Báo cáo tốt nghiệp: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội”. - Pdf 15

Báo cáo tốt nghiệp

“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty chứng khoán Ngân hàng thương
mại cổ phần Nhà Hà Nội”. LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN 3
1.1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 3
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty chứng khoán 3
1.1.2. Vai trò, chức năng của các công ty chứng khoán 5
1.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán 8
1.1.4. Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán 16
1.2. Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán 20
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty chứng khoán 20
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty chứng
khoán 21

2.4.1. Kết quả đạt được 47
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 48
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NHÀ HÀ NỘI 50
3.1. Định hướng phát triển của công ty chứng khoán Habubank 50
3.2. Giải pháp 51
3.2.1. Xây dựng chính sách khách hàng 51
3.2.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. 54
3.2.3. Kế hoạch hóa doanh thu, chi phí và lợi nhuận 55
3.2.4. Tận dụng lợi thế sẵn có của ngân hàng mẹ. 55
3.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực. 56
3.2.6. Nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật. 59
3.2.7. Mở rộng phạm vi hoạt động 59
3.3. Kiến nghị 60
3.3.1. Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước. 60
3.3.2. Kiến nghị đối với ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội 63
KẾT LUẬN 65

1
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000. Trải
qua hơn 7 năm đi vào hoạt động, với bao thăng trầm thử thách, thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Quy mô thị trường ngày
một mở rộng thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty niêm yết, tỷ lệ vốn hoá
thị trường, sự gia tăng số tài khoản của các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển
của thị trường, số lượng CTCK ra đời cũng ngày một nhiều hơn. Cho đến nay đã
có khoảng gần 70 CTCK được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động. Sự cạnh
tranh giữa các CTCK đang ngày càng trở nên quyết liệt hơn đặc biệt trong bối

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội
Chương 3: Giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội 3
CHƯƠNG 1
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm
Mục tiêu của việc hình thành TTCK là thu hút vốn đầu tư dài hạn cho sự
phát triển của nền kinh tế, và tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán. TTCK
hoạt động hiệu quả dựa trên nguyên tắc cạnh tranh, công bằng, công khai và
trung gian. Để tuân theo nguyên tắc trên thì TTCK cần được vận hành thông qua
các trung gian tài chính làm cầu nối. Các trung gian môi giới chủ yếu là các
CTCK.
Theo giáo trình Thị trường chứng khoán do PGS.TS Nguyễn Văn Nam
và PGS.TS Vương Trọng Nghĩa chủ biên của trường Đại học Kinh tế quốc dân
“Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp
vụ trên thị trường chứng khoán”
Theo Luật Chứng Khoán 2006, CTCK được tổ chức dưới hình thức công
ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp
Như vậy có thể hiểu CTCK là một tổ chức kinh doanh chứng khoán có tư
cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK
1.1.1.2. Đặc điểm
Là một chủ thể kinh doanh, CTCK cũng có những đặc điểm tương đồng
với tổ chức và hoạt động của các công ty khác nói chung. Nhưng đồng thời, do


chứng khoán thường được tổ chức độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau và được
chuyên môn hoá ở mức độ rất cao. Vì vậy mà việc quản lý các hoạt động của
công ty có sự phân cấp rõ rệt, các bộ phận có quyền độc lập trong quyết định.
- Là doanh nghiệp hoạt động có điều kiện
Do tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của các CTCK trên thị trường tài
chính là rất lớn, nên tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đặt ra những rào
cản đối với các doanh nghiệp muốn tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực này.
Thông thường đó là những yêu cầu về vốn điều lệ, về đội ngũ cán bộ (kiến thức,
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, mức độ tín nhiệm, tính trung thực và có giấy
phép hành nghề), và các quy định tối thiểu về cơ sở vật chất. Thêm vào đó, trong
quá trình hoạt động, CTCK luôn chịu sự giám sát chặt chẽ vởi cơ quan quản lý
nhà nước (ở Việt Nam là Uỷ ban chứng khoán nhà nước)
1.1.2. Vai trò, chức năng của các công ty chứng khoán
1.1.2.1. Chức năng của các công ty chứng khoán
CTCK có các chức năng chính sau
- Cung cấp cơ chế huy động vốn: thông qua hoạt động mua bán chứng
khoán, thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành trên thị trường các
công ty chứng khoán tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền
nhàn rỗi đến người cần sử dụng nguồn vốn đó một cách nhanh chóng và hiệu
quả.
- Cung cấp cơ chế giá cả cho chứng khoán: TTCK là nơi gặp gỡ giữa
những người cần vốn và người có vốn nhàn rỗi để đầu tư vào chứng khoán. Hai

6
chủ thể này gặp nhâu trên TTCK thông qua hệ thống khớp lệnh hoặc khớp giá để
xác định giá giao dịch. Các CTCK đã giúp người bán gặp được người mua một
cách nhanh chón và hiệu quả, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho cả 2
bên
- Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho nhà đầu tư, tạo ra tính thanh
khoản cho các chứng khoán

