Khóa luận tốt nghiệp Hoàn thiện công tác thẩm định dự án trong hoạt động cho vay tại SHB- Chi nhánh Vạn Phúc - Pdf 27

1

CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Luật Ngân hàng nhà nước (ban hành ngày 12, 12, 1997, sửa đổi bổ sung ngày 17,
6, 2003) và luật các tổ chức tín dụng (ban hành ngày 12, 12, 1997 sửa đổi bổ sung
ngày 15, 6, 2004) quy định: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan.
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với
nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng dịch vụ thanh toán.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của
Ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa
các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động
của Ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là
"vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh
lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của Ngân hàng thương mại. Hoạt động của Ngân
hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Ngân hàng có 3 chức năng chính:
Chức năng trung gian tài chính: Chức năng trung gian tài chính của Ngân hàng
thể hiện ở hoạt động chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư giữa hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế, các cá nhân hoặc tổ chức này có thể là những đối tượng tạm
thời thâm hụt chi tiêu hoặc cần bổ sung vốn, hoặc là những người thặng dư chi tiêu

 Thứ nhất là sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
 Thứ hai là nguyên tắc hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hai nguyên tắc này phải được tuân thủ đầy đủ nhằm đảm bảo khả năng hoạt động của
Ngân hàng cũng như đảm bảo dòng vốn của nền kinh tế được luân chuyển.
 Quy trình cho vay
Về cơ bản tất cả các khoản vay tại các Ngân hàng đều có 4 bước thực hiện:
Bước 1: Phân tích trước khi cho vay
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
3

Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới
 Bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng
ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
hàng vay. Nói chung bất kỳ tài sản hoặc các quyền phát sinh từ tài sản có thể tạo ra
ngân lưu đều có thể làm bảo đảm tiền vay. Tuy nhiên để bảo đảm tiền vay thực sự có
hiệu quả đòi hỏi:
 Giá trị bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu, phải có giá trị và có thị
trường tiêu thụ.
 Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền sử lý tài sản dùng làm bảo
đảm tiền vay.
Các hình thức bảo đảm tiền vay:
 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp: có thể thế chấp bằng bất động sản
hoặc thế chấp giá trị quyền sử dụng đất
 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố
 Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
 Bảo đảm tiền vay bằng hình thức bảo lãnh

Cho vay theo dự án: Cho vay theo dự án là hình thức mà Ngân hàng thương mại
cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và các dự án khác phục vụ đời sống.
Đặc điểm chung của cho vay theo dự án tại các NHTM hiện nay là :
 Thời hạn khoản vay dài: cho vay dự án thường là các khoản vay trung và dài
hạn.
 Lịch trả nợ: Các khoản cho vay theo dự án thường được trả góp, tức là gốc
được trả từng phần theo lịch trả nợ thỏa thuận trước trong hợp đồng tín dụng, lãi trả
đều và giảm dần theo dư nợ gốc. Ngoài ra các dự án thường khi bắt đầu được giải ngân
cho vay lần đầu cho đến khi hoàn thành và đưa vào hoạt động thì phải mất một khoảng
thời gian, do đó các Ngân hàng cũng thường phải tính toán được thời gian ân hạn- tức
là khoản thời gian mà người vay chưa phải trả gốc.
 Mục đích cho vay: Hiện tại các dự án được các NHTM cho vay tập trung chủ
yếu vào các lĩnh vực : Dự án bất động sản (xây dựng nhà ở thương mại, khu đô thị,
khu công nghiệp, trung tâm thương mại, văn phòng, bệnh viện…), xây dựng nhà
xưởng và mua sắm thiết bị (trong các dự án công nghiệp, xi măng, sắt thép, thủy điện,
may mặc, hóa dầu, chế biến nông lâm thủy sản…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá,
dự án BOT, cảng biển, cảng hàng không…), các dự án nông nghiệp - lâm nghiệp (cây
cao su, đánh bắt thủy sản ), các dự án mua sắm phương tiện vận tải (đóng tàu, máy
bay….) và rất nhiều lĩnh vực khác của đời sống cần nguồn vốn trung dài hạn.

