Nghiên cứu gây trồng cây sa nhân tím ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 26

UBND TỈNH QUẢNG NGÃI VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT VIỆT NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHKT NÔNG NGHIỆP DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU GÂY TRỒNG CÂY SA NHÂN TÍM
(Amomum longiligulare T.L. Wu) Ở MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NGÃI Cơ quan quản lý: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi
Cơ quan chủ trì: Viện KHKT Nông nghiệp DHNTB
Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thanh PhươngQuy Nhơn, tháng 12/2011
1
UBND TỈNH QUẢNG NGÃI VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT VIỆT NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN KHKT NÔNG NGHIỆP DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU GÂY TRỒNG CÂY SA NHÂN TÍM
(Amomum longiligulare T.L. Wu) Ở MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI

TS. Nguyễn Thanh Phương

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU CƠ QUAN QUẢ LÝ ĐỀ TÀI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Đào Minh Hường
Quy Nhơn, tháng 12/2011
2

Từ những tồn tại và lợi thế nêu trên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên Hải
Nam Trung Bộ sẽ giải quyết những nội dung công việc với mục tiêu xây dựng hướng dẫn
kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, bảo quản Sa nhân tím trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi nhằm tạo nguồn dược liệu, sử dụng đất bền vững và góp phần tăng thu
nhập cho nông dân.
Đề tài thành công rất cao vì: (i) Một số vùng núi tỉnh Quảng Ngãi có phân bố tự
nhiên cây Sa nhân tím, đặc biệt là huyện miền núi Ba Tơ, phát triển cây Sa nhân tím tại địa
bàn huyện là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện, của tỉnh. Khả
năng nhân rộng kết quả nghiên cứu vào sản xuất rất cao; (ii) Đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề
tài đã nắm được khoa học công nghệ của cây Sa nhân, có kinh nghiệm trong việc thực hiện
các đề tài nghiên cứu.
Khi đề tài thành công thì đạt được những vấn đề như sau: (i) Có hướng dẫn kỹ thuật
nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản của cây Sa nhân tím; (ii) Kết
quả nghiên cứu của đề tài dễ áp dụng, phù hợp với trình độ và điều kiện kinh tế - xã hội của
nông dân vùng núi (đặc biệt là nông dân người dân tộc); (iii) Bảo vệ và phát triển cây Sa
nhân tím, có thêm loại cây trồng mới, tăng tính đa dạng cây trồng cho ngành nông nghiệp,
ngành dược liệu tỉnh Quảng Ngãi; (iv) Góp phần hạn chế thoái hóa đất, hoang mạc hóa, tiến
tới canh tác bền vững cho vùng đất dốc; (v) Không cạnh tranh đất đai với loại cây trồng khác,
chỉ tận dụng đất dưới tán rừng tự nhiên, tán rừng trồng, tăng thu nhập trên một đơn vị diện
tích, góp phần tăng thu nhập của người dân vùng núi rừng; (vi) Cung cấp nguồn nguyên
liệu quý cho ngành dược, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm , tạo công ăn việc làm, góp
phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
Xuất phát từ những vấn đề bức xúc trên nên thực hiện đề tài: “Nghiên cứu gây
trồng cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L. Wu) ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi”
là hết sức cần thiết.
4
THÔNG TIN CHUNG
1. Tên đề tài:
Nghiên cứu gây trồng cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L. Wu) ở miền núi
tỉnh Quảng Ngãi

- Quy mô: 4.000 m
2
(2.000 m
2
/ loại rừng x 2 loại)
- Địa điểm: xã Ba Cung và Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
5
5.4. Nội dung 4. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển
cây Sa nhân tím dưới tán rừng trồng và dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh
- Công thức: M1 (2.000 cây/ha) [Cự ly: hàng 2,00 m; cây 2,50 m]
M2 (2.500 cây/ha) [Cự ly: hàng 2,00 m; cây 2,00 m]
M3 (3.000 cây/ha) [Cự ly: hàng 2,00 m; cây 1,67 m]
M4 (3.500 cây/ha) [Cự ly: hàng 2,00 m; cây 1,43 m]
M5 (4.000 cây/ha) [Cự ly: hàng 2,00 m; cây 1,25 m]
- Nội dung đánh giá: Sinh trưởng, phát triển, năng suất của cây Sa nhân tím trong các
công thức thí nghiệm.
- Quy mô: 4.000 m
2
(2.000 m
2
/ loại rừng x 2 loại).
- Địa điểm: xã Ba Cung và Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
* Vị trí và trạng thái rừng bố trí thí nghiệm:
+ Rừng trồng: tại Khoảnh 5, Tiểu khu 378 thuộc xã Ba Cung (rừng Thông 20
năm tuổi), độ cao so với mặt nước biển là 130 m;
+ Rừng tự nhiên: tại Khoảnh 2, Tiểu khu 406 thuộc xã Ba Trang (rừng tự
nhiên, trạng thái rừng IIIA1), độ cao so với mặt nước biển là 500 m.
5.5. Nội dung 5. Nghiên cứu kỹ thuật thu hoạch, sơ chế, bảo quản Sa nhân tím
- Quy mô: 2 vụ quả vào năm 2009 và 2010.
- Địa điểm: huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.

