Số hóa bởi trung tâm học liệu
TÍM (Amomum Longiligulare T.L.Wu) BẰNG PHƢƠNG PHÁP
NUÔI CẤY MÔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu ®¹i häc th¸i nguyªn
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐÀO DUY HƢNG
XÂY DỰNG QUY TRÌNH TÁI SINH GIỐNG SA NHÂN TÍM
(Amomum Longiligulare T.L.Wu) BẰNG PHƢƠNG PHÁP
NUÔI CẤY MÔ
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Mã số
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 8 năm 2013
Học viên Đào Duy Hƣng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Ngô Xuân
Bình là thầy trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn:
- Tập thể các anh chị đồng nghiệp Bộ môn Công nghệ tế bào - Viện
Khoa học Sự sống đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành công
việc nghiên cứu của mình.
- Tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Khoa học sự sống, trƣờng Đại học
1.1.2.2. Đặc điểm sinh thái 6
1.1.2.3. Đặc điểm sinh lý 7
1.1.3. Tiêu chuẩn chất lượng và giá trị 9
1.1.3.1.Tiêu chuẩn chất lƣợng 9
1.1.3.2. Giá trị 9
1.2. Tình hình nghiên cứu về cây sa nhân 11
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây sa nhân bằng nuôi cấy mô
trên thế giới 11
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây sa nhân bằng nuôi cấy mô
ở Việt Nam 11
1.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật 12
1.3.1. Tầm quan trọng của nuôi cấy mô tế bào thực vật 12
1.3.2. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật 14
1.3.3. Các công đoạn của nuôi cây mô tế bào 15
1.3.4. Một số công trình nhân giống cây dược liệu bằng phương pháp nuôi cấy
mô tế bào thực vật ở trong nước 17
CHƢƠNG II. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 20
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 20
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 20
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.2.1. Giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu 21
2.2.2.2. Giai đoạn tái sinh chồi 23
2.2.2.3. Giai đoạn nhân nhanh cụm chồi 25
2.2.2.4. Giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh 27
v
3.3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp giữa BAP và IBA đến hiệu
quả nhân chồi 43
3.3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp giữa BAP và IAA đến hiệu
quả nhân chồi 45
3.3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp giữa BAP và NAA đến hiệu
quả nhân chồi 47
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh trƣởng
đến khả năng ra rễ chồi sa nhân tím 49
3.4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của NAA đến hiệu quả ra rễ chồi sa
nhân tím 49
3.4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của IBA đến hiệu quả ra rễ chồi sa
nhân tím 51
3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của giá thể đến sự thích ứng cây sa
nhân tím in vitro ngoài điều kiện tự nhiên 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Robert Ernst, 1979
VW
Vacin & Went, 1949
SH
Schenk, Hidebrandt, 1972
Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii Bảng
Trang
Bảng 3.1.
Ảnh hƣởng của H
2
0
2
20% đến khả năng vô trùng mẫu
47
Bảng 3.10.
Ảnh hƣởng của NAA đến hiệu quả ra rễ chồi sa nhân
tím
49
Bảng 3.11.
Ảnh hƣởng của IBA đến hiệu quả ra rễ chồi sa nhân
tím
51
Bảng 3.12.
Ảnh hƣởng của giá thể đến sự thích ứng cây sa nhân
tím in vitro ngoài điều kiện tự nhiên
53
Số hóa bởi trung tâm học liệu
viii
HÌNH Hình
Hình
Trang
Hình 2.1
Sơ đồ nghiên cứu
21
Hình 3.1
Ảnh hƣởng của H
40
Hình 3.9
Ảnh hƣởng của Kinetin đến hiệu quả nhân chồi
41
Hình 3.10
Ảnh hƣởng của Kinetin đến hiệu quả nhân chồi; A:
công thức đối chứng; B: Công thức 5
42
Hình 3.11
Ảnh hƣởng kết hợp giữa BAP và IBA đến hiệu quả
nhân chồi
44
Hình 3.12
Ảnh hƣởng kết hợp giữa BAP và IBA đến hiệu quả
nhân chồi; A: Công thức đối chứng; B: Công thức 5
45
Hình 3.13
Ảnh hƣởng kết hợp giữa BAP và IAA đến hiệu quả
nhân chồi
46
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ix
Hình 3.14
Ảnh hƣởng kết hợp giữa BAP và IAA đến hiệu quả nhân
chồi; A: công thức đối chứng; B: công thức 2
47
Hình 3.15
Ảnh hƣởng kết hợp giữa BAP và NAA đến hiệu quả
nhân chồi
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
MỞ ĐẦU
Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu) thuộc chi sa nhân
(Amomum), họ gừng (Zingiberaceae) [11]. Đây là một cây thuốc quý, có
trong danh mục thực vật rừng quý hiếm ban hành kèm theo nghị định số 18-
HĐBT ngày 17/01/1992 [7]. Theo tài liệu cổ, sa nhân có vị cay, tính ôn vào
các kinh tỳ, thận và vị, có tác dụng hành khí, điều trung, hòa vị, làm cho tiêu
hóa đƣợc dễ dàng [11].