5

1.2. CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.2.1. Khái quát về dự án
Dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ
thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt ra (mục tiêu nhất định)
với nguồn lực và thời gian xác định
1

1
Thẩm định tài chính dự án - PGS.TS Lưu Thị Hương
Thang Long University Library
6

Một dự án tốt đem lại lợi ích cho nhiều bên, như chủ đầu tư và Ngân hàng thì có
lợi nhuận, chính phủ thì thu được thuế, xã hội thì có thêm cơ sở hạ tầng, dịch vụ, công
ăn việc làm…
1.2.2. Công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân
hàng thƣơng mại
1.2.2.1. Khái niệm công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của
Ngân hàng thương mại
Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn
diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả
cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư. Trong quá trình thẩm định
dự án, nhiều khi phải tính toán, phân tích lại dự án
2
.

Thẩm định dự án cho vay trong Ngân hàng thương mại là kỹ năng sử các công cụ
và kỹ thuật phân tích, dự báo để lựa chọn của dự án tốt, mang lại hiệu quả cao cho
ngân hàng trên cơ sở đánh giá một cách chính xác tính thời điểm và quy mô của dòng
tiền mang lại trong một khoảng thời gian trong tương lai, đồng thời dự báo các rủi ro,
cách hạn chế rủi ro để đưa ra quyết định tài trợ vốn cho dự án.
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế khác, các cá nhân.
Ngân hàng cũng giống như chủ đầu tư, rất quan tâm đến khả năng sinh lãi của dự
án. Thẩm định tài chính là một nội dung quan trọng trong thẩm định cho vay của Ngân
hàng thương mại:

xét khái quát các nội dung cơ bản thể hiện đầy đủ tính phù hợp, tính hợp lý của một dự
án. Cuối cùng là thẩm định chi tiết là xem xét một cách khách quan khoa học, chi tiết
từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả của dự án.
 Phương pháp thẩm định dựa trên độ nhạy: Cơ sở của phương pháp này là dự
kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai, khảo sát tác động của yếu
tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn trả vốn của dự án từ đó mà có thể kiểm tra
tinh vững chắc và hiệu quả tài chính của dự án.
 Phương pháp triệt tiêu rủi ro: là dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra trong suốt
quá trình thực hiện dự án để có biện pháp kinh tế hoặc tài chính thích hợp hạn chế thấp
nhất hoặc phân tán rủi ro cho đối tác có liên quan đến dự án.
1.2.2.2. Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của
Ngân hàng thương mại
Thẩm định tài chính dự án có vai trò quyết định tới việc đồng ý cho vay, không
đồng ý cho vay hay cho vay có điều kiện đối với một dự án đầu tư. Ngân hàng luôn
chú trọng đến công tác thẩm định tài chính trong đánh giá tổng thể một dự án.
Thẩm định tổng vốn đầu tư:
Theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng được Bộ KH&ĐT ban hành, tổng mức
đầu tư là “Toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuất ban đầu) và là giới
hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư”
Thang Long University Library
8

Tổng vốn đầu tư bao gồm các chi phí chuẩn bị đầu tư (điều tra, khảo sát, nghiên
cứu khả thi…), vốn chuẩn bị thực hiện (thu xếp vốn, khảo sát thiết kế, thẩm định thiết
kế, đền bù giải phóng mặt bằng…), vốn thực hiện đầu tư (chi phí xây dựng, mua sắm
lắp đặt thiết bị…), chi phí sản xuất (nguyên vật liệu, nhiên liệu, nhân công, chạy thử,
nghiệm thu…), chi phí khác (dự phòng, bảo hiểm, quản lý dự án…)
Tổng hợp lại thì tổng vốn đầu tư là toàn bộ chi phí hình thành các thành nên tài
sản cố định và tài sản lưu động của dự án từ lúc lên kế hoạch cho đến khi đưa dự án đi
vào hoạt động.