định thị trường, can thiệp để điều tiết giá cả. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ
tự doanh, qua đó CTCK dành một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình (do luật
pháp quy định) để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
Thứ hai: các CTCK làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
Trên thị trường sơ cấp, do các CTCK thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành
nên giá chứng khoán đã được định giá phù hợp với thực trạng của tổ chức phát
hành và tình hình thị trường, vì vậy mà rút ngắn được thời gian phát hành chứng
khoán, giúp chứng khoán nhanh chóng được giao dịch Bên cạnh đó, hoạt động
môi giới và tư vấn của CTCK trên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản
cho chứng khoán, làm cho chúng hấp dẫn hơn trong con mắt nhà đầu tư.
- Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường là đảm bảo giao
dịch an toàn và kiểm soát thị trường. Vì vậy, việc thông tin được cung cấp cho
các cơ quan quản lý một cách đầy đủ là vô cùng quan trọng. CTCK thực hiện vai
trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý bởi họ vừa là người
phân phối các chứng khoán mới phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát

8
hành và đại lý phát hành, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện
các giao dịch trên thị trường. Các thông tin mà CTCK có thể cung cấp bao gồm
thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái
phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này,
các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao
túng và lũng đoạn thị trường.
1.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.1.3.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một CTCK đại diên cho khách hàng tiến hành gío dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải
chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.

mua bán các công cụ chứng khoán phái sinh…
Như vậy, mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho
chính công ty. Hoạt động này thực hiện song hành với hoạt đông môi giới, vừa
phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình,
vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện
giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định
và tính minh bạch của thị trường, pháp luật các nước đều yêu cầu các CTCK
phải đáp ứng một số yêu cầu nhất đinh
a. Điều kiện để thực hiện hoạt động tự doanh

10

- Điều kiện về vốn: để thực hiện hoạt động tư doanh, các công ty chứng
khoán phải có đủ một số vốn nhất định theo quy định của pháp luật. Việc quy
định mức vốn trên nhằm mục đích đảm bảo rằng các CTCK thực sự có vốn và
dùng vốn của họ để kinh doanh.
- Điều kiện về con người: con người cũng là yếu tố quyết định đến sự
thành công của hoạt động tự doanh. Chính vì vậy, nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự
doanh của Công ty phải có chuyên môn nhất định, có khả năng tự quyết cao và đặc biệt
là tính nhạy cảm trong công việc.
b. Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh
- Tách biệt quản lý: công ty chứng khoán phải tách biệt giữa hoạt động môi
giới và hoạt động tự doanh nhằm tránh các xung đột lợi ích giữa công ty và
khách hàng. sự tách biệt này bao gồm cả về yếu tố con người, quy trình nghiệp
vụ, vốn và tài sản của khách hàng, của công ty.
- Ưu tiên khách hàng: nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được
xử lý trước lệnh tư doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng
cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. Do CTCK có tính đặc
thủ về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các CTCK có
thể sẽ dự đoán trước diễn biến của thị trường và sẽ mua bán tranh của khách

hành.
 Đại lý phân phối chứng khoán.

12

Qua hoạt động bảo lãnh phát hành, các Công Ty Chứng Khoán thu về hoa
hồng bảo lãnh. Hoa hồng này có thể là cố định, có thể là tùy ý tùy từng Công Ty
Chứng Khoán.

13

Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

khoán
Nhà
nước
Nh
ận y
êu c
ầu bảo l
ãnh

Ký h
ợp đồng t
ư v
ấn quản lý

Đ
ệ tr
ình p/án bán, cam k
ết BL

L
ập nghiệp đo
àn b
ảo l
ãnh

Ký h
ợp đồng bảo l
ãnh

N

(Nguồn Trung tâm đào tạo UBCKNN) 1.1.3.4. Hoạt động tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích
để đưa ra các lời khuyên, phânt ích các tình huống và có thể thực hiện một số
công biệc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho
khách hàng. Đây là hoạt động khó và phức tạp đòi hỏi CTCK phải có kỹ năng và
am hiểu thị trường cũng như trách nhiệm, tính trung thực cao đối với những dịch
vụ mà mình cung cấp cho khách hàng
Để hiểu rõ về hoạt động tư vấn chứng khoán, chung ta có thể phân loại
hoạt động này theo một số tiêu chí sau:
* Theo hình thức của hoạt động tư vấn: có thể gồm
- Tư vấn trực tiếp: khách hàng có thể gặp trực tiếp nhà tư vấn hoặc sử
dụng các phương tiện liên lạc như điện thoại, fax… để hỏi ý kiến
Gi
ấy phép phát h
ành Ch
ứng
Phân ph
ối cổ phiếu tr
ên cơ s


Lưu k
ý ch
ứng khoán

hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán thông qua các tài khoản
lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi
vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung được thực hiện dưới hình thức
giao dịch ghi sổ. Khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các

