Thử nghiệm gây trồng cây sa nhân tím (amomun longiligulaze t l WU) tại xã lao chải vị xuyên hà giang - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và
sự đa dạng sinh học là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới sự biến đổi khí
hậu trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng
luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các
quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ
môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu
là do chính hoạt động của con người gây ra.
Hoạt động của con người đã làm cho rừng bị suy giảm cạn kiệt dần.
Vấn đề được đặt ra cho tất cả các nước trên thế giới là việc bảo vệ, khai thác
và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần bị cạn kiệt và việc
bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm. Đối với Việt Nam, ngày nay dưới sự ảnh
hưởng của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa các nhà máy xí nghiệp mọc lên,
sự gia tăng về dân số khiến cho diện tích rừng đang dần bị thu hẹp, kéo theo
sự suy giảm không gian sống của nhiều loài sinh vật, nhiều loài đang trên đà
bị tuyệt chủng.
Sa nhân tím có tên khoa học là (Amomum longiligulare T.L.Wu) thuộc họ
gừng (Zingiberaceae), là một trong những loài cây có giá trị không chỉ về
khoa học mà còn là cây lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm dược liệu và rất
cần thiết cho ngành y dược phục vụ trong nước cũng như xuất khẩu.

Đây là loài cây thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Chiều cao trung bình
có thể đạt đến 1-2m. Hạt Sa nhân tím được dùng làm dược liệu và thực phẩm có
1
1
2
giá trị. Trong những năm gần đây Sa nhân tím đã được xuất khẩu ra nước ngoài
với sản lượng lớn mỗi năm. Nó đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của các

suất của Sa nhân tím, vừa làm giảm khả năng phòng hộ của rừng.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề
“Thử nghiệm gây trồng cây Sa Nhân tím (Amomun Longiligulaze T.L.WU)
tại xã Lao Chải - Vị Xuyên - Hà Giang” làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa
học và phát triển loài cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) này một cách tốt nhất
nhằm tăng thu nhập cho người dân địa phương.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Gây trồng thử nghiệm loài cây Sa nhân tím (Amomun Longiligulaze
T.L.WU tại xã Lao Chải - Vị Xuyên - Hà Giang làm cơ sở cho việc phát triển
loài cây LSNG, nhằm tăng thu nhập cho người dân tại địa phương.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Trồng thử nghiệm dựa vào kết quả thu được và đánh giá khả năng phát
triển và thích nghi với điều kiện khí hậu và lập địa của cây Sa nhân tím trên
địa bàn xã Lao Chải -Vị Xuyên - Hà Giang.
3
3
4
- Đánh giá tỉ lệ sống sót của các cá thể trong thời gian trồng thử nghiệm
trong giai đoạn đầu tiến hành dự án và từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật
nhằm chăm sóc một cách hợp lý.
- Đưa ra được chiến lược phát triển và nhân rộng giống cây Sa nhân
tím trên địa bàn xã Lao Chải.
1.4. Ý nghĩa
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học cũng như
được trải nghiệm giữa lý thuyết và thực hành, đặc biệt là những kiến thức trong
lĩnh vực gây trồng lâm sản ngoài gỗ nói chung và cây Sa nhân tím nói riêng.
- Tạo điều kiện để sinh viên làm quen với những kiến thức ngoài thực tế
và áp dụng được lý thuyết vào trong thực tiễn qua đó giúp sinh viên hoàn
thiện hơn không chỉ về lý thuyết mà cả về thực hành, nâng cao hiệu quả và