QLDA,
TVDT,
chi khác
Thu xếp vốn, khảo sát thiết
kế, thẩm định thiết kế, đền
bù giải phóng mặt bằng, dự
phòng, bảo hiểm, quản lý
dự án
So sánh với các dự án có cùng quy mô,
công nghệ, sản phẩm.
So sánh với giá thị trường và quy định của
Bộ Kế hoạch đầu tư.
Chi phí
tài sản
lưu động
Nguyên vật liệu, nhiên liệu,
nhân công, chạy thử,
nghiệm thu
So sánh với dự án tương tự đã được vận
hành. 9

Thẩm định nguồn tài trợ:
Các nguồn tài trợ thông thường mà một dự án có thể huy động là: Vốn tự có của
chủ đầu tư, vốn tài trợ của Ngân hàng, vốn cấp từ ngân sách Nhà nước, vốn tài trợ của
các quỹ đầu tư, quỹ phát triển và nguồn vốn khác.
Tính quan trọng của việc thẩm định nguồn tài trợ bởi một dự án muốn được thực
hiện hoàn thiện luôn cần một lượng vốn lớn, Ngân hàng chỉ cho vay một phần của


Chi phí hợp lý
trong kỳ
+
Thu nhập khác
trong kỳ

Thang Long University Library
10

Doanh thu trong kỳ = Sản lượng * giá bán
Thuế thu nhập = Thu nhập chịu thuế trong kỳ * thuế suất thuế TNDN
Lợi nhuận ròng = Thu nhập chịu thuế  Thuế thu nhập
Doanh thu và chi phí của dự án là các số liệu dự tính trong tương lai khi dự án đã
đưa vào hoạt động, có nghĩa là đây là các số liệu chưa chắc chắn. Yếu tố doanh thu và
chi phí lại rất quan trọng đối với các tính toán sau này của Ngân hàng về hiệu quả của
dự án, Ngân hàng phải có những bước thẩm định kỹ càng và đầy đủ hai yếu tố này.
Các căn cứ có thể dùng để xác định đánh giá doanh thu - chi phí trong tương lai của dự
án là:
 Sản lượng, công suất, quy mô sản xuất của dự án: doanh thu của dự án sẽ phụ
thuộc vào quy mô sản xuất và sản lượng đầu ra hàng năm của dự án, các dự án khi đi
vào hoạt động ít có dự án nào có thể chạy 100% công suất để đạt được sản lượng theo
thiết kế, Ngân hàng cần phải điều chỉnh công suất hàng năm cho phù hợp với đặc thù
từng dự án.
 Giá bán: xu hướng tăng hay giảm giá của sản phẩm mà dự án tạo ra trong quá
khứ sẽ ảnh hưởng đến giá bán trong tương lai khi đưa vào vận hành.
 Chi phí: Chi phí hợp lý để vận hành dự án, chi phí này Ngân hàng có thể thẩm
định căn cứ giá thị trường, căn cứ các dự án tương tự đã hoạt động, chi phí này bao
gồm cả chi phí lãi vay, khấu hao,
 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: là mức thuế Nhà nước thu từ hoạt động

Đối với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có 2 cách lập là cách trực tiếp và cách
gián tiếp, cách lập thường dùng là cách gián tiếp.
Gián tiếp: Từ lợi nhuận ròng sau thuế, cộng với các khoản chi phí phi tiền mặt như
khấu hao (là khoản chi phí phân bổ cho nhiều năm) và lãi vay (thực chất là khoản chi
tiền mặt nhưng được tính ở phần chi hoạt động tài chính) và sau đó điều chỉnh cho
khoản thay đổi nhu cầu vốn lưu động (thực chất là điều chỉnh các khoản phải thu, phải
trả, hàng tồn kho )
Phương pháp trực tiếp: Cán bộ thẩm định liệt kê chi tiết các khoản thu, chi bằng
tiền của doanh nghiệp trong từng giai đoạn để tính dòng tiền ròng trong suốt chu kỳ
đầu tư của dự án.
Dòng thu, dòng tiền vào gồm: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thu
từ thanh lý tài sản
Dòng chi, dòng tiền ra gồm: Chi đầu tư tài sản cố định, các loại thuế, chi phí kinh
doanh ( không gồm khấu hao)
Dòng tiền ròng của dự án: Được tính bằng dòng tiền vào – Dòng tiền ra
Dòng tiền ròng của chủ đầu tư = dòng tiền ròng của dự án – dòng tiền trả nợ (gốc
và lãi vay khi đi vào hoạt động. Lãi vay trong thời gian đầu tư được tính vào tổng chi
phí đầu tư)  cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của dự án.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:
 Dòng tiền ra (chủ yếu): bao gồm khoản chi đầu tư tài sản cố định.
 Dòng tiền vào: Bao gồm các khoản thu hồi cuối kỳ như giá trị thanh lý tài sản
cố định (thường được lấy bằng giá trị còn lại của tài sản cố định cuối kỳ hoặc ước
lượng thực tế)
Thang Long University Library
12