Quả sa nhân chứa tinh dầu với nhiều hợp chất hóa học giá trị nhƣ:
camphen, β-pinen, limonen, camphor; borneol, saponin [12]. Tinh dầu sa
nhân có tác dụng kháng khuẩn và nấm [21], [26], [30], [36]. Sa nhân đƣợc sử
dụng trong nhiều bài thuốc đông y nhƣ: Chữa có thai bị lạnh bụng, đầy
hơi, tiểu tiện không thông; chữa tiêu chảy; chữa ăn không tiêu, nôn mửa, đau
bụng; chữa đau nhức răng; chữa tê thấp…[11]. Ngoài ra, sa nhân đƣợc biết
đến là loại gia vị đắt thứ ba trên thế giới sau Saffron và vanilla [22].
Cây sa nhân đang bị khai thác tự do nên ngày càng bị thu hẹp về diện
tích, giống sa nhân tím cũng bị mất dần và thoái hóa. Nếu không kịp thời
trồng mới, khoanh nuôi bảo vệ và tác động những biện pháp tích cực thì
những nguồn gen cây trồng có giá trị cao cũng dần bị mất. Hiện nay, Việc
trồng và phát triển diện tích cây sa nhân tím đang đƣợc triển khai ở nhiều địa
phƣơng tạo đƣợc thu nhập cao cho ngƣời nông dân. Với giá 8.000 – 10.000
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống
cây sa nhân tím nhằm bảo tồn nguồn gen cây dƣợc liệu và cung cấp giống với
số lƣợng lớn, chất lƣợng đảm bảo, đồng thời giữ đƣợc đặc tính di truyền của
cây chọn lọc. Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây sa nhân
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây sa nhân
1.1.1.1. Nguồn gốc và phân bố cây sa nhân
Nhìn chung các loài sa nhân (trong đó có sa nhân tím) chỉ thấy ở
vùng có khí hậu nhiệt đới, chủ yếu ở Châu Á.
Theo cách phân chia tiểu vùng khí hậu theo quan điểm địa lý thực vật
thì sa nhân tím mọc tự nhiên ở Việt Nam (chủ yếu ở các tỉnh phía Nam)
nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, với hai mùa mƣa và khô
khá rõ rệt. Mùa mƣa tập trung vào vụ hè hay vụ hè – thu, mùa khô ở các
điểm có sa nhân tím mọc tự nhiên ở các tỉnh phía Nam thƣờng trùng
với các tháng là mùa đông và xuân ngoài miền Bắc. Trong tổng số 4 –
5 tháng mùa khô đó, có 2 – 3 tháng hoàn toàn không có mƣa, nhƣng do
sống trong môi trƣờng rừng ẩm, Sa nhân tím vẫn sinh trƣởng phát triển
tốt. Đặc biệt là vụ hoa cuối tháng 3 đầu tháng 4, do không bị mƣa, trời
luôn có nắng nên tỷ lệ đậu quả của cây khá cao.