người ta phân biệt chúng qua đặc điểm của hoa, quả và hạt. Sa nhân tím (Amomum
longiligulare T.L.Wu), có hoa màu trắng, có mép vàng. Quả hình cầu, màu tím mốc. Một
năm cho 2 vụ quả: hè, đông. Hạt có 3 cạnh tù, có gân đều. Khối hạt hình cầu hơi dẹt hai
đầu.
1.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh thái
Sa nhân là cây nhiệt đới, nhiệt độ bình quân hàng năm 22-28
0
C là thích nghi cho cây
sinh trưởng tốt, nhiệt độ 16-18
0
C cây phát triển kém, song khả năng chịu lạnh của cây sa
nhân khỏe hơn các cây nhiệt dới khác, có thể chịu được nhiệt độ từ 1-3
0
C trong thời gian
ngắn.
Là cây chịu bóng, thích râm mát, sống dưới ánh sáng tán xạ, dưới tán rừng có độ
tàn che 0,5-0,6; độ ánh sáng tốt nhất là 50%, nếu quá râm thì cây Sa nhân mọc rậm rạp, ít
ra hoa kết quả, thậm chí không ra hoa kết quả. Sa nhân mọc hoang dại trong rừng, vì độ
khép tán của rừng quá lớn nên cây ít ra hoa kết quả. Còn cây mọc ở rìa rừng, ánh sáng
chiếu xuống tương đối nhiều, cây tuy thấp nhưng đậu quả rất nhiều. Dưới ánh sáng trực
xạ, cây sinh trưởng kém, lá bị vàng úa.
7
Sa nhân đòi hỏi nước rất nghiêm ngặt, lượng mưa hàng năm từ 1.800-2.500mm, độ
ẩm bình quân hàng năm trên 80%. Trong thời kỳ ra hoa đậu quả nếu gặp độ ẩm không khí
cao thì tỷ lệ đậu quả cao, ngược lại nếu bị mưa dầm thì làm cho hoa bị thối nên tỷ lệ đậu
quả thấp, nếu gặp khô hạn thì làm cho hoa khô héo, quả lép nên sản lượng giảm.
Sa nhân không đòi hỏi đất đai tốt lắm, đất cát, đất thịt đều có thể trồng được, tốt nhất
là đất cát pha thoát nước tốt, giàu mùn, tơi xốp, lớp đất dưới là đất thịt. Đất sét dễ úng
nước, đất sỏi đá khô cằn, đất mặn, đều không nên trồng Sa nhân. Sa nhân nên trồng trên
đất có độ dốc vừa phải, hướng dốc tốt nhất là hướng Nam hay Đông Nam.

Thọ, Nghệ An
2
A. xanthioides Wall ex Bak
T.Lwu
Sa nhân xanh
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Hoà
Bình
3
A. auran tiacum H.T T Sai
S.W.Zhao
Sa nhân đỏ Lai Châu, Sơn La
4 A. longiligulare T.L. Wu Sa nhân tím
Phú Thọ, Phú Yên, Bình Định, Đắc Lắc,
Gia Lai, Quảng Ngãi
5 A. lappaceum Ridl Sa nhân Hoàng Liên Sơn
6 A. ovoideum Gaguep Sa nhân trắng
Hoà Bình, Phú Quốc (Kiên Giang), Ba
Vì (Hà Nội), Thanh Hoá
7
A. echinosphaera K. Schum
(giống A. villosrum)
Sa nhân đỏ Ba Vì (Hà Nội), Thanh Hoá, Phú Yên
8 A. bislorum Jack Sa nhân 2 hoa Đắc Lắc, Quảng Nam, Đà Nẵng
9 A. repoense Pierre Sa nhân Quảng Nam, Đà Nẵng
10 A. vespertilio Gagnep
Sa nhân Thầu dầu
se đất
Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú
Thọ
11 A. schmidtii Gagnep Sa nhân hồi Lai Châu, Sơn La