giàu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu. Nhiệm
vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải ra sức xây dựng vốn rừng trong đó
có vốn rừng đặc sản, đẩy mạnh khai thác đảm bảo tái sinh, chế biến tạo ra
nhiều mặt hàng mới từ đặc sản để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu. Đẩy mạnh kinh doanh sản xuất đặc sản rừng là thực hiện phương
châm lấy ngắn nuôi dài, kinh doanh toàn diện, lợi dụng rừng và đất rừng ”
Theo W.W.F – trong tài liệu (The Economic value of Non timber Forest
products in Southeats asia. 1989):
5
5
6
“Sản phẩm ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được
khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các
loại thực phẩm, dược liệu, hương liệu, tinh dầu, nhựa cây, keo dính, nhựa mủ,
tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã, nguyên liệu thô và củi,
song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi”.
Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái
Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5- 8/11/1991 đã thông qua
định nghĩa về LSNG như sau:
Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao ngồm tất cả các sản
phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. Lâm sản ngoài gỗ được
khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ.
Gần đây, J.H.De beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài
gỗ, trong đó có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” tháng
7/2000 là một ấn phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”, đã
đưa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau:
Lâm sản ngoài gỗ ( Non-timber forest products) bao ngồm các nguyên
liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục
vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, ta nanh,

nhỏ nên với quy mô cộng đồng hoặc hộ gia đình nó chỉ xuất hiện khiêm tốn ở
các chợ nông thôn. Vì vậy chưa có một tiêu chuẩn nào để đánh giá cho LSNG
và giá cả của chúng cũng biến động lớn theo từng vùng và từng thời điểm.
Những người khai thác, thu hái và chế biến các sản phẩm từ LSNG chưa có
đủ thông tin về thị trường giá cả. Ở nước ta từ lâu các sản phẩm lâm sản từ gỗ
được gọi là lâm sản phụ, khi nói về chúng người ta cũng chỉ mới chú ý tới
mây, tre và một số nguyên liệu, dược liệu có giá trị kinh tế là chính. Tuy nhiên
cũng rất khó đánh giá được giá trị của LSNG vì còn rất nhiều loài người ta
chưa biết sử dụng. Thực sự có rất nhiều loài cây trước kia chưa được xếp vào
loại có giá trị, nay trở nên quý.
7
7
8
Sa nhân tím tên khác: Sa nhân lưỡi dài (Mè tré bà, Hải nam sa nhân
Amomum longiligulare T.L Wu) Thuộc học Gừng - Zingiberaceae.
Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, cao 1 - 2m; thân rễ mảnh, Lá có phiến
thon, dài 20 - 30cm, rộng 2.5cm, không lông; lá kèm (mép) cao 2 - 4.5cm. Cụm
hoa đồ thân rễ, thấp ở đốt; hoa ít. Hoa trắng, có mép vàng, vách đỏ tím. Quả hình
cầu, xoan, màu đỏ tím hay tím mốc, có gai nhỏ cong; hạt có 3 cạnh tù, có gân
đều, hột tròn hay xoan hơi dẹp 1.5 - 2.2cm x 0.8 - 1.2cm, màu tía tía.
Hoa tháng 4 - 6 , quả tháng 6 - 9 (Miền Nam có 2 vụ quả Xuân và thu)
Bộ phận dùng: Quả - Fructus Amomi Longiligularis, thường gọi Sa
Nhân - Hải nam sa nhân
Nơi sống và thu hái: Loài của Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây
mọc nơi ẩm trong rừng ở nhiều nơi, nhất là ở đông Bắc và miền Trung, thế
giới tập trung tại đảo Hải Nam Trung Quốc.
Thành phần hóa học: có tinh dầu, trong đó có pinen, camphen,
caren, limonen
Tính vị, tác dụng: Vị cay, tính ẩm; có tác dụng tán thấp khai vị, tiêu thực.
Công dụng: Được dùng trị bụng trướng đau, ăn uống không tiêu, nôn

sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương họp tại Bangkok,
Thái Lan đã thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản
ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và
than. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân
gỗ. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các
lâm sản ngoài gỗ”. Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ
chức Nông lương thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm lâm
sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn
9
9
10
gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân
gỗ”.
Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne.H. de Beer
(2000) đã bổ sung khái niệm lâm sản ngoài gỗ. Theo ông “Lâm sản ngoài gỗ
bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai
thác từ rừng để phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị,
tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã
(động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như
tre, nứa, mây, sông, gỗ nhỏ và sợi”. Theo khái niệm này của Jenne.H. de Beer
là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác với các khái niệm trước đây là ông đưa
củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ.
Theo Aristote (384 - 322 trước công nguyên) đã tổng kết trên 4000 năm
trước, các dân tộc vùng trung cận đông đã biết đến cả ngàn cây thuốc, sau này
người Ai Cập đã biết cách chế biến và sử dụng chúng (dẫn từ Võ Văn Chi và
Trần Hợp, 1999) [4].
Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết người Ai
Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ướp xác các
vua chúa hoặc làm nước thơm từ khoảng 4.000 năm TCN. Người Trung Quốc
đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu. Tại Đông Á, người Nhật

