1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của
đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
MỤC LỤC
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APG : Công ty cổ phần chứng khoán An Phát
CNTT : Công nghệ thông tin
CTCK : Công ty chứng khoán
GDCK : Giao dịch chứng khoán
GPĐK : Giấy phép đăng ký
GPHĐKD : Giấy phép hoạt động kinh doanh
HBBS : Công ty cổ phần chứng khoán Ngân Hàng Thương
Mại cổ phần Hà Nội
HĐQT : Hội đồng quản trị
NXB : Nhà xuất bản
OCS : Công ty cổ phần chứng khoán Đại Dương
OSC : Công ty cổ phần chứng khoán Đại Tây Dương
thách, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng
kể. Quy mô thị trường ngày một mở rộng thể hiện ở sự gia tăng số lượng
các công ty niêm yết, tỷ lệ vốn hoá thị trường, sự gia tăng số tài khoản của
các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển của thị trường, số lượng công ty
chứng khoán ra đời cũng ngày một nhiều hơn.Sự cạnh tranh giữa các công
ty chứng khoán đang ngày càng trở nên quyết liệt hơn đặc biệt trong bối
cảnh nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng hoảng như hiện nay. Chính vì
vậy, để tồn tại và phát triển thì các công ty chứng khoán không còn cách
nào khác là phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đa dạng
hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng.
2.
Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Công ty Chứng Khoán Đầu Tư Việt Nam (IVS) ra đời và đi vào hoạt động từ
tháng 8 năm 2007. Qua quá trình thực tập tại đây em nhận thấy, sau hơn 5
năm đi vào hoạt động, công ty cũng đã đạt được một số thành tựu nhất
định, tuy nhiên so với các công ty chứng khoán khác, năng lực cạnh tranh
của công ty vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy em chọn đề tài “Giải pháp nâng
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
cao năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng Khoán Đầu Tư Việt Nam
(IVS)”.
Chuyên đề được hoàn thiện với ba mục tiêu như sau:
Thứ nhất, hệ thống các vấn đề lý thuyết về công ty chứng khoán và năng
lực cạnh tranh của công ty chứng khoán.
Thứ hai, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng
Khoán Đầu Tư Việt Nam IVS, qua đó tìm ra những điểm có lợi thế cạnh
tranh và những điểm bất lợi thế trong cạnh tranh của công ty.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1.
Khái niệm công ty chứng khoán
Theo giáo trình Kinh doanh chứng khoán – NXB Tài Chính (năm 2010),
công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng
khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một vài dịch vụ chứng khoán với
mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Theo pháp luật Việt Nam, công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc
công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập hợp pháp và được Ủy ban
chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép để hoạt động kinh doanh dịch vụ
chứng khoán với các loại hình hay nghiệp vụ kinh doanh chính: môi giới
chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn tài chính, bảo lãnh phát hành
chứng khoán và đầu tư chứng khoán
1.1.2.
Mô hình tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán
1.1.2.1. Mô hình công ty chứng khoán đa năng
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động độc lập với tư
cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này chia làm hai loại:
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
- Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh phải lập công ty
độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do những
công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận,
các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Sơ đồ 1.2: Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi roc
ho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh
doanh chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
1.1.3.
Các nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán dự trên
hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo
đức.
1.1.3.1. Nguyên tắc tài chính
Do tính đặc thù trong hoạt động nên hầu hết các nước đều đặt ra các
nguyên tắc, quy đinh rất chặt chẽ về tài chính đối với công ty chứng khoán.
Thông thường, các công ty chứng khoán phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chí
sau:
∗ Mức vốn hoạt động: Vốn của công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc
vào loại tài sản cần tài trợ, loại tài sản này được quyết định bởi loại hình
nghiệp vụ thực hiện. Ở Việt Nam, theo điều 18, Nghị định số 14/2007/NĐ-
CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật chứng khoán năm 2006,
vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của công ty
chứng khoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh
công ty chứng khoán nước ngoài ở Việt Nam. Cụ thể:
∗ Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồngViệt Nam
điều lệ.
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
∗ Hạn chế đầu tư vào mỗi loại chứng khoán: thường hạn mức đầu tư vào các
loại chứng khoán niêm yết được đặt cao hơn hạn mức đầu tư vào các loại
chứng khoán không niêm yết.
∗ Hạn mức đầu tư vào một số những tài sản rủi ro cao như các loại trái phiếu
có mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của những công ty đang phát triển.
∗ Hạn mức bảo lãnh phát hành: vì hoạt động bảo lãnh phát hành có mức độ
rủi ro tương đối cao nên quy định hạn mức này nhằm giới hạn tổng mức
bảo lãnh trong cùng thời điểm của công ty chứng khoán.
∗ Hạn mức hoặc hạn chế đầu tư vào các quỹ đầu tư do công ty chứng khoán
quản lý.
Trong quản lý vốn của công ty chứng khoán ngoài việc xác định tỷ lệ nợ,
các công ty chứng khoán còn phải duy trì một mức vốn khả dụng để đảm
bảo khả năng thanh toán cho người đầu tư.
1.1.3.2. Nguyên tắc đạo đức
Các công ty chứng khoán cần phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sau:
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
∗ Phải hoạt động trên nguyên tắc trung thực, tận tuỵ, bảo vệ và vì quyền lợi,
lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo vệ lợi ích của khách hàng
trước lợi ích của chính mình.
