- VNĐ : Việt Nam Đồng
- NT : Nghiệm thức
- GCT: giống cây trồng
- PTN: Phòng thí nghiệm
- ĐHQG: Đi hc quốc gia
1
Trồng hoa và kinh doanh hoa đang là một ngành đem li lợi nhuận kinh tế cao
Từ lâu con người đã gắn bó, gần gũi với thiên nhiên. Thiên nhiên là nơi đã mang đến
cho con người nhiều quà tặng vô giá, một trong những món quà vô giá đó là hoa. Hoa
làm cho cuộc sống con người thêm phần thi vị và ý nghĩa. Khi đời sống đang ngày
càng được nâng cao, con người càng hướng tới sự hưởng thụ, thưởng thức cái đẹp thì
nhu cầu về hoa li không thể thiếu. Từ đó mà một nghề mới được ra đời và đem li lợi
nhuận lớn đó là nghề trồng và kinh doanh hoa.
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu hoa ngày càng lớn đòi
hỏi nghề trông hoa phải có giống hoa mới l, hấp dẫn để đáp ứng thị hiếu của thị
trường. Hoa lily (lilium longoflorum) là một loài hoa cao cấp có vẻ quyến rũ, màu sắc
phong phú, hương thơm và độ bền hoa cắt cành cao (10-15 ngày), dễ thu hoch và bảo
quản đã và đang chiếm lĩnh thị trường hoa tươi trên thế giới và Việt Nam. Hoa Lily
không chỉ để trang trí mà còn sử dụng để điều chế nước hoa, mỹ phẩm, kem lão hóa…
2
Do đó hoa lily là một loi hoa mang li lợi nhuận rất to lớn. Hiện nay, ở nước ta giá
trung bình trên thị trường một cành hoa lily là từ 15.000 đến 30.000 VNĐ/cành, thậm
chí là 60.000 VNĐ/cành vào dịp lễ tết.
Ở Việt Nam hoa Lily đã trồng thành công ở nhiều tỉnh như Lâm Đồng, Lào
Cai, Hà Nội…Tuy nhiên, chúng ta phải thường xuyên nhập giống từ nước ngoài với
chi phí khá cao từ 10.000 – 15.000 VNĐ/củ giống và không chủ động nguồn giống.
hoa thực vật một lá mầm. Cây hoa lily có nguôi gốc từ Nhật Bản và các nước ở châu
Âu. Hoa lily được trồng ở Đà Lt từ năm 1945 với các giống ở Hà Nội từ năm 1970,
Đà Lt đã nhập giống lily từ Hàn Quốc, Nhật Bản . Hiện nay, hoa lily đang được trông
phổ biến ở nhiều nơi như Hà Nội, Đà Lt…
B?A+1#+CA#AD
Bộ : Liliales
H : liliaceas
Chi : Lilium
Loài : L. longiflorum
Theo hệ thống phận loi của Takhtajan cây lily thuộc ngành ht kín Angiospermae
lớp một lá mầm Monocotyledoneae hay lớp loa kèn Liliopsida, phân lớp loa kèn
Liliae, bộ loa kèn Liliales, h loa kèn Liliaceae (Hoàng Thị Sản, 2003; Nguyễn Nghĩa
Thìn, Đặng Thị Sy, 2001). H Liliaceae là một trong những h lớn nhất với 200 chi và
hơn 3000 loài. Chi Lilium gồm khoảng 220 loài, trong đó có một số loài đã được trồng
cách đây 3000 năm. Sau năm 1950, khoảng 100 giống lily mới đã được lai to và đăng
ký tên trên thế giới với nhiều giống lai có nguồn gốc từ hai loài Nhật Bản L.auratum
và L.speciosum (Pelkonen, 2005).