Dòng tiền từ hoạt động tài chính:
 Dòng tiền vào: bao gồm các khoản như góp vốn tự có, vốn vay
 Dòng tiền ra: bao gồm các khoản trả vốn gốc và lãi vay, chia cổ tức ( đối với
Công ty cổ phần) hay khoản chi phúc lợi, khen thưởng (đối với các DNNN)


n
0t
t
t
ki
CF
NPV
13

Thẩm định lãi suất chiết khấu của dự án (r) :
“Lãi suất chiết khấu chính là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đối
với một dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trị hiện tại
ròng của dự án”
4
.
Lãi suất chiết khấu có thể hiểu là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của dự án mà nhà đầu
tư mong muốn.
Để thẩm định được lãi suất chiết khấu của dự án, Ngân hàng phải nắm rõ các
nguyên tắc dự tính lãi suất chiết khấu:
 Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng: Không phải rủi ro càng cao thì lợi
tức thu được từ dự án càng cao, rủi ro càng cao không đảm bảo lợi tức cao, thực tế chỉ
là lợi tức kỳ vọng cao.
 Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn đầu tư tài trợ cho dự án xem xét và cơ cấu vốn
của doanh nghiệp: Sử dụng WACC là một chỉ tiêu quan trọng để xem xét và điều
chỉnh thêm để xác định lãi suất chiết khấu chấp nhận được cho dự án.
 Dự án đang xem xét phải đặt trong tương quan với các tài sản tài chính và dự án
khác cùng mức độ rủi ro: hay việc xem xét lãi suất chiết khấu của một dự án phải có
sự so sánh với các tài sản tài chính và dự án có cùng mức rủi ro.
 Dòng tiền phải có sự nhất quán trong việc sử dụng lãi suất chiết khấu.

 Bảng tính nhu cầu vốn lưu động
 Bảng tính lãi vay và lịch trả nợ
Từ các bảng tính này, khi nhập các số liệu dự tính trong tương lai khi dự án đi
vào hoạt động sẽ ra kết quả là các chỉ số NPV, IRR , PP (thời gian hoàn vốn), điểm
hòa vốn (hay sản lượng hòa vốn lý thuyết), doanh thu hòa vốn lý thuyết, độ nhạy
NPV (Net Present Value): Là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm
định tài chính dự án.
IRR (Internal Rate of Return): tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của
lãi suất chiết khấu ở đó NPV bằng không.
IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án.
Cách xác định:
Trong đó:
k1 : lãi suất chiết khấu ứng với > 0 gần tới 0.
k2 : lãi suất chiết khấu ứng với NPV2 < 0 gần tới 0.
NPV1 : Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k1.
NPV2 : Giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k2.
Ý nghĩa của chỉ tiêu:
 IRR chính là khả năng sinh lời đích thực của bản thân dự án.
 Nếu tỷ suất sinh lời kỳ vọng của dự án thấp hơn IRR nghĩa là dự án hiệu quả
đối với chủ đầu tư.
Tiêu chuẩn lựa chọn dự án:
 
21
121
1
NPVNPV
kkNPV
kIRR



Điểm hoà vốn: Phân tích hoà vốn là quá trình áp dụng các công cụ để phân tích
độ rủi ro tài chính ngắn hạn của dự án thông qua việc xác định điểm hoà vốn, mà điểm
này biểu thị sản lượng hoà vốn, doanh thu hoà vốn, công suất hay mức hoạt động hoà
vốn.
Thời gian hoàn vốn (PP): Thời gian hoàn vốn là thời gian trong đó tổng vốn đầu
tư vào TSCĐ được thu lại bằng lợi nhuận và khấu hao hàng năm.
Cách xác định:
T =
∑V
LN + KH
T phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư, chỉ tiêu này cho biết sau bao lâu thì dự
án thu hồi đủ vốn đầu tư.