ra một số liệu chưa đầy đủ về diện tích trồng và sản lượng của cây Sa nhân trong giai đoạn
1998-2004 như sau:
Bảng 1.2. Diễn biến diện tích, sản lượng khai thác Sa nhân
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu USD)
1988 20.100 83 -
2000 - 250 0,375
2003 - 450 0,675
2004 24.777 2.661 -
Nguồn: Lương Văn Tiến (2006), Số liệu điều tra năm 2004 – 2005 và số liệu chu kỳ 2, Viện
ĐTQH Rừng
Theo Nguyễn Ngọc Bách (Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, 2006), ở Việt Nam,
trong những năm gần đây Sa nhân đã được xuất khẩu ra nước ngoài với sản lượng 1000
tấn/năm, với giá trị xuất khẩu 8 triệu USD/năm (Niên giám Thống kê năm 2003). Nó đã trở
thành nguồn thu nhập quan trọng trong công việc nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo
đồng thời thay thế xóa bỏ cây thuốc phiện. Gần đây, Sa nhân mới được đặt vấn đề nghiên
cứu bảo vệ tái sinh trồng bán tự nhiên dưới tán rừng nhất là từ khi mô hình kinh tế đồi phát
triển.
Trước đây hàng năm nước ta xuất khẩu được chừng 250-400 tấn. Sa nhân thường
mọc tự nhiên dưới tán rừng, được nhân đan thu hái. Năm 1980, tại tỉnh Phú Thọ, Viện
Khoa học Lâm nghiệp đã trồng Sa nhân dưới tán rừng Mỡ 20 tuổi, có độ tàn che 0,6 trên
diện tích 3 ha, mật độ trồng 10.000 cây/ha. Sau 2 năm, sa nhân bắt đầu cho quả năng suất
quả thu được 35-50 kg khô/ha, giá trị 2-4 triệu đồng/ha.
Tại huyện Thanh Sơn, Phú Thọ, có 300 ha rừng gỗ tự nhiên, có nhiều Sa nhân mọc

Nếu để quá 5 - 7 ngày mới hái, quả bóc ra đã mềm, nhấm thấy ngọt, chất cay đã hết,
đó là sa nhân đường, kém giá trị hơn vì ít tinh dầu, khó bảo quản vì dễ ẩm mốc, cứ phơi
khô để vài ngày là bị ẩm, hạt rời vụn ra màu đen như cứt gián.
Nhưng nếu vội hái non quá, khi bóc ra hạt vẫn còn non trắng hay hơi vàng, nhấm
thấy cay nhưng không chua, gọi là sa nhân non kém giá trị.
Sa nhân hái về phải tải ra phơi khô ngay, nếu không gặp nắng phải dùng củi sấy kịp
thời, tốt nhất là ngày phơi, đêm sấy, chừng 4 - 5 ngày thì khô. Thường 10 kg quả Sa nhân
đầu mùa phơi được 1,8 kg quả Sa nhân vỏ (Sa nhân xác), nếu hái đúng tuổi có khi được
2kg. Nếu sa nhân hái về không kịp phơi khô ngay dễ bị thối nát, ngả màu đen. Khi Sa nhân
khô kiệt rồi mới bóc vỏ, nếu bóc vỏ trước khi phơi sấy thì tinh dầu bốc đi mất, dễ vỡ vụn và
cũng kém giá trị. Mỗi 1 kg quả Sa nhân bóc vỏ được từ 0,7 - 0,8 kg Sa nhân hạt. Tùy theo
thời kỳ thu hái và phơi sấy người ta phân Sa nhân ra thành nhiều loại:
- Sa nhân hạt cau: là loại tốt nhất, có hạt to mẩy, khi hạt khô không bị nhăn nheo, hạt
màu nâu sẫm, cứng, nhấm cay nồng.
11
Thu hái ở rừng
tự nhiên
Trồng
(hộ gia đình)
Chợ
XN dược phẩm
Xuất khẩu
Tiêu thụ
(người tiêu dùng)
- Sa nhân non (Sa nhân loại 2): hạt không mẩy, có vết nhăn nheo, màu vàng răng
ngựa, nhấm ít cay.
- Sa nhân vụn (Sa nhân loại 3): gồm những hạt Sa nhân đường, non vỡ ra hay không
được phơi sấy đúng cách, còn gọi là Sa nhân cứt gián kém cay.
- Sa nhân đường (Sa nhân loại 4): sờ tay thấy ẩm dính, nhấm hơi ngọt, mềm, màu
đen.