Phạm Minh Toại và Phạm Văn Điển, 2005) [17].
Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc
tế (IUCN) cho biết, hiện nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức
này có thông tin thì có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng
ở các mức độ khác nhau. Trong tập tài liệu “các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn
Độ” xuất bản từ năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các
loài cây thuốc hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về
thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài được sử
dụng làm thuốc cần bảo vệ (dẫn từ Nguyễn Văn Tập, 2007) [14].
11
11
12
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc
của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn. Năm
1952 các tác giả A.l.Ermakov, V.V.Arsimovich… đã nghiên cứu thành công
công trình “Phương pháp nghiên cứu hóa sinh - sinh lý cây thuốc”. Công
trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu
nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loại cây thuốc. Các tác giả
A.F.Hammemen, M.D.Choupinxkaia và A.A. Yatsenko đã đưa ra giá trị của
từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách
“giá trị cây thuốc”. Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rộng rãi trên
cả nước Liên Xô cũ việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao và không
gây hại cho sức khỏe của con người. Qua cuốn sách “chữa bệnh bằng cây
thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa
đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (dẫn từ Trần Thị Lan, 2005) [5].
Do đặc tính sinh thái của loài, cây sa nhân tím được phân bố chủ yếu ở
các nước như: Phân bố rộng rãi ở Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam (Trung
Quốc), Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan.
2.2.2. Tình hình trong nước
Lâm sản ngoài gỗ thành phần quan trọng của rừng nhiệt đới có giá trị

xây dựng chiến lược phát triển LSGN cấp quốc gia, mặt khác do quản lý còn
đang chồng chéo giữa các ngành, Bộ về LSGN đã làm cho sự phối hợp
nghiên cứu của các tổ chức còn ít và các vấn đề nghiên cứu chưa tập trung
cho chiến lược phát triển LSGN.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm diện tích
hẹp nhưng kéo dài do đó đã tạo nên những khí hậu khác nhau theo vĩ tuyến và
độ cao, là nơi hội tụ và phát triển một quần thể thực vật hết sức phong phú.
Cây thuốc là một thực vật được hình thành trong môi trường đó nên cây thuốc
Việt Nam rất phong phú và đa dạng về số lượng và chủng loại.
13
13
14
Công tác điều tra nghiên cứu của Viện Dược liệu - Bộ Y tế ở tất cả các
địa phương trên toàn quốc. Kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004,
đã ghi nhận ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực
vật kể cả nấm có công dụng làm thuốc. Trong đó có trên 90% tổng số loài cây
thuốc mọc tự nhiên.
Hiện nay đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng
thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10.000 - 20.000 tấn mỗi năm,
cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu. Các cây thuốc đang được khai
thác với khối lượng lớn như: Vằng đắng (Coscinium fenestratum), Thiên niên
kiện (Homalomena spp), Cẩu tích (Cibotium barometz), Hoàng đằng
(Fibraurea recisa Pierre), Chè dây (Ampelopsis cantoniensis)… phần lớn các
cây thuốc trên được đưa vào sử dung trực tiếp trong nền YHCT. Một số loài
được đưa vào chiết xuất hoạt chất để dùng làm thuốc như: Thanh cao
(Artemisia annua) chiết Artemisinin làm thuốc chữ sốt rét, Bình vôi
(Stephania spp.) chiết xuất L. tetrahydro palmatin làm thuốc an thần, giảm
đau; Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium) chiết saponin làm thuốc chữa
sỏi thận (Nguyễn Văn Tập, 2007) [14].
Với 3.948 loài cây thuốc đã biết hiện nay vẫn còn có nguồn tài nguyên