16

CTCK nếu các chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ hoặc ký gửi các
chứng khoán nếu chúng được phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất.
* Quản lý thu nhập của khách hàng
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi
tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi
trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
* Nghiệp vụ tín dụng
Đối với TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng. CTCK còn triển khai dịch vụ cho khách hàng
vay chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách
hàng vay tiền để khách hàng thực hiện mua ký quỹ. Ở Việt Nam hiện nay, các
CTCK không được thực hiện hoạt động tín dụng, do đó, các CTCK không được
trực tiếp thực hiện dịch vụ này. Vì vậy, CTCK đứng ra làm trung gian giúp
khách hàng tiếp cận và vay vốn của ngân hang, đồng thời CTCK giup ngân hàng
phong toả các chứng khoán làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
1.1.4. Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.4.1. Mô hình của công ty chứng khoán
Là một định chế tài chính đặc biệt, hoạt động của các CTCK rất đa dạng
và phức tạp nên việc xác định mô hình kinh doanh của nó cũng có những điểm
không giốn nhau giữa các nước. Mô hình kinh doanh của các CTCK tại mỗi
quốc gia phải phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi
hại của những người làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, có thể khái quát
thành 2 mô hình cơ bản


hệ thống ngân hàng. Do những hạn chế này, đặc biệt sau cơn khủng hoảng 1929-
1933, mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán đã không còn được ưa chuộng.
b. Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty
độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng
không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng,
tạo điều kiện để các CTCK đi sâu vào chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng
khoán để thúc đẩy thị trường phát triển
Mô hình này được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật Bản,
Hàn Quốc…
1.1.4.2. Tổ chức của công ty chứng khoán
Hiện nay có ba loại hình tổ chức CTCK cơ bản là: công ty hợp danh, công
ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Ở Việt Nam, theo luật chứng khoán
2006, CTCK được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hoặc công ty cổ phần
theo quy định của Luật doanh nghiệp. Quy định này, giúp CTCK có khả năng
huy động vốn lớn và giới hạn rủi ro trong phạm vi góp vốn.
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình ngiệp vụ chứng khoán
mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của
công ty đó. Tuye nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban
chức năng được chia làm 2 khối khác nhau là khối nghiệp vụ (front office) và
khối phụ trợ (back office)
- Khối nghiệp vụ: là khối thực hiện các giao dịch mua bán kinh doanh
chứng khoán, nói chung là có liên hệ với khách hàng. Khối này đem lại thu nhập
cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm

19

phù hợp với nhu cầu đó. Tương ứng với từng nghiệp vụ cụ thể, công ty có thể tổ

hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Theo Longman: “Cạnh tranh là hoạt động của một cá nhân hay tổ chức cố
gắng để chiến thắng hoặc giành được công việc kinh doanh từ các đối thử của
mình”
Theo kinh tế học: “Cạnh tranh là sự sự giành giật thị trường (khách hàng)
để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”
Ngày nay, cạnh tranh là một điều tất yếu khách quan trong một nền kinh tế
thị trường. Đặc biệt, TTCK là một môi trường cạnh tranh rất sôi động và chịu
nhiều tác động của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Từ
những TTCK sơ khai nhất đến những TTCK phát triển thì vấn đề cạnh tranh
giữa các CTCK luôn diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt và gay gắt ngay trong chính
bản thân các CTCK ở trong nước với nhau. Hơn thế nữa, trong điều kiện nền
kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay, khi chúng ta phải thực hiện rất nhiều cam kết
với các tổ chức quốc tế, cộng với nữa đó là xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế,
quá trình hội nhập của các quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ thì các quy định mang
tính chất giới hạn hành chính trong lĩnh vực tài chính tiền tệ sẽ được xoá bỏ hoặc
nới lỏng để phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá về tài chính - tiền tệ. Thực sự
việc hội nhập trong lĩnh vực tài chính tiền tệ là một trong những thách thức lớn
nhất của nhiều tổ chức tài chính – ngân hàng nói chung ở nước ta. Vì vậy, việc
nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn đối với các CTCK.

21

Năng lực cạnh tranh của CTCK là thể hiện thực lực và lợi thế của công ty
so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng
để thu lợi ngày càng cao hơn. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một CTCK
cần phải xác định các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực
hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định
lượng.


hàng trung thành của mình.
 Mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ
Đa dạng ở đây được hiểu là sự phát triển đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của
công ty (Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán). Không chỉ là tiêu chí đánh giá mức độ
phát triển, sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán còn thể hiện khả
năng giảm thiểu rủi ro của CTCK khi tham gia thị trường
 Cơ sở hạ tầng công nghệ:
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ áp dụng và hiệu quả của việc áp dụng các
tiến bộ của khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin trong hoạt động kinh
doanh.
 Quy mô mạng lưới chi nhánh
Một công ty chứng khoán với nhiều chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý
nhận lệnh phát triển rộng khắp sẽ giúp CTCK đưa được các sản phẩm dịch vụ
của mình đến với đông đảo nhà đầu tư hơn. Điều này làm tăng tính tiện lợi cho

Trích đoạn Xây dựng chính sách khách hàng Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Đào tạo nguồn nhân lực Kiến nghị với Uỷ ban chứng khoán nhà nước Kiến nghị đối với ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status