Trung Quốc là nước có nhiều chủng loi lily nhất và cũng là trung tâm, nguồn gốc
lily trên thế giới. Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng 460 giống, 280 biến
chủng (chiếm trên 1/2 tổng giống hoa lily trên thế giới), trong đó có 136 giống, 52
biến chủng do Trung Quốc to ra. Nhật, Hàn Quốc có 110 giống trong đó có 30 giống
mang đặc trưng của nước này. Hà Lan có khoảng 320 giống, trong đó 805 là các giống
5
do chính Hà Lan to ra…Cuối thế kỷ XVI, các nhà thực vật hc người Anh đã phát
hiện và đặt tên cho các cây giống lily. Đầu thế kỷ XVII Lily được di thực từ Châu Âu
đến Châu Mỹ. Sang thế kỉ XVIII các giống lily của Trung Quốc được di thực sang
Châu Âu do vẻ đẹp và mùi thơm hấp dẫn nên cây lily đã nhanh chóng phát triển và
được coi là cây hoa quan trng của Châu Âu, Châu Mỹ.Vào cuối thể kỷ thứ XIX bệnh
virut ở lily lây lan mnh, tưởng chừng cây lily bị hủy diệt. Đến đầu thế kỷ XX khi
người ta phát hiện ra giống lily thơm ở Trung Quốc (L.regane) có khả năng chống chịu
+ Loi hoa hướng ra ngoài: các giống thường thấy là: Braudwine, Corsage,
Proopierity
+ Loi hoa chúc xuống: các giống thường thấy là: BlackButtylly, Conneticutyan,
wtonella
Nhóm lily lai hoa trắng( Condidum hybrids): Các giống thường thấy là:
Beerensiik, Prankfonce, hughes Apiricot, Whito Might…Nhóm lai lily Châu Mỹ
(American hybrids): Bắt nguồn từ L.paradalinum, L.parue, sinh trưởng ở châu Mỹ. các
giống thường thấy là: Shuksau, Belliungham, Bellauaud …
Nhóm lai lily thơm(Longgiflorum hybrids): Còn gi là lily pháo do lily thơm
(L.longiflorum), lily Đài Loan(L.porosanum) lai to ra, đặc điểm là hoa có hình dáng
giống loa kèn, các giống thường thấy là: Avita come, Gelria, Snow Qeen …
Nhóm Lily lai hoa kèn( trumpet hybrids ): Bắt nguồn từ lily Thông Giang
(L.sargeutac), lily Nghi Xương (L.lecauthum), lily Hồ Bắc, lily Vương lai với nhau.
Dựa vào hình dng hoa có thể chia ra :
+ Hoa hình cái bát, thường thấy là: Firstlove, Hertsdesire, Newera…
+ Hình hoa loa kèn, có các giống: Apricau Qeen, Black Dragon, Black Magic…
Hoa chúc xuống hoặc cong ngược li, các giống thường thấy là: Christmas day,
Golldin Showers, Summer Song…
+ Hình mặt trời mc, cành hoa cong li, các giống thường thấy là: Brightstar,
Golden Sunburst, Magic…
Nhóm lai phương đông (Orubellum) L.aurtum, L.spociosum, lily đỏ
(L.rubellum0, lily nhật (L.piponcum) lai với lily Hồ Bắc to ra. Căn cứ vào hình dáng
hoa, nhóm này được phân làm 3 loi:
+ Loi hoa loa kèn (hiện nay chưa có giồng đăng ký).
+ Loi hoa hình bát, các giống thương thấy là: Bonpire, Casa Blanca, Empiress,
7
Opchina…
+ Loi hình hoa bằng dài là cánh hoa cong ngược li.
Nhóm lily nguyên chủng: Bao gồm tất cả các loi, các biến chủng biến hình
nguyên bản xuất xứ của nó. Ở Việt Nam, ngoài giống hoa loa kèn màu trắng được
dẹp, xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu hoặc ba góc, vuông dài.
#%)#O,#-#
Cây lily sinh trưởng, phát triển tốt khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về điều kiện
sinh thái. Trong đó các yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, nước, không khí, đất và dinh
dưỡng là yếu tố quan trng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát dục của
cây. Các yếu tố này không thể thay thế được cho nhau và tác động tương hỗ lẫn nhau,
và không thể thiếu yếu tố nào cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lily.
#OP
Nói chung lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ
thích hợp ban ngày là 20-25
0
C, ban đêm là 12
0
C. Các giống thuộc nhóm tp giao
Phương Đông thời kỳ đàu thích hợp nhiệt độ ban ngày là 20
0
C, ban đêm là 15
0
C.
Nhóm lily thơm chịu nòng tốt, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 25-28
0
C, ban đêm 18-
20
0
C. Dưới 12
0
C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian đầu nhiệt độ thấp thích
hợp cho sự ra rễ và phân hóa hoa. Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát
dục của lily, quan trng nhất ảnh hưởng đến sự nảy mầm của ht, sự phát dục của thân
và sinh trưởng của lá, điều tiết sự phân hóa hoa và sự ra hoa…
giống thuộc nhóm Phương Đông li yêu cầu thấp hơn(pH từ 5,5-6,5).