∗ Phải có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ đước tiết lộ thông tin của
công ty chứng khoán đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao
dịch thông qua cơ chế giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán hoặc thị
trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả
giao dịch đó. Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách
hàng để hưởng phí hoa hồng, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao
dịch đó
Ngoài việc tiến hành giao dịch theo chỉ thị của khách hàng, công ty
chứng khoán thường cung ứng các dịch vụ tiện ích khác:
∗ Quản lý tiền gửi và tài khoản chứng khoán của khách hàng.
∗ Quản lý các lệnh giao dịch cho khách hàng.
∗ Vận hành các đầu mối thông tin tư vấn cho khách hàng về đầu tư chứng
khoán.
1.1.4.2. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán (Security investment
constuancy)
Là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng khoán, từ
đó đưa ra lời khuyên cho các khách hàng.
Với khả năng chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, họ sẽ đưa
ra các dự báo để khách hàng tham khảo, đưa ra quyết định đầu tư của
mình. Nhà tư vấn không chịu trách nhiệm về hậu quả các quyết định của
nhà đầu tư. Tùy vào loại hình tư vấn và thông tin nhà tư vấn cung cấp cho
khách hàng mà khách hàng có thể phải trả các khoản phí.
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
1.1.4.3. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán (Trading operation)
Là hoạt động mua bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi nhuận
từ việc đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá, cổ tức, lãi trái
phiếu và các quyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán.
∗ Cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL cam kết sẽ
mua toàn bộ chứng khoán phát hành cho dù phân phối được hết hay
không. Một nhóm các TCBL hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán
của TCPH với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng và bán lại
các chứng khoán đó theo giá chào bán. Hoa hồng bảo lãnh là phần chênh
lệch giữa giá mua chứng khoán của các TCBL và giá chào bán ra công
chúng.
∗ Cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL thỏa thuận là
đại lý cho TCPH, TCBL cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ
cố gắng tối đa để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân
phối hết sẽ trả lại cho TCPH phần còn lại
∗ Tất cả hoặc không: trong phương thức này, TCPH yêu cầu TCBL bán một số
lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được sẽ hủy toàn bộ
đợt phát hành.
∗ Tối thiểu và tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh
cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không. Theo
phương thúc này, TCPH yêu cầu TCBL bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán
nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, TCBL được tự do chào bán chứng
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
19
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán
được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
1.1.4.5. Nghiệp vụ khác
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, công ty chứng
khoán còn thực hiện nhiều nghiệp vụ khác như lưu ký chứng khoán, quản lý
sổ cổ đông, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn sát nhập, hợp nhất, tư
vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết,…
ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư , chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề
nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm
đi do cơ chế giao dịch của thị trường.
1.1.5.4. Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư
Các công ty chứng khoán không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách
hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc
nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin đó cho các công ty hoặc các cá
nhân nhà đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm:
Thu thập thông tin phục vụ cho mục đích của khách hàng
Cung cấp thông tin về các năng lực đầu tư khác nhau cũng như triển
vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai.
Cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến
các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
1.2.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1.
Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.2.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong
nhiều lĩnh vực và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ
khác nhau dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ
thể như sau:
Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành
động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì
thị phần nhằm mục đích cuối cùng là gia tăng lợi nhuận. Cạnh tranh
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
là một quá trình diễn ra liên tục nhằm mang đến một chất lượng
phục vụ tốt nhất cho khách hàng và nâng cao thương hiệu của đơn
vị”
1.2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là năng lực tồn tại trong kinh doanh và đạt được
một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất
lượng sản phầm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị
trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất
nhu các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực
lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp,
không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ
chức quản trị doanh nghiệp
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền
với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Có quan điểm
gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ,
cũng có quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với
hiệu quả sản xuất kinh doanh… Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi
thế của mình chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên
ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh
nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn
tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
CQ47/17.02
Sinh viên: Vũ Tiến
Cương
25
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Văn Quỳnh
tài chính sẽ tận dụng những lợi thế phát triển của thị trường vào chiến
lược đầu tư của mình làm gia tăng kết quả kinh doanh và cuối cùng sẽ giúp
nâng cao uy tín cho công ty chứng khoán. Qua đó có thể thấy năng lực tài
chính đóng góp một phần rất lớn trong việc tăng năng lực cạnh tranh cho
công ty chứng khoán.
1.2.2.2. Năng lực của đội ngũ lãnh đạo
Năng lực quản trị cao, tầm nhìn chiến lược của đội ngũ lãnh đạo cũng là
một nhân tố quyết định tạo nên năng lực cạnh tranh của công ty. Đội ngũ
cán bộ lãnh đạo có năng lực sẽ hướng công ty đi theo những định hướng
phù hợp với sự phát triển chung của thị trường. Thị trường chứng khoán
nói riêng và thị trường tài chính nói chung liên tục biến động, một quyết
định hiện tại sẽ là lạc hậu thậm chí là sai lầm chỉ ngay sau đó. Do vậy đội
ngũ lãnh đạo phải là người thực sự có tầm nhìn và năng lực quản lý. Lựa
được đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực sẽ quyết định tới sự thành công
hay thất bại cũng như năng lực cạnh tranh của công ty sẽ từ đó mà tăng
hay giảm.
1.2.2.3. Chất lượng nhân sự
Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm và trình độ chuyên
môn cao trong lĩnh vực tài chính, thái độ phục vụ và trình độ của nhân viên
sẽ là nhân tố tạo ra chất lượng cho dịch vụ tài chinhsm dịch vụ của công ty
chứng khoán. Do vậy tài sản quý giá nhất của công ty chứng khoán chính là
độ ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp, có năng lực và đạo đức kinh
doanh, là nhân tố mang tính chất quyết định tới năng lực cạnh tranh của
công ty chứng khoán.
CQ47/17.02