Thang Long University Library
16

Sản lượng hoà vốn lý thuyết:
Sản lượng hoà vốn là sản lượng cần thiết mà dự án phải đạt được để hoạt động
không lời cũng không lỗ (hoà vốn).
Công thức:
BEP
Q
=
FC
p-v
Trong đó:
BEPQ - Sản lượng hoà vốn lý thuyết của dự án, hiện vật.
FC - Tổng định phí hàng năm của dự án, giá trị.
P - Giá bán 1 đơn vị sản phẩm, giá trị.
v - Biến phí cho 1 đơn vị sản phẩm, giá trị.

tiền của dự án là:
 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu: sản lượng tiêu thụ, đơn giá bán,
công suất thực hiện.
 Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất: chi phí nguyên vật liệu
chính, chi phí nhân công …
 Các nhân tố khác: tỷ giá ngoại hối (ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí đối với
các dự án có liên quan nhiều đến hoạt động xuất nhập khẩu), lãi suất vay vốn (ảnh
hưởng đến chi phí trả lãi vay vốn lưu động và vay vốn trung dài hạn).
Ý nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án nghĩa là khi một yếu tố trọng yếu
của dự án thay đổi trong một giới hạn từ giá trị a đến giá trị b thì dự án không hiệu
quả, hay các chỉ số hiệu quả tài chính đều không đạt. Thông thường khi phân tích độ
nhạy, Ngân hàng sẽ cho thay đổi một thông số và các biến số khác giữ nguyên.
Thẩm định rủi ro:
Trên cơ sở các nhận định, Ngân hàng dự báo các rủi ro và các đối sách của khách
hàng, xác định mức độ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động và dự báo.
 Rủi ro thị trường: Mức độ ảnh hưởng của những biến động sản phẩm đến chất,
lượng, dự án. Đề ra biện pháp hạn chế tầm ảnh hưởng, giảm thiểu rủi ro cho dự án.
 Rủi ro quản lý vận hành: Rủi ro về nguồn lực, trình độ quản lý và những thay
đổi bất thường.
 Rủi ro tính toán: Các giả định đã sát thực chưa, thể hiện qua bảng tính độ nhạy,
phân tích các phương án.
 Rủi ro tài sản đảm bảo, biện pháp quản lý.
 Phân tích rủi ro thông qua độ nhạy của dự án.

Thang Long University Library
18

1.2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá sự hoàn thiện của công tác thẩm tài chính dự án trong
hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Với Ngân hàng, các yêu cầu về công tác thẩm định tài chính dự án là:

dự án tốt mà NH tìm kiếm để có thể đầu tư là ít chứng tỏ chất lượng ở lĩnh vực này là
chưa cao hay Ngân hàng đang có quan điểm quá chặt chẽ về thẩm định dự án đầu tư.
 Chỉ tiêu chất lượng dư nợ cho vay dự án đầu tư:
19

Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn

Tỷ lệ nợ quá
hạn khó đòi
=
Nợ quá hạn khó đòi trung và dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Ý nghĩa: Các chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp và rõ nhất chất lượng thẩm định tài
chính dự án, thẩm định dự án của Ngân hàng Thương mại với các khoản vay đã cho
vay. Các chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chất lượng thẩm định các dự án đã cho vay
của Ngân hàng có vấn đề, không loại bỏ được các yếu tổ rủi ro, các yếu tổ xấu gây ảnh
hưởng trực tiếp lên nguồn vốn cho vay của Ngân hàng.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI
CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
Một dự án bao gồm nhiều yếu tố, nhiều thành phần và các bên tham gia khác
nhau đến dự án. Các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thẩm định tài chính
dự án trong hoạt động cho vay của NHTM, các Ngân hàng phải nhận biết được các
nhân tố này để hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay.
Các nhân tố ảnh hưởng được chia thành hai loại cụ thể như sau:
1.3.1. Nhân tố chủ quan
Nhân sự thẩm định