Các dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có Việt Nam, do đời sống còn
gắn liền với khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri
thức quý báu trong lĩnh vực chế biến và sử dụng thực vật, đặc biệt là kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên các tri thức và kinh nghiệm dân tộc
Thượng chỉ được sử dụng và lưu truyền trong phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ,
gia đình). Vì vậy không được phát huy và phục vụ cho xã hội và nguy cơ thất
thoát rất cao, Nhận thức được tầm quan trọng này trong khoảng 10 năm lại
đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc được đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của
nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan.
15
15
16
Nhiều công trình điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm
vừa qua. Trong khoảng thời gian 1994 - 2005, phòng Thực Vật dân tộc học
thuộc Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật đã triển khai nghiên cứu tại các
cộng đồng dân tộc người H’mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày
Nùng, Hoa ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang.
Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự nghiên cứu khá chi tiết thành phần loài
cây thuốc của dân tộc Thái tại Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Trần Văn Ơn nghiên
cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại vườn quốc
gia Ba Vì. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác được công bố,
Ty Thị Hoàn nghiên cứu sử dụng cây thuốc của người Cao Lan tại Tuyên
Quang, Trần Thị Dung nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân
tộc Bru - Vân Kiều tại Quảng Trị. Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy
các dân tộc ở nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc độc đáo để phòng và chữa bệnh.
Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả điều trị cao đã được thu thập và
đưa vào nghiên cứu thực nghiệm. Đồng thời đã phát hiện nhiều loài cây thuốc
mới, đặc biệt là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc. Như vậy, nghiên

rừng tỉnh Tuyên Quang thuộc Dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh. Mục đích
dự án là phát triển vùng trồng Sa nhân tím dưới tán rừng Keo nhằm tăng thu
nhập của các hộ trồng rừng, sử dụng hiệu quả diện tích đất và bảo vệ môi
trường. Dự án tiến hành tại 3 xã huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.
Trồng Sa nhân tím dưới tán rừng keo 3 năm tuổi (độ tàn che 0,3 - 0,4) và
dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt (độ tàn che 0,5 - 0,6) sinh trưởng
phát triển tốt. Sau trồng 8 tháng đã cho quả bói và năng suất khô của năm đầu
tiên là 13,2 kg/ha (dưới tán rừng keo) và 5,0 kg/ha (dưới tán rừng tự nhiên).
Năng suất khô của năm thứ 2 là 45,1 kg/ha (dưới tán rừng keo) và 16,4 kg/ha
17
17
18
(dưới tán rừng tự nhiên). Trồng Sa nhân tím dưới tán vườn cà phê kinh doanh
và dưới tán vườn nhà thì cây sinh trưởng rất tốt và sau 30 tháng thì ra hoa kết
quả. Sa nhân tím ở cao nguyên Vân Hòa - Sơn Hòa - Phú Yên ra hoa đậu quả
2 vụ trong một năm là vụ hè thu (từ tháng 5 - 8) và vụ thu đông (từ tháng 9 -
12). Sa nhân tím ra hoa sau mưa tiểu mãn (tháng 5 - 6) và mưa chính vụ
(tháng 9). Sau trồng 2 năm đã cho thu nhập thuần 4.664.000 đ/ha (dưới tán
rừng keo) và 1.712.000 đ/ha (dưới tán rừng tự nhiên). Những năm tiếp theo
thu nhập sẽ tăng gấp 2,25 - 3,96 lần (dưới tán rừng keo) và 4,73 - 8,46 lần
(dưới tán rừng tự nhiên) so với 2 năm đầu.
Sau 36 tháng trồng thử nghiệm dưới tán rừng xoan 4 năm tuổi tại xã
Sơn Lang, huyện Kbang (Gia Lai), giống Sa nhân tím đã cho được kết quả rất
khả quan.
Giống Sa nhân tím sinh trưởng và phát triển tốt, ra hoa đậu quả đạt
100%, năng suất khô của vụ 1 và vụ 2 đạt 139-275 kg/ha. Xét về hiệu quả
kinh tế, 1 ha trồng xen Sa nhân tím tại huyện Kbang đã cho lãi ròng trên 21
triệu đồng.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà giống Sa nhân tím còn góp
phần che phủ diện tích đất trống đồi trọc rất hiệu quả, góp phần hạn chế xói

