV Thành Đạt Tổ chức và nhân sự cho công tác phân tích tài chính Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status