Quốc (7%), các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (7%), Bangladet (6%), Hong Kong
(6%), Việt Nam (4%), Jordan (2%).
Việt Nam là nước vừa nhập khẩu vừa là nước xuất khẩu Sa nhân ra thị trường thế
giới. Năm 2000-2003, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất sang Nhật 15,4 tấn, giá trung
bình là 5.500 USD/tấn, tổng doanh thu hàng năm là 84.000 USD. Năm 2002, Việt Nam
12
xuất sang Ả rập Xê út khoảng 11 tấn với giá 8.636 USD/tấn, doanh thu 90.000 USD. Cũng
trong năm này, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 1.017 tấn Sa nhân với chi phí 975.000
USD. Trong đó, Indonexia là nhà cung cấp chính với 647 tấn, giá 705 USD/tấn, Hong
Kong: 319 tấn, (giá 1.326 USD/tấn, FOB), Singapore: 51 tấn (giá 1.667 USD/tấn).
1.2.3. Một số công trình nghiên cứu về cây Sa nhân tím
- Từ năm 1994-1997, Trung tâm Khoa học Kỹ thuật cây trồng Bình Định (nay là
Viện KHKT Nông nghiệp DHNTB) phối hợp với Viện Dược liệu Trung ương, Công ty
Dược - Trang thiết bị Y tế Bình Định thực hiên đề tài: “Nghiên cứu bảo vệ tái sinh và
trồng thử cây thuốc Sa nhân tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định”. Kết quả đạt
được: (i) Đã phát hiện loài Sa nhân tím có nhiều ở các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, trong đó có ở Vĩnh Sơn, Vĩnh Thạnh là loài có năng suất cao và dễ
trồng; (ii) Đã xác định ở Bình Định có 5 loài Sa nhân, trong đó Sa nhân tím là loài dễ trồng
cho năng suất cao và chất lượng tốt. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Sa
nhân tím và đỏ cho thấy Sa nhân tím mọc tự nhiên có 2 vụ quả và gọi là vụ chính - vụ xuân
hè (vì có nhiều hoa quả hơn) và vụ thu đông - mùa trái vụ (có ít hoa quả hơn). Ở loài sa
nhân đỏ không hề có hiện tuợng này; (iii) Khoanh nuôi bảo vệ, trồng dặm Sa nhân dưới tán
rừng thứ sinh bằng cây vô tính tách từ thân rễ cây trong rừng tự nhiên. Nghiên cứu tạo
giống vô tính, hữu tính và trồng thử nghiệm bán tự nhiên đều cho kết quả tốt, đặc biệt là Sa
nhân tím trồng ở khu vực nào cũng đều ra hoa kết quả; (iv) Gieo ươm từ hạt sau 3,5 tháng
tuổi, cây cao từ 10 – 20 cm có 5 - 6 lá thì mang trồng ở dưới tán rừng tự nhiên, dưới tán các
cây Mít, Keo, Bồ kết, và một số cây bụi khác có độ che bóng 40%. Sau 6 tháng trồng, cây
cao 40 – 60 cm. Trồng từ hạt cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn gấp nhiều lần so với
trồng bằng cây từ hom rễ, sau 6 tháng trồng có 7,25 cây/bụi. Sau 2 năm trồng Sa nhân ra
hoa kết quả.