#TU
Lily yêu cầu mức độ phân bón cao nhất trong ba tuần đầu kẻ từ sau khi trồng.
Tuy nhiên, lúc này rẽ non dễ bị ngộ độc muối. Muối trong đất có từ ba nguồn: phân
bón, nước tưới và hàm lượng dinh dưỡng của cây trồng trước vụ trước. Vì vậy để tránh
tác hai của muối trong đất, trước khi trồng 6 tuần cần phân tích đất để biết ham lượng
muối. Lily cũng mẫm cảm với hợp chất chứa Clo, yêu cầu lượng Clo trong đất không
vượt quá 1,5mol/l, nêu không sẽ hi rễ. Lily cũng mẫn cảm với Flo, nếu hàm lượng
Flo trong không khí cao dễ gây cháy lá. Vì vậy không được bón phân chứa Flo như
muối Flophotphat mà phải bón loi phân có hàm lượng Flo thập như CaHPO
4
. Đất
thiếu Ca, lily dễ bị vàng lá, lá phát triên không gn .
&II,*V%+CA#ADW$X#0#
10
Hoa lily căt cành là một loi hoa đẹp, hiện đang là một trong 6 loi hoa cắt phổ
biến và có giá trị nhất. Hoa lily được nhiều người biết đến và ưa chuộng bợi vẻ đẹp
sang trng, quyến rũ và hương thơm thanh nhã cũng như độ bền của hoa (9-15
ngày)trên thế giới hoa lily được trồng ở nhiều nước Châu Âu như: Hà Lan, Pháp, Đức,
Bỉ…
Hiện nay hoa lily cũng xuất hiên nhiều ở các nước Châu Á như: Việt Nam,
Trung Quốc, kenia…
Năm 1997, Hà Lan có 356 ha lily, đứng thứ 2 trong tổng diện tích hoa cắt trồng
bằng củ (sau Tuy líp). Sở dĩ hoa lily được phát triển mnh trong những năm gần đây là
do người Hà Lan đã to ra rất nhiều giống mới có hoa đẹp, chống chịu sâu bệnh tốt,
năng suất cao. Ngoài ra còn do kỹ thuật điều khiển hoa phát triển nhanh có thể cho hoa
quanh năm. Một nguyên nhân nữa là do có sự đầu tư cơ giới hoá trong việc trồng và
chăm sóc đã làm giảm giá thành, vì vậy đã làm hiệu quả kinh tế từ việc trồng hoa lily
cao hơn hẳn trước đây.
Hiện nay, Hà Lan mỗi năm trồng 18.000ha hoa lily, trong đó xuất khẩu 70%.
Đà Lt là nơi hiện đang có diện tích trồng lily nhiều nhất so với các địa phương
khác trên cả nước (chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa), còn ở Hà Nội,
Hải Phòng chỉ mới trồng mang tính chất thử nghiệm. Tình hình phát triển hoa lily ở Đà
Lt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của các giống hoa
nói chung và cho hoa lily nói riêng, một phần do kỹ thuật trồng Lily của Đà Lt tương
đối cao nên hoa sinh trưởng phát triển khá tốt. Hiện nay, lily là một trong những loi
hoa đem li hiệu quả kinh tế cao nhất cho một số công ty hoa ở Đà Lt. Hoa lily cắt
cành mới phát triển gần đây nhưng do có dáng đẹp, mùi thơm quý phái, màu sắc hấp
dãn, quanh năm có hoa, được rất nhiều người ưa chuộng do vậy nhu cầu tiêu dùng sẽ
ngày càng cao.
Hiện nay, ở Việt Nam lily được xếp vào loi hoa cao cấp, thường đắt gấp 10-15
lần so với các loi hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng, hồng môn, chỉ sau phong lan, địa
lan. Vì bán được giá cao nên việc trồng lily đang thu hút lớn các nhà đầu tư cả trong
và ngoài nước, chính vì thế nghề này rất có triển vng phát triển.
Các giống hoa lily trồng phổ biến ở Việt Nam:
Giống TIBER: Hoa màu nâu hồng, lá to đầu tròn, số hoa trên cành 3-5 hoa, hoa
to, cây cao vừa phải (80-90cm).