Từ năm 1992 đến nay, sa nhân tím đã đƣợc thu thập đƣa ra trồng ở
một số địa phƣơng ở các tỉnh phía Bắc (Tân Lạc- Hoà Bình, Chân Mộng -
Đoan Hùng – Phú Thọ, huyện Bảo Thắng và thị xã Lào Cai – Lào Cai,
Đại
1.1.2. Đặc điểm thực vật học
1.1.2.1. Đặc điểm hình thái
Sa nhân, cây thân thảo cao 1,5 - 2,5m. Thân trên mặt đất (thân kí
sinh) hình trụ, đƣờng kính 0,7 – 1,0 cm, nhẵn. Sa nhân sinh sản bằng
thân ngầm bò ngang dƣới mặt đất, mang vẩy và rễ phụ. Từ thân ngầm
mọc lên các thân kí sinh, quả mọc từ gốc cây mẹ. Thân ngầm mọc bò
ngang trên mặt đất, gồm nhiều đốt, đƣờng kính 0,6 - 0,8 cm, bao bọc bởi
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
các lá vảy màu nâu. Lá mọc so le, xếp thành 2 dãy, mọc xiên hƣớng lên
phía trên. Lá gần nhƣ không có cuống, mọc so le, xếp thành hai dãy. Phiến
lá hình elip dài 20 – 40 cm, rộng 5 - 8 cm, gốc lá hình nêm, mặt trên màu
lục đậm, mặt dƣới nhạt hơn, nhẵn, cuống lá dạng bẹ, dài 5 – 10 cm hoặc
hơn. Lƣỡi bẹ nhỏ, hình mác nhọn dài 1,5 – 4,0 cm, màu nâu nhạt hoặc xám
trắng, mỏng.
Cụm hoa bông, mọc từ thân rễ và từ gốc; cuống cụm hoa dài 3 – 6
cm, gồm nhiều đốt, có vảy màu nâu. Có 5 – 8 hoa trên một cụm, màu trắng;
cuống hoa rất ngắn. Lá bắc ngoài hình bầu dục, màu nâu, dài 2,0 – 2,5 cm,
rộng 0,8 cm, mép nguyên; lá bắc trong dạng ống, màu nâu nhạt, dài
1,5cm, đầu chia thành 2 thuỳ nông.
Đài
hoa dạng ống, dài 1,5 cm hoặc hơn,
màu trắng hồng, đầu xẻ 3 thuỳ. Tràng hoa hình ống, dài 1,6 – 1,7 cm, mặt
ngoài có lông thƣa, gồm 3 thuỳ, thuỳ giữa dài 1,6 cm, rộng 0,4 cm, lớn hơn
2 thuỳ bên. Cánh môi hình thìa, dài 1,7 - 1,8 cm, rộng 2,0 – 2,2 cm, đầu
cánh môi thƣờng cuộn ra phía sau; vệt giữa cánh môi màu vàng, kéo dài lên
đến đầu cánh môi, có 3 sọc tím hồng. Bộ nhị dạng bản, dài 0,6 – 0,7 cm,
rộng 0,3 cm, nhẵn; bao phấn 2 ô; trung đới có mào, chia thành 3 thuỳ. Bầu
hình trứng thuôn, dài 0,4 – 0,5 cm; vòi nhuỵ mảnh (dạng chỉ) dài 2,0 – 2,5
trồng đƣợc ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, từ vùng núi thấp đến trung du
và cả ở đồng bằng [17].
* Thổ nhưỡng đất đai: Sa nhân tím mọc tự nhiên ở các tỉnh phía
Nam nhìn chung là ở trên loại đất nâu - đỏ phát triển trên bazan hoặc nâu
đỏ phát triển trên bazan có mùn tích tụ ở chân núi (K’Bang – Gia Lai,
Vĩnh Thạch – Bình Định, Sơn Hoà - Phú Yên…). Đặc điểm chung của loại
đất này là có tầng đất mặt sâu, tỷ lệ hạt sét cao, tơi xốp, dễ thấm nƣớc.
Tuy nhiên, sa nhân tím là cây thƣờng mọc ở chỗ đất thấp (ven rừng, thung
lũng, gần hành lang ven suối), nên ở đây loại đất nâu - đỏ bazan kể trên ít
nhiều đã có sự thay đổi, do quá trình thƣờng xuyên đƣợc tích luỹ thêm bởi
lớp thảm mục nên ở tầng đất mặt có màu nâu xám và nâu đen. Hàm lƣợng
mùn và lân tổng số khá cao, nhƣng kali lại thấp.
Sa nhân tím trồng ở Tân Lạc – Hoà Bình; Chân Mộng – Đoan Hùng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
– Phú Thọ; Quân Chu -
Đại
Từ – Thái Nguyên; ngoại ô thị xã Lào Cai –
Lào Cai… loại đất ở đây thuộc nhóm feralit vàng – đỏ hay đỏ – vàng. Về
cấu tƣợng cơ bản cũng có tỷ lệ hạt sét cao, tơi xốp, dễ thấm nƣớc, dễ bị
rửa trôi nhƣ loại đất đỏ – nâu hay nâu - đỏ trên bazan. Song điểm khác
biệt cơ bản của các loại đất ở các điểm kể trên thƣờng nghèo về mặt dinh
dƣỡng, với hàm lƣợng mùn, kali và lân tổng số thấp hơn (khoảng 30%) so
với đất nâu - đỏ hay đỏ – nâu trên bazan.