tiêu chuẩn đưa đi trồng), bằng chồi (tạo cây con có bầu sau 5 - 6 tháng đạt tiêu chuẩn đem
đi trồng, đạt tỷ lệ xuất vườn 67%). Giống cây Sa nhân tím này được được đem trồng tại 3
mô hình thực nghiệm: Trồng dưới tán rừng điều 3 năm tuổi tại xã Cam An Bắc (Cam
Ranh); trồng dưới tán rừng điều 8 năm tuổi tại xã Khánh Trung (Khánh Vĩnh); trồng dưới
tán rừng thứ sinh nghèo kiệt tại xã Sơn Bình (Khánh Sơn). Kết quả: Sa nhân tím trồng ở
Khánh Vĩnh có tỷ lệ sống cao, sau 2 năm đã khép tán, đảm bảo cho việc che phủ bảo vệ đất
và có tỷ lệ mọc cây mới rất cao (22,5 cây/bụi); Sa nhân tím trồng ở Khánh Sơn sinh trưởng
kém hơn, tỷ lệ mọc cây mới thấp (4,9 chồi/bụi).
- Từ năm 2004 - 2006, Viện KHKT Nông nghiệp DHNTB thực hiện đề tài: "Nghiên
cứu, xây dựng mô hình trồng cây Sa nhân trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên". Kết
quả nghiên cứu đã đạt được: Cây Sa nhân tím được trồng dưới tán rừng sinh trưởng phát
triển rất tốt, chỉ sau 2 năm trồng Sa nhân đã ra hoa đậu quả. Năng suất khô sau 2 năm trồng
của mô hình trồng Sa nhân tím dưới tán rừng keo là 45,1 kg/ha và dưới tán rừng tự nhiên là
16,4 kg/ha. Do rừng thứ sinh có độ tàn che còn tương đối lớn nên khả năng đâm tia mọc
cây con và ra hoa đậu quả kém hơn, để nâng cao năng suất cần phát dọn thực bì và chặt bỏ
những cây kém giá trị kinh tế giảm độ tàn che. Còn Sa nhân tím dưới tán vườn cà phê và
vườn nhà vẫn chưa ra hoa kết quả.
- Từ năm 2004-2008, Trung tâm Giống cây trồng Bình Định phối hợp cùng Sở Y tế
Bình Định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy trình kỹ thuật trồng, thu hoạch bảo quản và
dược tính của loài Sa nhân tím tại Bình Định”. Có một số kết quả như sau: (i) Cây Sa nhân
tím mọc tự nhiên, có mặt hầu hết ở các vùng rừng núi tỉnh Bình Định; tập trung với mật độ
lớn tại các huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, Hoài Ân, An Lão và Phù Cát; chất
lượng Sa nhân tự nhiên ở Bình Định có hàm lượng tinh dầu cao, từ 2,95 - 4,26%. (ii) Đã
thử nghiệm 0,2 ha sa nhân tím trồng dưới tán rừng trồng và 0,6 ha trồng dưới tán rừng tự
nhiên đều cho kết quả tốt. Sau 3 năm trồng, cây Sa nhân dưới tán rừng tự nhiên có 75% cây
có hoa và quả. Do phụ thuộc vào tán rừng tự nhiên nên cây Sa nhân ở đây sinh trưởng
không đều vì độ che phủ của tán rừng không đồng đều. Còn mô hình trồng cây Sa nhân
dưới tán rừng trồng sinh trưởng tốt hơn. Sau 3 năm cây bắt đầu cho quả, năng suất khoảng
100-200 kg quả khô/ha/năm. Thông thường cứ 10 kg quả tươi cho 1,5-1,8 kg quả khô, bóc
được 0,7-0,8 kg hạt.

15
1.3. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN BA TƠ, TỈNH
QUẢNG NGÃI
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Ba Tơ là huyện vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi, cách trung tâm tỉnh lỵ 60km về phía
Tây Nam; có toạ độ địa lý được giới hạn từ 14
0
31’57” đến 14
0
53’54” độ vĩ Bắc và
108
0
28’50” đến 108
0
53’50” độ kinh Đông; có chung đường địa giới hành chính với 7 huyện
thuộc 4 tỉnh: Đông giáp huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi; Tây giáp huyện Kon Plông - Kon
Tum; Tây Nam giáp huyện Kbang - Gia Lai; Nam giáp huyện An Lão - Bình Định; Bắc
giáp huyện Sơn Hà, Minh Long, Nghĩa Hành - Quảng Ngãi. Ba Tơ là huyện nằm ở cực Tây
Nam của tỉnh giáp với Tây Nguyên nối liền với Quốc lộ 24.
1.3.1.2. Tình hình sử dụng đất
Tổng diện tích tự nhiên (DTTN) toàn huyện: 113.669,5 ha; chiếm 22,1 % DTTN
toàn tỉnh. Đất sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: 103.425,3 ha chiếm 91,0 % tổng DTTN.
Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 6.115,3 ha chiếm 5,4 % tổng DTTN.
Bao gồm: + Đất trồng cây lương thực (lúa, ngô): 2.431,5 ha
+ Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày (mía, sắn, lạc): 2.634,0 ha
+ Đất trồng rau đậu các loại: 768,0 ha
+ Đất trồng cây ăn quả (mít, chuối, dứa, phân tán): 281,8 ha
- Đất lâm nghiệp: 97.278,6 ha chiếm 85,6 % tổng DTTN.