định phải xây dựng phù hợp với đặc thù hoạt động, năng lực nhân sự, hệ thống tổ chức
của Ngân hàng, có như vậy thì quy trình mới hoạt động hiệu quả và đưa ra kết quả
đánh giá xác thực nhất, ý nghĩa nhất khi quyết định cho vay.
Phương pháp thẩm định áp dụng theo quy trình phải bao gồm các chỉ tiêu rõ
ràng, cách thức phân tích cơ bản, xử lý thông tin chính xác, phù hợp, tập hợp được các
yếu tố khác nhau thành những mối liên hệ, biến các thông tin riêng lẻ thành các thông
tin chung, hữu ích. Phương pháp thẩm định tốt sẽ loại bỏ các yếu tố sai lệch, giúp đưa
ra kết quả chính xác, nhanh chóng, dự báo được các rủi ro và là cơ sở để đưa ra quyết
định cuối cùng.
Nội dung thẩm định trong tờ trình được ban hành theo quy trình phải đầy đủ và
và có điểm nhấn vào các nội dung trọng yếu, nội dung của tờ trình không đưa ra được
các thông tin đầy đủ sẽ dẫn đến việc đánh giá thiếu các chỉ tiêu tài chính của dự án, nội
dung không nêu được yếu tố trọng yếu dẫn đến việc đưa ra quyết định cho vay khó
khăn hơn.
Quy trình và phương pháp thẩm định phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung của
Pháp luật, thông lệ quốc tế và tiêu chuẩn cấp tín dụng, quy chế cho vay của bản thân
Ngân hàng. Nội dung của quy trình thẩm định phải đầy đủ, sắp xếp hợp lý, logic.

21

Nguồn thông tin thẩm định
Để thẩm định tài chính của dự án đầu tư, nhân tố thông tin là yếu tố quyết định
và có ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình thẩm định vì mọi quy trình, phương pháp, cách
thức để thẩm định tài chính dự án trước khi đưa ra quyết định cho vay đều cần đến
thông tin. Thông tin chính xác và đầy đủ sẽ đưa ra kết quả thẩm định xác thực nhất,
thông tin sai sẽ đưa ra quyết định sai và có thể dẫn tới khả năng cho vay sai, gây tổn
thất cho Ngân hàng.
Thông tin mà Ngân hàng tiếp cận có thể từ rất nhiều nguồn khác nhau, Ngân
hàng cần phải thu thập và lựa chọn các thông tin cần thiết, có căn cứ, chính xác, kịp
thời để phục vụ cho việc thẩm định. Các nguồn thông tin có thể thu thập là:

1.3.2. Nhân tố khách quan
Là các nhân tố mà Ngân hàng không kiểm soát được, nằm ngoài khả năng kiểm
soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể nhìn nhận, dự báo và đưa ra các biện pháp
nhằm giảm thiểu, hạn chế và khắc phục ảnh hưởng của nhân tố đến chất lượng thẩm
định tài chính của dự án đầu tư.
Nhân tố khách quan từ phía doanh nghiệp
Ngân hàng là chủ thể cho vay của dự án đầu tư, tuy nhiên hiện tại các dự án cho
vay chủ yếu được thực hiện tại các Chi nhánh là đơn vị kinh doanh trực tiếp của Ngân
hàng, tuy nhiên các chính sách cho vay, quy trình cho vay, các hệ thống hỗ trợ thẩm
định lại nằm ở Hội sở của Ngân hàng, do đó nhiều quy định, quy trình còn chưa xát
với thực tế dự án, dẫn đến khó khăn cho công tác thẩm định của Chi nhánh.
Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng của dự án, mỗi dự án có một hoặc một nhóm
doanh nghiệp làm chủ đầu tư. Khi đưa dự án tới vay vốn tại các Ngân hàng thì chủ đầu
tư luôn có xu hướng làm đẹp hơn các số liệu về tình hình tài chính dự án và tình hình
tài chính của doanh nghiệp, điều đó làm sai lệch các số liệu thẩm định của Ngân hàng,
làm Ngân hàng mất thêm chi phí, thời gian và nhân lực để thẩm định. Các doanh
nghiệp cũng thường đưa các đánh giá, các thông tin thuận lợi về tiềm năng của dự án
như tình hình thị trường, khả năng sản xuất cũng như đề cao kinh nghiệm, khả năng
thực hiện dự án của bản thân doanh nghiệp. Các yếu tố cường điệu hóa nếu đi quá xa
thực tế hoặc Ngân hàng không thể đủ thông tin để thẩm định thông tin do doanh
nghiệp cung cấp sẽ ảnh hưởng mạnh lên chất lượng thẩm định tài chính doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế - xã hội
Một dự án đều nằm trong một môi trường kinh tế xã hội nhất định và Ngân hàng
phải thẩm định thông tin thu thập được từ môi trường mà dự án được triển khai. Các
nhân tố này biến động không nằm trong tầm kiểm soát của Ngân hàng. Chất lượng
thẩm định tài chính của dự án bị ảnh hưởng mạnh bởi thông tin thu thập được từ nền
kinh tế, một nền kinh tế minh bạch, được thống kê đầy đủ và chính xác sẽ đưa ra các
thông tin chính xác, một nền kinh tế - xã hội còn nhiều điểm chưa rõ, thông tin bị bưng
bít hoặc thiếu chính xác sẽ dẫn đến chất lượng thẩm định tài chính dự án của Ngân
hàng kém chính xác.