Ngoài ra, sa nhân tím đem trồng thí nghiệm trên đất phù sa sông
Hồng (Trung tâm Nghiên cứu Lâm
đặc
sản và Trung tâm Cây thuốc Hà Nội
ở Thanh Trì - thuộc Viện Dƣợc liệu), cây vẫn sinh trƣởng phát triển bình
một nhân tố sinh thái cần và đủ. Có ánh sáng cây mới thực hiện đƣợc
quá trình quang hợp và đồng hoá. Trong môi trƣờng tự nhiên, sa nhân
tím thƣờng mọc xen dƣới tán những cây bụi và cây gỗ, với độ tàn che từ
10 – 60%; thậm chí có chỗ tới 70%. Tuy nhiên, ở độ tàn che trên
40% cây sinh trƣởng mạnh về chiều cao.
Ánh sáng là nhân tố cần thiết của cây. Song với độ tán che từ 10 –
20% (hoặc 30%) có lẽ là thích hợp nhất cho sa nhân tím sinh trƣởng phát
triển mạnh. Trong trƣờng hợp có những đám sa nhân tím mọc dày đặc,
không có cây che bóng trực tiếp mà vẫn sinh trƣởng phát triển tốt là do ở
xung quanh đó (ở đƣờng biên) có những cây gỗ hay cây bụi. Vấn đề quan
trọng nhất ở đây chính là môi trƣờng đất còn đủ ẩm. Vì thế chƣa bao giờ
thấy sa nhân tím xuất hiện ở những nơi đất khô cằn.
* Nhu cầu về dinh dưỡng khoáng: Cây sa nhân tím mọc tự
nhiên cũng nhƣ trồng đều cần các chất hữu cơ và chất khoáng để cho cây
sinh trƣởng và phát triển. Những chất này là do lớp thảm mục và các
sản phẩm thứ cấp từ động vật rừng cung cấp.
Vấn đề này còn phụ thuộc vào các nhân tố khác,
nhƣng chắc chắn nhu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
cầu
lân (P
2
O
5
) là quan trọng đối với
quá trình đậu quả và cho quả có hạt
chắc. Sa
nhân là cây trồng lấy quả, bởi vậy trong quá trình chăm sóc cần chú ý
khô (7/năm 2006) [17].
* Tác dụng dược lý:
Tinh dầu sa nhân (các loài trên) có tác dụng ức chế hoạt động của
các loại vi khuẩn: Bacillus subtilis, Bacillus mycoides, Dipcoccus
pneumoniae, Mycobacterium tuberculosis, Protues vulgaris, Shigella
dysenteriae, Salmonella typhi; diệt amíp trên Entamoeba moshkowskii với
nồng độ ức chế thấp. Ngoài ra, sa nhân còn có tác dụng làm hạ sốt.
Theo quan niệm của y học cổ truyền (Lính nam bản thảo của Hải
Thƣợng Lãn Ông thế kỷ 18), sa nhân có vị cay, mùi thơm, tính ấm; tác
dụng vào 3 kinh thận, tỳ, vị; tác dụng ôn trung, hành khí, chỉ thống, khai
vị, tiêu thực, an thai.
* Công dụng làm thuốc:
Sa nhân đƣợc sử dụng nhiều để làm thuốc trong y học cổ truyền,
nhằm kích thích tiêu hoá; chữa ăn uống không tiêu, bị nôn mửa, đau dạ
dày, đau bụng do lạnh, ỉa chảy, kiết lỵ, sẩy thai, bệnh cao huyết áp, cao
cholesterol máu…
Lƣợng dùng 3 – 6 gam một ngày và thƣờng phối hợp với các vị
thuốc khác. Hiện đã thống kê đƣợc khoảng 60 bài thuốc khác nhau có sử
dụng sa nhân.