vực địa hình dốc nên việc khai thác sử dụng đất này bị hạn chế lớn chủ yếu đang bị bỏ
hoang hóa. Để hạn chế, ngăn chặn sự xói mòn và phục hồi độ phì nhiêu của đất chỉ nên
dùng mô hình lâm nông kết hợp, lấy cây lâm nghiệp làm mục tiêu chính lâu dài, cây nông
nghiệp là phụ, khôi phục và phát triển Sa nhân dưới tán rừng tự nhiên.
1.3.1.5. Nguồn nước
Nguồn nước mặt chủ yếu nhờ vào nguồn nước trời và nước của hệ thống Sông Liên,
Sông Re, Sông Tô, Sông Nước Lang, Sông Nước Nẻ,… và hệ thống khe suối phân bố với
mật độ cao. Ngoài ra còn có một số công trình hồ chứa nước như: Hồ Chứa nước Núi
Ngang, hồ Suối Loa, hồ Kon Dung,…
1.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội
1.3.2.1. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, thôn
Được chia thành 20 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó: 19 xã và 01 thị trấn), có 99
thôn và 6 tổ dân phố. Ba Tơ có 14 xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) thuộc Chương trình 135
(GĐI); hiện nay còn 8 xã khu vực III và 12 thôn ĐBKK của 7 xã khu vực II được thụ
hưởng Chương trình 135 (GĐII).
1.3.2.2. Qui mô và tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 ở mức 13,7%
(trong đó: Nông lâm nghiệp tăng bình quân 11,8%, Công nghiệp – TTCN - Xây dựng tăng
15,2% và Thương mại - Dịch vụ tăng 19,9% ). Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 340,6 tỷ
đồng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 6,7 triệu đồng/ người/năm, tăng 2,8
triệu đồng so với năm 2005.
1.3.2.3. Cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng ngành Nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 70% năm 2005 xuống 63,48% năm
2010; ngành Công nghiệp – TTCN – Xây dựng tăng từ 14,3% năm 2005 lên 15,2% năm
2010; ngành Thương mại - Dịch vụ tăng từ 15,7% năm 2005 lên 20,5% năm 2010. Về cơ
cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tuy nhiên, tỷ trọng Công nghiệp -
TTCN tăng vẫn còn chậm.
1.3.2.4. Về dân số, dân tộc, tôn giáo và lao động
- Dân số toàn huyện là 13.495 hộ, với 52.061 khẩu, có 2 dân tộc chính là Hrê và
Kinh; trong đó: dân tộc Hrê có: 11.528 hộ, 43.685 khẩu, chiếm 83,4%.

lượng cao, giá trị/ đơn vị diện tích còn quá thấp, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật chậm,
thời tiết thất thường, bên cạnh còn một số yếu tố khác như việc đầu tư phân bón và phòng
trừ sâu bệnh còn hạn chế, nước tưới chưa đảm bảo 2 vụ cho cây lúa và các loại cây trồng
cạn trong năm; trình độ sản xuất của người dân còn mang nặng tập quán canh tác quảng
canh và lạc hậu vì thế đã ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành trồng trọt.
(ii) Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc toàn huyện (đến 12/2010) là 57.441 con (trong đó: trâu
20.353 con, bò 9.084 con, lợn 27.479 con, dê 525 con). Nhìn chung, ngành chăn nuôi ở
huyện trong những năm qua luôn được chú trọng và phát triển theo hướng ổn định đàn trâu,
lai hóa đàn bò; tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh ở gia súc diễn biến ngày càng phức tạp,
lây lan trong diện rộng, giá cả thất thường,… làm cho người nông dân không an tâm đầu tư
trong lĩnh vực này.
1.3.3.2. Về lâm nghiệp: Lâm nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Tổng diện tích đất lâm nghiệp 97.278,6 ha,
chiếm 85,6% tổng DTTN; trong đó đất rừng trồng sản xuất là 32.358,8 ha; đất không
rừng quy hoạch cho trồng rừng sản xuất là 27.476,0 ha.
(i) Sản xuất lâm nghiệp: Chủ yếu là cây Keo nguyên liệu trồng tập trung, diện tích khai
thác và trồng hàng năm từ 3.000 – 4.000 ha, năng suất bình quân đạt từ 70 - 80 tấn/ha .và
18
một số cây bản địa trồng phân tán như: Sao xanh, Xoan, Mít, Bạch đàn, về lâm sản ngoài
gỗ (lâm sản dưới tán rừng) chủ yếu cây Mây, Sa nhân, Đót, mật ong, Cây bản địa có giá
trị kinh tế và bảo vệ môi trường, nhưng do khó khăn về kinh tế nông dân chưa chú trọng
phát triển trồng. Sản phẩm lâm sản từ cây mây trong mấy năm gần đây do có các chương
trình đầu tư của nhà nước và công tác khuyến nông của huyện đã tạo cho một số nông dân
chú trọng quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng, đến nay toàn huyện có trên 800 ha mây người
dân quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng. Nhưng các sản phẩm lâm sản như: Sa nhân, Đót, mật
ong, nông dân còn khai thác tự nhiên, chưa chú trọng quản lý, nuôi dưỡng và khai thác
bền vững.
(ii) Về chế biến: Hiện nay trên toàn huyện chủ yếu có cơ sở chế biến gỗ dân dung (đóng
bàn, ghế, nhà cửa, ). Khó khăn nhất trong sản xuất lâm nghiệp là nguồn vốn và đường
giao thông để vận chuyển, mặt khác ở địa phương chưa có nhà máy chế biến nguyên liệu tại