12
Giống SIBERIA: Hoa màu trắng, lá to nhn, số hoa trên cành 4-5 hoa, hoa to, cây
thấp (60-70cm).
Giống ACAPULCO: Hoa hồng sẫm, lá to nhn, số hoa trên cành 3-5 hoa, hoa
vừa, cây cao (90-120cm)
Giống SORBONNE: Hoa màu hồng nht, lá nhỏ, số hoa trên cành 6-7 hoa, hoa
nhỏ, cây cao (90-120cm).
Giống STARGAZER: Cây cao trung bình 100cm, viền cánh hoa màu trắng, các
phần khác đỏ, có đốm tím nâu, ra hoa vừa, hoa rất đẹp, là giống được trồng phổ biến ở
Trung Quốc.
Theo dự án sản xuất hoa thương mi, hoa lily được xem là một trong 4 loi hoa
quan trng, được đưa vào nghiên cứu. Tuy nhiên, ở nước ta diện tích trồng hoa lily rất
ít và tp trung chủ yếu ở Đà Lt, Sa Pa, Hà Nội…Ti Đà Lt ,hằng năm xuất được
thành một cơ thể mới.
Nhân giống bằng cách tách củ:
Tách củ là phương pháp nhân giống bằng cách củ con được sinh ra từ củ mẹ.
Có thể trồng cây chuyên để nhân giống. cũng có thể kết hợp với sản xuất hoa vụ hè để
nhân giống, nhưng do thời điểm này , khí hậu nóng nên chất lượng củ loi này kém.
Mỗi củ mẹ đều có thể có 3 – 5 củ con tương đói lớn (chu vi 5cm trở lên) và 4 – 8 củ
nhỏ (chu vi 1-3cm). nhưng củ có chu vi 5cm trở lên đen trồng sau một vụ có thể thành
củ nhỡ để sản xuất hoa(10cm trở lên), củ có chu vi 1-3cm thì phải trồng 2 vụ mới
thành củ sản xuất hoa được.
Nhân giống bằng mầm ht:
Có một số lily có nách có thể ra nhiều mầm ht màu đen tím. Mầm hi là do
một số vảy hợp li, nó có thể ra rễ, ra lá; nếu hái xuống có thể trồng thành cây con,
trồng giống như trồng bằng ht.
14
Tóm li , các phương pháp trên có rất nhiều ưu điểm nhưng nếu nhân giống liên
tục nhiêu năm thì virut tích lũy li và truyền tù thế hệ này sang thế hệ khác, làm sinh
trưởng, phát triển yếu, hoa nhỏ và hệ số nhân giống chưa có thể nhu cầu trồng và sản
xuất hoa lily của nước ta. Đặc biệt là quy mô sản xuất công nghiệp đang phát triển
mnh. Hiện nay, nếu phải nhập nội giống từ Hà Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc với giá
thành 10.000 - 12.000 VNĐ/củ thì chi phí ỏ ra cho sản xuất là rất cao. Phương pháp
nuôi cấy mô tế bào là phương pháp nhân giống mới hiện nay trên thế giới và rất mới ở
Việt Nam, phương pháp này có thể khắc phục được nhược điểm trên và đáp ứng nhu
cầu sản xuất.
]%R#"D##W++CA#AD^#OCH
Theo tp chí khoa hc và phát triển 2013,tập 11 số 8: 1109-1117, ông Nguyễn
Văn Tỉnh, Nguyễn Xuân Kết, Đặng Văn Đông, Hoàng Minh Tấn thuộc Viện nghiên
cứu rau quả và hội Sinh lí thực vật Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất củ hoa lily bằng
phương pháp tách vảy củ ti miền bắc Việt Nam và đã mang li kết quả tốt.
Các nhà khoa hc của Phân viện sinh hc Đà Lt, Viện sinh hc nhiệt đới,
Trường Đi hc khoa hc tự nhiên TP.HCM vừa nghiên cứu thành công việc nhân
0,2% trong
thời gian 5 phút, sau đó cấy trên MS có bổ sung các thành phần vitamin, chất hữu cơ
và đường sacaroza. Sau khi to được cây con có thể tiếp tục nhân bằng cách tách các
vảy củ đã to thành đem cấy vào trong môi trường nhân.