Ngoài ra, hạt sa nhân còn đƣợc dùng làm gia vị. Tinh dầu sa nhân
dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm [2] [4], [5]. Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
1.2. Tình hình nghiên cứu về cây sa nhân
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây sa nhân bằng nuôi cấy mô
trên thế giới
Trên thế giới có một số công trình nghiên cứu nhân giống in vitro
chi sa nhân (Amomum). Sajina và cộng sự (1997) bƣớc đầu đã xây dựng
sung riêng lẻ hay kết hợp các chất kích thích sinh trƣởng BAP, kinetin và
NAA. Sau 10 tuần nuôi cấy, môi trƣờng bổ sung BAP 1,5 mg/l kết hợp NAA
0,25 mg/l cho số chồi lớn nhất đạt 7,40 chồi/mẫu. Chồi in vitro đƣợc cảm
ứng rễ trên môi trƣờng MS bổ sung NAA hay IBA. Rễ đƣợc cảm ứng tốt nhất
trên môi trƣờng MS có bổ sung 0,5 mg/l NAA (18,42 rễ/chồi). Cây con in
vitro đƣợc huấn luyện thích nghi và trồng ở vƣờn ƣơm với tỷ lệ sống sót
93,14% [14].
1.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật
1.3.1. Tầm quan trọng của nuôi cấy mô tế bào thực vật
Trong nhiều thập kỉ qua, nuôi cấy mô tế bào thực vật đã phát triển mạnh
mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Có thể nói đây là một công cụ cần thiết trong
nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của ngành sinh học.
Nhờ áp dụng các kĩ thuật nuôi cấy mô nhƣ: nuôi cấy mô phân sinh,
callus, nuôi cấy phôi, nuôi cấy rễ tơ, nuôi cấy tế bào trần… con ngƣời đã
thúc đẩy thực vật sinh sản nhanh hơn, gấp nhiều lần tốc độ vốn có trong tự
nhiên. Điều này sẽ góp phần tạo ra hàng loạt các cá thể mới giữ nguyên các
tính trạng di truyền của cơ thể mẹ và rút ngắn thời gian để đƣa một giống
mới và sản xuất với quy mô lớn [10], [23].
Ngoài ra, dựa vào kĩ thuật nuôi cấy, có thể duy trì và bảo quản
đƣợc nhiều giống cây trồng quý hiếm, hoặc loại bỏ các mầm bệnh của
những loài thực vật sinh sản sinh dƣỡng. Sử dụng kĩ thuật nuôi cấy và dung
hợp tế bào trần có thể tạo ra những con lai về mặt di truyền mà phƣơng
pháp lai giống cổ điển không thực hiện đƣợc. Bên cạnh đó, các nhà nghiên
cứu đã thu nhận các chất trao đổi thứ cấp từ tế bào nuôi cấy, dẫn đến sự ổn
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
định và ñộc lập hơn, ít lệ thuộc vào sản xuất của thực vật ngoài tự nhiên "
mở ra triển vọng sử dụng kĩ thuật này ñể nuôi cấy sinh khối lớn có khả
năng tổng hợp những chất sinh học để thu nhận các hợp chất trên quy mô
Haberlandt cho rằng mỗi tế bào của bất kỳ sinh vật nào cũng đều có
khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Ông nhận thấy,
mỗi tế bào của cơ thể đa bào đều phát sinh từ hợp bào thông qua quá trình
phân bào nguyên nhiễm. Điều đó có nghĩa là mỗi tế bào của một sinh vật sẽ
chứa toàn bộ thông tin di truyền cần thiết của một cơ thể hoàn chỉnh. Khi gặp
điều kiện thuận lợi nhất định, những tế bào đó có thể sẽ phát triển thành một
cơ thể hoàn chỉnh.
Năm 1953, Miller và Skoog (Notingham. Unio) đã thành công khi thực
nghiệm tái sinh cây con từ tế bào lá, chứng minh đƣợc tính toàn năng của tế
bào. Thành công trên đã tạo ra công nghệ sinh học ứng dụng trong nhân giống vô
tính, tạo giống cây trồng và dòng chống chịu [24].
Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận
của phƣơng pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Cho đến nay, con ngƣời đã
hoàn toàn chứng minh đƣợc khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh
từ một tế bào riêng rẽ.
* Sự phân hoá và phản phân hoá tế bào
Sự phân hoá tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào
của mô chuyển hoá, đảm nhận các chức năng khác nhau trong cơ thể. Ví dụ:
Mô dậu làm nhiệm vụ quang hợp, mô bì làm nhiệm vụ bảo vệ, nhu mô làm
nhiệm vụ dự trữ, mô dẫn làm nhiệm vụ vận chuyển nƣớc và chất dinh dƣỡng.
Quá trình phân hoá tế bào đƣợc biểu diễn ở sơ đồ sau:
Tế bào phôi sinh
Tế bào giãn
Tế bào chuyên hoá