tỉnh và khu vực DHNTB, tập trung mưa tháng 10-11 hàng năm), còn lại thì hạn hán kéo
dài. Điều này gây khó khăn rất nhiều cho sản xuất nông nghiệp: mùa thu hoạch thường
trùng với mùa mưa, việc khai thác nguồn nước tưới cho cây trồng vào mùa khô lại rất tốn
kém.
Diện tích rừng ngày càng giảm do khai thác quá mức, rừng tự nhiên ngày càng thu
hẹp do khai thác quá mức, không theo quy hoạch, kế hoạch, phá rừng tự nhiên để trồng
keo, để làm nương rẫy,… cộng với sự thay đổi khí hậu khá thất thường một số năm gần
đây đã tác động xấu đến môi trường sinh thái. Đặc biệt là diện tích đất bị xói mòn trơ
sỏi đá ngày một tăng do sự tác động mạnh của lũ, lụt.
(ii) Về dân số, dân tộc
Bộ máy tổ chức quản lý điều hành của một số cơ quan huyện và cơ sở xã, thị trấn
còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ đã gây không ít khó khăn trong việc quản lý chỉ
đạo, điều hành.
Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao, trình độ dân trí thấp nhất là đồng bào dân
tộc thiểu số; Lao động nông nghiệp hầu hết chưa qua đào tạo nên việc tiếp thu tiến bộ khoa
học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn nhiều hạn chế. Tập quán canh tác của nhân dân
chuyển biến chưa nhanh, tình trạng chăn nuôi gia súc thả rông còn phổ biến; việc chuyển
đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi còn chậm. Một số bộ phận nhân dân vẫn còn tư tưởng
trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước.
* Phát triển kinh tế, xã hội của huyện Ba Tơ trong thời qua tuy có những bước phát
triển nhưng chưa mạnh, chưa đều. Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển
CN, TTCN, DV còn chậm và tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế; phát triển sản xuất nông
nghiệp và xây dựng nông thôn chưa toàn diện, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó
khăn nhất là ở các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn; văn hóa, giáo dục, y tế phát triển
chưa đồng bộ, một số phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại,…
1.3.6. Những nhiệm vụ chủ yếu phát triển Nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2011-2015
(Trích báo cáo Chính trị của BCH Đảng bộ huyện Ba Tơ khóa XVI)
1.3.6.1. Các chỉ tiêu chủ yếu có liên quan đến sản xuất nông nghiêp
(i) Giá trị sản xuất tăng bình quân trong 5 năm (2011-2015): 16,5%; trong đó: Nông
– Lâm – Ngư nghiệp: 14%; CN – TTCN – Xây dựng: 19% và Thương mại – Dịch vụ: 22%.

Đẩy mạnh phát triển rừng bền vững là một trong nhwmngx hướng trọng tâm, cơ bản
để phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến, xem đây là nhiệm vụ đột
phá để thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững. Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và
phát triển vốn rừng hiện có. Tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý, bảo vệ đến cộng
đồng dân cư bằng nhiều hình thức. Khai thác sản phẩm rừng trồng và tận thu sản phẩm từ
rừng tự nhiên đảm bảo theo kế hoạch và đúng quy định theo pháp luật. Tăng cường các
biện pháp hành chính, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp khai thác lâm
sản và động vật rừng trái phép.
21
Khai thác mọi tiềm năng mặt nước để nuôi cá nước ngọt, chú trọng khai thác có
hiệu quả các hồ chứa nước để tăng thêm thu nhập cho nhân dân.
22
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cách tiếp cận
- Điều tra, thu thập các thông tin về tình hình phân bố, thu hoạch Sa nhân ở các địa
bàn khác nhau thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Qua đó xác định vùng phân bố, những thuận lợi, khó
khăn và hạn chế của thu hái, việc sản xuất Sa nhân tại địa phương.
- Tiếp nhận các kết quả nghiên cứu và các tiến bộ về giống, kỹ thuật canh tác, thu
hoạch, sơ chế, trong và ngoài nước nhằm xác định những giải pháp khả thi để nghiên cứu
và phát triển.
- Chọn điểm (hộ nông dân) tại các tiểu vùng sinh thái đặc trưng để bố trí các thí
nghiệm.
- Tiến hành thử nghiệm kỹ thuật canh tác, giống Sa nhân tím tại các điểm thí nghiệm
có sự tham gia của cán bộ kỹ thuật, của cán bộ khuyến nông và của nông dân.
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, trồng Sa nhân tím, thu hoạch, sơ chế đạt
năng suất cao, chất lượng tốt.
- Chuyển giao kết quả nghiên cứu đến các cơ quan có liên quan, cán bộ kỹ thuật ở
các cấp trong tỉnh, đến hộ nông dân trực tiếp sản xuất thông qua đợt hội nghị tham quan đầu
bờ, hội thảo khoa học.