Năm 1995, Dương Tấn Nhựt cũng đã thành công trong nghiên cứu nhân giống
hoa loa kèn bằng nuôi cấy đỉnh sinh trưởng được tách từ chồi phát triển đến khi thân
chính phân đốt thì tiến hành cắt thân chính thành nhiều đốt nhỏ và tiến hành nhân
nhanh.
Năm 1996, Nguyễn Quang Trch, Nguyễn Thị Nhẫn, Nguyễn Phương Thảo đã
nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy in vitro trên giống hoa lily màu tím mới
nhập nội từ Pháp và đưa ra quy trình nhân giống kể từ khi đưa mẫu vào đến khi sản
xuất ra củ giống.
Năm 1997, Hoàng Minh Tấn và Cao Ngc Thúy đã khẳng định hiệu quả kinh tế
của việc xử kí nhiệt độ thấp cho củ hoa lily. Xử lí giống ở điều kiện 5
0
C trong 20 ngày
đã giúp cho củ nảy mầm trước 1 tháng và rút ngắn thời gian sinh trưởng từ 193 ngày
xuống 114 ngày.
16
Năm 2000, Dương Tấn Nhựt đã ứng dụng thành công kỹ thuật cắt lát mỏng tế
bào đon thân vào nuôi cấy in vitro giống hoa lily L.longiforum.
Năm 2001, Nguyễn Thị Nhân, Nguyễn Quang Thch đã thành công trong lĩnh
vực nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật ti củ in vitro trong công tác nhân giống hoa lily.
Năm 2003, Đỗ Năng Vịnh đã nghiên cứu về ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy bằng
phản ứng sinh hc trong nhân giống cây hoa lily.
Năm 2004, Dương Tấn Nhựt và cộng sự đã nghiên cứu về ht nhân to của hoa
lily.
Năm 2005, Nguyễn Thị Lý Anh, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Quang Thch đã
nghiên cứu to củ lily bằng in vitro và sự sinh trưởng của cây lily trồng từ củ bằng
phương pháp in vitro.
NAA trong sự tái sinh chồi. Ngoài ra BAP cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát
triển của chồi.
Năm 1986, một số tác giả đã nghiên cứu quy trình nhân nhanh củ cây hoa lily
bằng phương pháp nuôi cấy in vitro trên môi trường bổ sung axit Abcisic. Kết quả cho
thấy rằng axit Abcisic có thể ức chế quá trình to mô sẹo, kích thích quá trình hình
thành củ và làm mập chồi.
Năm 1993, Stanilova.M và Zagorska (Bungari) cũng khẳng định vảy củ là
nguyên liệu tốt cho việc tái sinh chồi từ mô nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung
0,5mg/l α-NAA +0,1mg/l Kinetin to ra các giống cây trồng đồng đều về chất lượng.
Năm 1995, các nhà nghiên cứu người Mỹ Wicksemesinhe - E, Holcomb -E,
Arteca - R đã to ra được mô sẹo từ mô lá non của Easter lily khi nuôi cấy trên môi
trường MS có bổ sung B5 + 20g/l Gelrite trong điều kiện bóng tối hoặc có chiếu sáng
16h/ngày ở nhiệt độ 250C. Sau 3 tuần và được cấy chuyển sang môi trường 0,1ppm
2,4D+ 0,5 ppm BAP thì các mô sẹo bắt đầu phát sinh các cơ quan.
Năm 1995, Verron và cộng sự đã thành công khi tiến hành nuôi cấy đon thân,
chồi đỉnh, chồi nách của cây hoa lily trên môi truờng MS có bổ sung vitamin và 0,1 -
0,7 ppm α-NAA +1,3 - 8,0 ppm BAP = 30g/l glucoza.
Năm 1997, Takayama và Misawa đã nghiên cứu khả năng tái sinh chồi lily nuôi
18
cấy từ cánh hoa lily.
Hà Lan là nước thành công nhiều trong lĩnh vực nuôi cấy in vitro cây hoa lily
trên môi trường đặc (agar), chồi phát triển mnh, cho hệ số nhân chồi cao. Trong
những năm 1986 - 1992 nguồn giống hoa lily in vitro ở Hà Lan đã đt gấp 10 lần so
với các loi cây hoa khác như: hoa Cúc, Layơn
Hiện nay, Nhật Bản đã thành công trong việc to giống cây hoa lily in vitro
bằng kỹ thuật di truyền (năm 1994, Miyoshi - H, Tanaka - I đã chuyển gen bằng
phương pháp sốc điện vào tế bào của cây hoa lily).