đường đi qua Thành Phố mới xuống tới huyện Vị Xuyên.
Giới hạn tọa độ và địa lý như sau:
Tọa độ: 22°49′46″B 104°46′23″Đ

Bắc: giáp Trung Quốc và xã Xín Chải.
Đông: giáp xã Xín Chải, xã Phương Tiến.
Nam: giáp 2 xã Túng Sán & Đản Ván (Hoàng Su Phì).
Tây: giáp xã Thèn Chu Phìn (Hoàng Su Phì) và Trung Quốc.
Có tổng diện tích tự nhiên là 5012 ha, trong đó đất lâm nghiệp là
3.361,71 ha, đất phi nông nghiệp là 30.09 ha, đất chưa sử dụng 1.184,20 ha,
19
19
20
với địa hình đồi núi chủ yếu có độ dốc lớn và bị chia cắt bởi nhiều dông đồi,
khe cạn và hình thành 4 thôn; (thôn Bản Phùng, Thôn Cáo Sào, thôn Lùng
Chu Phùng, thôn Ngài Là Thầu). Dân số 303 hộ với 1591 nhân khẩu gồm 3
dân tộc anh em cùng sinh sống xen kẽ trên địa bàn là: H.Mông, Tày, Kinh.
Trong đó dân tộc Mông chiếm 98%, 2 dân tộc còn lại chỉ chiếm 2% tổng số
dân toàn xã.
2.3.1.2. Địa hình, đất đai
a. Địa hình
Địa hình của xã nằm trong khối Tây Côn Lĩnh xã Lao Chải có địa hình
dốc từ Tây sang Đông, ảnh hưởng đến xu hướng và cường độ tạo hình các tài
nguyên đất và sinh vật.
Địa hình đồi núi cao: địa hình này chiếm đa số trong địa bàn xã có độ
cao thay đổi từ 1.000 - 1.600 m, địa hình này phân bố ở phía Tây - Bắc của
xã. Địa hình này bị chia cắt mạnh độ dốc phần lớn trên 25
0
các loại đất hình
thành trên địa hình này chủ yếu độ dày tầng đất mịn từ mỏng đến trung bình

giàu trên 0,25% các tầng dưới từ trung bình đến khá.
- Đất mùn A lít núi đá cao điển hình cơ giới nhẹ: Diện tích 800 ha phân
bố ở phía Tây -Bắc của xã, hàm lượng Mùn rất cao > 8% ở tầng mặt và đạm
tổng số lớp đất mặt rất giàu > 0,4% xuống các tầng dưới mùn và đạm tổng dố
giảm, Lân tổng số nghèo < 0,07% kali dễ tiêu từ nghèo đến trung bình (6,8 -
12,8 ng/100g đất) ở tầng mặt loại đất này được sử dụng chủ yếu cho canh tác
lúa và ngô và các loại cây màu của xã.
2.3.1.3. Điều kiện khí hậu, thủy văn
a. Khí hậu
Do cấu tạo địa hình xã Lao Chải nằm trong địa hình nhiệt đới nóng ẩm
mưa nhiều, tuy nhiên nằm sâu trong lục địa cho nên ảnh hưởng của mưa bão
và gió mùa đông bắc. Khí hậu một năm được chia làm hai mùa:
+ Mùa mưa: từ tháng 05 đến tháng 10.
+ Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau.
Nhiệt đọ trung bình năm là 23
0
c nhiệt độ trung bình thấp nhất(tháng 1)
19.5
0
c nhiệt độ trung bình cao nhất(tháng 6) 26
0
c.
21
21
22
+ Độ ẩm: độ ẩm trung bình hàng năm là 83%.
+ Lượng mưa cả năm là 2.500 mm/ năm. Phân bố không đều trong
năm, lượng mưa tập trung vào tháng 6,7,8.
Do đặc điểm khí hậu của xã mùa đông lạnh mùa hè nóng, mưa nhiều
cộng với địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến

Theo kết quả điều tra dân sinh, dân số xã Lao Chải có bảng số liệu sau:
Bảng 1.1: Dân số, Dân tộc tại xã Lao Chải
Số thứ tự Dân tộc Số dân Tỷ lệ (%)
1 H.Mông 1681 99,4
2 Tày 3 0,177
3 Kinh 7 0,413
Tổng cộng (3 dân tộc), 303 hộ, khẩu 1.691 người
(Nguồn: UBND xã Lao Chải 2011)
Qua bảng số liệu trên cho thấy xã Lao Chải gồm 3 dân tộc cùng sinh
sống xen kẽ trong đó Mông có số dân cao hơn cả, các dân tộc còn lại dân số
không nhiều chủ yếu là công dân mới xây dựng hạnh phúc gia đình với người
dân tộc Mông. Dân tộc kinh chỉ có 2 hộ, trong đó có một hộ lên làm ăn buôn
bán tại xã, một hộ là giáo viên trường trung hoc cở sở xã mới chuyển khẩu lên
năm 2010.
c. Giáo dục
Xã Lao Chải có 2 trường của 3 cấp học đó là:
- Giáo dục mầm non: 1 trường 16 cán bộ giáo viên 166 học sinh với 12
lớp học.
- Giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (THCS): 1 trường 35 cán bộ
giáo viên 364 học sinh với 20 lớp học.
23
23
24
Cơ sở vật chất trường lớp còn nhiều thiếu thốn chỉ có trường tiểu học
và THCS được xây dựng nhà 2 tầng còn trường mầm non hiện đang học tại
trạm y tế xã cũ, các điểm trường trên địa bàn xã lớp học chỉ là nhà trình tường
lợp Proximăng nhìn trung cơ sở vật chất còn thiếu thốn và khó khăn nhưng
được sự quan tâm của cấp Đảng Ủy chính quyền trong những năm qua tỷ lệ
học sinh trong độ tuổi đến trường đạt trên 95%, đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt
tình tích cực bám trường, bám lớp. Chất lượng giáo dục các mặt từng bước

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 186 ha tăng so với năm
2010 là 11,7% trong đó:
- Cây lúa: Diện tích gieo trồng thực hiện đạt 76/76 ha = 100% kế hoạch
nhà nước giao tăng so với năm 2010 là 4,1 %. Năng xuất bình quân đạt 56 tạ/
ha đạt 98,9% so với kế hoạch, giảm 1.1% so với năm 2010. Sản lượng đạt
425,6 tấn đạt 98,9% so với kế hoạch tăng 3,25so với năm 2010 = 13,4 tấn.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng 45/45 ha= 100% so với kế hoạch, tăng
4,6% so với năm 2010. Năng suất bình quân đạt 27 tạ/ ha = 90% so với kế
hoạch, tăng 8% so với năm 2010. Sản lượng đạt 121,5 tấn = 90% so với kế
hoạch, tăng 13% so với năm 2010 = 14 tấn. Tổng sản lượng lương thực cả
năm đạt 547.1/ 565.1 tấn = 96,8% so với kế hoạch tăng 5,3% so với năm 2010
= 27,4 tấn.
- Cây đậu tương: Diện tích gieo trồng cả năm thực hiện được 27 ha =
90% so với kế hoạch, tăng 54,2% so với năm 2010. Năng suất đạt 10 tạ / ha =
95% so với kế hoạch, tăng 38% so với năm 2010. Sản lượng đạt 27 tấn = 85%
so với kế hoạch, tăng 112,6% so với năm 2010 = 14,3 tấn.
- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 27 ha = 112% so với
kế hoạch nhà nước, giảm 18,6% so với năm 2010. Năng suất đạt 57 tạ/ ha =
103,6% so với kế hoạch. Sản lượng bình quân 151,2 tấn = 115% so với kế
hoạch, tăng 13,2% so với năm 2010 = 17,56 tấn.
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status