Công thức thí nghiệm như sau: (i) Phơi trên nền xi măng; (ii) Phơi trên nong tre; (iii)
Phơi trên rổ nhựa; (iv) Phơi trên tấm bạt nhựa; (v) Sấy khô bằng tủ sấy điện.
23
Thời gian phơi: 12 giờ, 24 giờ, 30 giờ, 36 giờ, 42 giờ, 48 giờ;
Thời gian sấy: 2 giờ, 4 giờ, 6 giờ.
2.2.5. Phương pháp lấy mẫu và phân tích đất, sản phẩm (quả và hạt Sa nhân tím)
* Phương pháp phân tích đất:
- Mẫu đất được lấy ở tầng canh tác tại các công thức thí nghiệm theo 2 đường chéo trong
mỗi ô thí nghiệm, mỗi đường chéo lấy 5 điểm, trộn đều.
- Thời điểm và số lượng mẫu:
+ Đất: ở tất cả các ô thí nghiệm, trước trồng (05 mẫu), sau trồng 1 năm (05 mẫu), sau trồng 2 năm
(05 mẫu).
+ Mẫu quả và hạt Sa nhân tím: 10 mẫu (ở thí nghiệm 2: 2 mẫu, TN 3: 2 mẫu và Sa nhân tím
ngoài tự nhiên: 1 mẫu), thu hoạch vụ 1 (05 mẫu), thu hoạch vụ 2 (05 mẫu)
- Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích đất, chất lượng hạt Sa nhân như sau:
Chỉ tiêu Phương pháp
pH
KCl
Đo bằng pH mét với điện cực thuỷ tinh
N% Kjeldahl
OM% Tiurin
P
2
O
5
% So màu
K
2
O % Quang kế ngọn lửa
P

- Điều kiện phân tích sắc ký khí
Bộ phận bơm mẫu.
Cách thức bơm: Không chia dòng.
Thể tích bơm: 2µl.
Nhiệt độ cổng bơm mẫu: 150ºC.
Phương thức phân tích:
Gradient nhiệt độ
Đẳng áp: 25,14 psi
Tốc độ dòng: 1,2ml / phút
Chương trình nhiệt: 95ºC - 200ºC
Phút Nhiệt độ (ºC) Thời gian (Phút) Tốc độ tăng nhiệt / phút
00 95 00 0
2,5 105 2,5 0,5
50 200 47,5 2,0
70 200 20 0
Detector
Nhiệt độ: 250ºC.
Lưu lượng hydro: 40ml / phút.
Lưu lượng không khí: 350ml / phút.
Định danh và xác định hàm lượng các cấu tử chính của tinh dầu.
Các đỉnh của các cấu tử chính của tinh dầu được nhận định dựa trên so sánh với sắc
ký đổ GC-MS của các phân tích trước đây và so sánh với chất chuẩn là Camphor.
Hàm lượng của các cấu tử chính của tinh dầu được xác định bằng so sánh diện tích đỉnh
của từng cấu tử với tổng diện tích đỉnh của tất cả các cấu tử của tinh dầu trên sắc ký đồ.
2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu điều tra đo đếm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học của
Gommez thông qua chương trình Excel, IRRISTAT 4.0 trên máy vi tính.
2.2.7. Phương pháp tính năng suất quả Sa nhân tím
- Năng suất quả tươi (kg/ha) = [(Số chùm quả/ bụi x Số quả/ chùm) x Mật độ] / (Số quả tươi/ kg)
- Năng suất quả khô (kg/ha) = Năng suất quả tươi/ (Tỷ lệ quả tươi/ quả khô).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status