Ngoài lĩnh vực nuôi cấy in vitro, cũng có nhiều nghiên cứu khác trên cây hoa
lily của nhiều tác giả trong và ngoài nước như: Kéo dài thời gian bảo quản hoá bằng
chất kháng etylen (Swart, 1981), ngâm củ giống trong dung dịch kháng etylen làm
kiện vô trùng với các mục đích khác nhau. Mội trường có chứa các chất dinh dưỡng
thích hợp như muối khoáng, vitamin, các hoocmon tăng trưởng và đường.
` 6e",f>-W#G"KC%R#"DHRaX@2+b"c
Kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật đã trải qua hơn một trăm năm phát
triển. Có thể chia quá trình phát triển thành 4 giai đon:
/#C#+1)^#V0J`g`dg&hL
Bắt đầu từ những thí nghiệm đầu tiên của Haberlandt (1898) khi ông đề xướng
ra tính toàn năng của tế bào và tìm cách nuôi cấy tế bào phân lập từ tầng tế bào lược, tế
bào tầng nhu mô, tầng biểu bì và lông hút của thực vật để chứng minh cho luận điểm
của ông, nhưng ông đã không thành công. Vì ông đã tách những mô đã qua chuyên
hoá hoàn toàn vào môi trường dinh dưỡng quá đơn giản.
Winkler (1902, Thielman (1924), Kuster (1928) cũng đã tiến hành tương tự như
ông nhưng không nhận được tế bào phân chia nào. Winkler đã có những quan sát rất
tinh tế. Ông nhận thấy: tế bào noãn trương lên khi ht phấn nảy mầm và đề nghị nuôi
tế bào phân lập cùng với ống phấn trong một giá treo để bắt ống phấn kích thích tế bào
dinh dưỡng phân chia. Ngoài ra ông còn đề nghị bổ sung vào môi trường dinh dưỡng
dịch chiết từ các mô dinh dưỡng khác, ví dụ như dịch lấy từ túi phôi và ông tin rằng
bằng con đường đó có thể nuôi thành công một tế bào dinh dưỡng phân lập thành phôi.
Phải đến năm 30 của thế kỷ XX người ta mới đt được những tiến bộ thực sự.
20
Schmucker (1929), Schettrer (1931), Pfeifer (1931), Larue (1933) đã thành công trong
việc nuôi cấy mô tế bào tực vật từ đầu rễ tách rời của cây hoà thảo trên môi trường
dinh dưỡng gồm có đường glucoza và muối khoáng. Đây là tiến bộ đánh dấu một giai
đon phát triển mới.
/#C#+1#$"i%,#AjJg&hdgYhL
Năm 1934, White đã thành công khi nuôi cấy rễ cà chua. Tế bào của mô nuôi
cấy đã sinh trưởng và phân chia liên tục trong 4 tháng trên môi trường lỏng có chứa
muối khoáng, glucoza, và dịch chiết nấm men.
Cùng năm đó, Gauthret thông báo thành công trong việc nuôi cấy mô tách từ
tượng tầng của cây Salix apraea và cây Populus nigra. Mô nuôi cấy đã liên tục phân
bộ nhiễm sắc thể đơn bội từ nuôi cấy bao phấn.
Nisch (1967), Nakata (1968) to được cây đơn bội từ bao phấn cây thuốc lá.
Năm 1968, Niieki và Ono nuôi cấy thành công bao phấn và to được cây đơn
bội từ lúa (Oryza sativa).
Năm 1971, Takebe tái sinh được cây thuốc lá hoàn chỉnh protoplast thuốc lá
Xanthi.
Năm 1977, Melchert lai soma thành công cây cà chua và cây khoai tây.
Năm 1985, cây thuốc lá mang gen biến np đầu tiên được công bố.
Năm 1994, giống củ cải đường mang gen kháng bệnh virus biến np được đưa
vào sản xuất đi trà ti Nauy. Ti Mỹ có hàng trăm giống cây mang gen biến np đã
được người tiêu dùng chấp nhận. Thế nhưng cho đến nay những quy định về an toàn
sinh hc của các nước đang còn khác nhau. Vì thế việc đưa cây trồng mang gen biến
np vào sản xuất đi trà còn phụ thuộc vào trình độ khoa hc và chính sách của từng
nước.