hàng TMCP Nhà Hà Nội (HABUBANK), được thành lập từ năm 2005 theo giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0113013965 đăng ký lần đầu ngày 28/09/2006, có
trụ sở đăng ký tại Tòa nhà 2C Vạn Phúc – Ba Đình - Hà Nội. Ngày 28/08/2012, Ngân
hàng TMCP Nhà Hà Nội (HBB) chính thức sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội (SHB) theo quyết định số 1559/QĐ-NHNN ngày 07/08/2012 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước, theo đó Chi nhánh Vạn Phúc cũng trở thành một trong những
Chi nhánh trực thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội theo Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 180028630-069 đăng ký lần đầu ngày 30/08/2012 có trụ sở tại 34-36
Liễu Giai - P.Cống Vị - Q.Ba Đình – TP Hà Nội.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức SHB - Chi nhánh Vạn Phúc
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội - Chi nhánh Vạn Phúc :
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức SHB Vạn Phúc

(Nguồn: Báo cáo thường niên của SHB - Chi nhánh Vạn Phúc)

Giám đốc
Chi nhánh
Các Phòng
Giao dịch
Phòng
Dịch vụ
Khách
hàng
Phòng
Quan hệ
Khách
hàng
Doanh
nghiệp
Phòng

huy động tiết kiệm dân cư, chăm sóc khách hàng
Phòng Quan hệ khác khách hàng Doanh nghiệp (Phòng tín dụng Doanh nghiệp):
Phòng QHKH Doanh nghiệp hay còn gọi là phòng tín dụng doanh nghiệp vì chức năng
chủ yếu của phòng là thiết lập, quản lý và duy trì quan hệ tín dụng với các doanh
nghiệp như cho vay, cấp bảo lãnh, mở L/C Các chỉ tiêu chủ yếu là phòng được giao
là: số lượng khách hàng doanh nghiệp mới, dư nợ mới, doanh số giải ngân trong năm,
huy động mới từ doanh nghiệp, số tài khoản doanh nghiệp mở mới, số dư bảo lãnh
phát hành, số dư L/C phát hành, quản lý - xử lý nợ xấu tồn tại
Phòng Quan hệ khác khách hàng cá nhân (Phòng tín dụng cá nhân): Phòng quan
hệ khách hàng cá nhân hay còn gọi là phòng tín dụng cá nhân vì nhiệm vụ, chức năng
chính của phòng là quản lý, cho vay và huy động tiền gửi từ các cá nhân. Các chỉ tiêu
chính của phòng được Ban Giám Đốc chi nhánh giao là: Số lượng và giá trị cho vay
mới, huy động tiết kiệm mới, phát hành thẻ thanh toán, thẻ tín dụng Master, quản lý -
xử lý nợ xấu tồn tại
Phòng Thẩm định tín dụng: Tiếp nhận hồ sơ của khách hàng từ Phòng Quan hệ
khách hàng. Sau đó tiến hành các bước thẩm định hồ sơ và đề xuất mức cho vay và
thời hạn cho vay.
Phòng Hỗ trợ tín dụng: Nhiệm vụ chính của phòng là giải ngân và theo dõi
khoản vay để thu nợ gốc, lãi Quản lý hồ sơ giấy tờ tín dụng. Sau khi tờ trình cấp tín
dụng được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ được chuyển hồ sơ và tờ trình phê duyệt
sang Phòng Hỗ trợ tín dụng. Phòng Hỗ trợ tín dụng sẽ căn cứ vào các điều kiện đã
được cấp trên phê duyệt về việc cấp tín dụng cho Khách hàng đã hoàn thiện các thủ tục
Thang Long University Library


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status