`&,^)+Ck""KC%R#"DHRX@2+
S+2l"KCX@2+
Năm 1902, Haberlandt (Đức) là người đầu tiên đề xướng hc thuyết về tính
toàn năng của tế bào (topipotency) trong cuốn sách "Thực nghiệm về nuôi cấy mô tế
22
bào tách rời". Theo ông: "Mỗi tế bào của một cơ thể đa bào đều mang trong mình đầy
đủ các thông tin di truyền để kiến to nên một cơ thể hoàn chỉnh. Vì vậy khi đặt tế bào
vào trong điều kiện thuận lợi, nó có thể phát triển thành một cơ thể". Tính toàn năng
cho phép từ những cơ quan, bộ phận của cơ thể có thể tái sinh thành cây hoàn chỉnh
đồng nhất về mặt di truyền với cây mẹ.
mb>?+-2>*>?+-"KCX@2+b"c
Cơ thể sinh vật trưởng thành gồm nhiều cơ quan có nhiều chức năng khác nhau
được hình thành từ nhiều loi tế bào khác nhau. Nhưng tất cả các loi tế bào đó đều bắt
nguồn từ một tế bào ban đầu (tế bào hợp tử). Ở giai đon đầu, tế bào hợp tử phân chia
thành nhiều tế bào phôi sinh chưa mang chức năng chuyên biệt (chuyên hoá). Sau đó,
từ các tế bào phôi sinh này chúng tiếp tục được biến đổi thành các tế bào chuyên hoá
R#W[%R#"D
Mô nuôi cấy bị tách rời ra khỏi cơ thể mẹ nên mất khả năng tự dưỡng vì vậy để
cho mô tồn ti và phân hoá thì trong các giai đon nuôi cấy phải to ra được môi
trường nuôi cấy có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho mô nuôi cấy. Cho đến
nay, đã có nhiều loi môi trường dinh dưỡng được tìm ra: Môi trường Murashige và
Skoog (1962) viết tắc là MS, môi trường Linsmainer và Skoog (1963), môi trường
Gamborg (1968), môi trường Knop (1974) Đây là những môi trường cơ bản và sẽ
được cãi biến ra nhiều loi môi trường khác nhau cho phù hợp với mỗi đối tượng
nghiên cứu và mục đích thí nghiệm. Trong số đó, môi trường MS được đánh giá là phù
hợp nhất cho đa số các loài thực vật (Smith và Gould) và chính Murashige (1974) đã
dùng môi trường này để nuôi cấy nhiều loi cây trồng.
Thành phần của môi trường nuôi cấy tế bào thay đổi tuỳ theo từng loi thực vật,
loi tế bào, mô, cơ quan được nuôi cấy, các giai đon sinh trưởng, phát triển của mẫu
cấy, cũng như mục đích nuôi cấy. Tuy nhiên môi trường nuôi cấy mô tế bào thực vật
đặc trưng đều chứa các thành phần sau:
Các nguyên tố đa lượng (gồm muối nitơ, phốt pho, magie, canxi, kali, lưu
huỳnh): là thành phần không thể thiếu được vì chúng tham gia cấu thành các cơ quan
tử trong cơ thể thực vật (Anderson, 1980).
24
Các nguyên tố vi lượng (muối sắt, kẽm, đồng, mangan, coban, molipden, bo,
iôt). Các nguyên tố này tuy có hàm lượng thấp nhưng có vai trò quan trng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của thực vật ở giai đon xuân hóa (Lê Văn Chi, 1992), ngoài ra
nó còn là thành phần của enzym xúc tác cho các phản ứng sinh hoá trong cơ thể. Ví dụ
thiếu sắt tế bào mất khả năng phân chia; thiếu mangan thì phân bào kém; thiếu bo gây
thừa auxin làm mô nuôi cấy có biểu hiện mô sẹo hoá mnh nhưng li xốp, mng nước
và tái sinh kém; molipđen tác động trực tiếp lên quá trình trao đổi đm trong tế bào
thực vật.
Nguồn cacbon: Khi nuôi cấy in vitro thì các tế bào thực vật không có khả năng
quang hợp và do đó đòi hỏi phải cung cấp nguồn cacbon để to năng lượng cho các
quá trình sinh lý, sinh hoá diễn ra bình thường trong tế bào. Đường sucrose là nguồn