Chuyên đề về tiền tệ và chính sách tiền tệ - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc
điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ mô và kinh tế
học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học. Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu
nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh
tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP, tỉ lệ thất nghiệp, và các chỉ
số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh tế.
Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiên cứu điển
hình:
• Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc
gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế).
• Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ
giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia, các chính sách ổn định kinh tế
vĩ mô của chính phủ. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ
lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các
chiến lược quản trị.
Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không
thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Các nền kinh
tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể hoạt động một
cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng
trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất
hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Trong các
nền kinh tế thị trường đã Phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp,
quản lý và điều hoà phúc lợi. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song sự điều tiết của
Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Theo đó, thị trường tự

a) Tính chất và nguồn gốc của tiền tệ
 Tính chất của tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông)
phải có các tính chất cơ bản sau đây:
• Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người
dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền
nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của
nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương
tiện trao đổi.
• Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta
có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Chính vì thế những tờ giấy bạc do
ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất
lượng cao nào khác.
• Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho
người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại
tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc
phục được sự bất tiện của phương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đổi gạo thì anh ta phải nhận về số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có
được những thứ khác cũng cần thiết không kém.
• Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị
cũng như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì
vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm
bằng kim loại bền chắc.
• Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo,
tiền tệ phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích
thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4.
• Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì
nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ

chính phủ đã cho in những giấy biên nhận. Người ta mang các biên nhận này đến ngân
hàng để đổi ra tiền xu. Đây là ví dụ đầu tiên ta có được về việc phát hành và sử dụng tiền
giấy. Ngày nay, hầu hết các nước đều sử dụng cả tiền xu lẫn tiền giấy. Ở Mỹ, các loại tiền
giấy đều có cùng kích cỡ và màu sắc như nhau. Chẳng hạn, tờ một đô la có cùng kích cỡ và
màu sắc y như tờ một trăm đô la. Ở nhiều quốc gia khác, tiền giấy được in dưới nhiều kích
cỡ và màu sắc khác nhau. Tờ có kích thước nhỏ hơn thì có giá trị thấp hơn. Việc này tạo
điều kiện cho chúng ta chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể xác định được giá trị của chúng.
Tất cả những sự kiện này khiến lịch sử tiền tệ trở thành một công cuộc nghiên cứu lý thú.
b. Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là bất cứ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc
giai hàng hoặc để thanh toán nợ nần.
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được
luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền
kinh tế. Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là "tiền lưu thông". Tiền tệ có thể
mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (ngân hàng trung
ương, Bộ Tài chính, v.v...) phát hành.
Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người ta dùng
cụm từ "đơn vị tiền tệ". Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví dụ:
dollar, franc...) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Úc). Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ
thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR. Đơn
vị tiền tệ của Việt nam được gọi là đồng, ký hiệu dùng trong nước là "đ", ký hiệu quốc tế
là VND, đơn vị nhỏ hơn của đồng là hào (10 hào = 1 đồng) và xu (10 xu = 1 hào). Tiền tệ
là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải
chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền
tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền
kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị
luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ

do đó dẫn đến việc sử dụng hoá tệ bằng kim loại.
 Hóa tệ bằng kim loại
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao
động xã hội, đồng thời với sự xuất hiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên,
kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bậc trong vcai trò của vật ngan giá bởi những
thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến, Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì, kẽm,
thiếc, bạc, vàng…xuất hiện thay thế cho các hóa tệ không kim loại.
- Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết
định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý.
- Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII đưa
đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi.
- Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung ứng.
- Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian dài
vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sử dụng cả vàng lẫn bạc.
Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng) đến cuối thế kỷ XIX bạc ngày
càng mất giá do vậy các nước Châu Âu và cả Hoa Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các
nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu máy
móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng vàng. Ở Đông Dương, bạc được sử
dụng làm tiền từ 1885 đến 1931. Đến năm 1931 đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc sang
bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ 1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả các
nước chấp nhận làm tiền trên thế giới là vàng.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. Tín tệ
Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọi
người mà nó được lưu dụng. Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy.
- Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái
hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh
nghĩa.
- Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán.

- Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể
đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.
Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để đổi
cho dân chúng.Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bất khả hoán, nước
Pháp năm 1936.
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua nhau
rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả nợ nước ngoài và do đó
số trữ kim gần như không còn.Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936) đã áp dụng chính sách tiền tài
trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất và những chương trình kinh tế, xã hội
lớn.Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản xuất tăng 41% (1934).Từ đó, nhiều nhà
kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa vào dự trữ vàng như các quan điểm trước
đây.
c. Bút tệ
Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế
toán của Ngân hàng.Bút tệ xuất hiện lần đầu tại nước Anh,vào giữa thế kỷ XIX. Để tránh
những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc, các nhà ngân hàng Anh đã sáng chế
ra hệ thống thanh toán qua sổ sách ngân hàng.Bút tệ ngày càng có vai trò quan trọng, ở
những quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống ngân hàng phát triển, người dân có
thói quen sử dụng bút tệ.
d. Tiền điện tử
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có nhiều tên gọi cho thứ tiền này: tiền nhựa, tiền thông minh…Đây có phải là một
hình thái tiền tệ không là vấn đề chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng đây chỉ là
“phương tiện chi trả mới”, sự “chuyển dịch vốn bằng điện tử”
3. Các chức năng của tiền tệ
a. Chức năng phương tiện trao đổi
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trong việc
trao đổi các hàng hóa, dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lí do tại

làm phương tiện trao đổi đã dẩn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những
phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hóa củng có giá trị như các
hàng hóa khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hóa khác chính là tiền củng có
giá trị sử dụng như các hàng hóa khác (theo phân tích của C.Mác về sự phát triển của các
hình thái biểu hiện giá trị hàng hóa: giá trị hàng hóa được biểu hiện ở giá trị sử dụng của
hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy, trong thời đại ngày nay,
mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không có giá trị như các hàng hóa khác nhưng
nó được mọi người chấp nhận trong lưa thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẩn được
sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hóa. Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào, việc sử dụng
tiền làm đơn vị đo lường giá trị điều mang tính chất trừu tượng, vừa mang tính pháp lí, vừa
có tính quy ước.
c. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi
người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu
ngay, tiền là một phương tiện dùng cho việc cất giữ sức mua trong các trường hợp này hoặc
có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.
Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tùy thuộc
vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng
hóa mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại.
Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy
ra khi lạm phát cao. Vì vậy, để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền
phải ổn định.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
d. Phương tiện thanh toán
Trong một nền kinh tế không có một chuẩn mực đo giá trị chung (thí dụ như là tiền)
thì một giao dịch thành công giữa 2 vật trong kinh tế đòi hỏi các nhu cầu trao đổi phải phù
hợp với nhau. Một thí dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ. Một thợ
thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt. Giữa 2 người này sẽ không bao giờ có một cuộc
mua bán trao đổi vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của

Khi giá cả tăng lên, mức cầu về tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo thu mua
đủ khối lượng hàng hóa cần thiết đã dự định, như vậy, thực chất của mức cầu tiền tệ là cầu
về cán cân tiền tệ thực tế.
Mứa cầu tềin thực tế phụ thuộc vào hai nhân tố:
- Thu nhập thực tế: con người giữ một phần tài sản ở dạng tiền để có thể mua được
hàng hóa, dịch vụ. Khi thu nhập tăng, tiêu dùng cũng sẽ tăng và theo đó cầu tiền củng tăng
lên.
- Lãi suất: chi phí giữ tài sản dưới dạng tiền và thu nhập từ lãi suất mà các tài sản
có thể tạo ra nếu như để chúng dưới dạng trái phiếu. Lãi suất chính là chi phí cơ hội củ việc
giữ tiền.
Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và mức cầu về tiền được gọi là hàm cầu về tiền
(hàm ưa thích tiền thanh khoản).
Hàm này có dạng:
LP = kY – hi
Trong đó:
LP: mức cầu về tiền thực tế
Y: thu nhập
i : lãi suất
k,h : các hệ số phản ánh dộ nhạy cảm của mưc cầu tiền đối với thu nhập và lãi
suất.
c. Mức cầu tài sản
Mức cầu về tài sản là mức cầu các loại tài sản chính có sinh lợi dưới dạng trái phiếu.
Các loại trái phiếu tuy sinh lợi nhưng chịu nhiều rủi ro, vì giá cả của chúng được quyết
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
định trên thị trường, khó dự báo trước. Giữ tiền không tạo ra lãi, nhưng không bị rủi ro trừ
trường hợp gặp lạm phát. Nhiều người chỉ định giảm mức rủi ro của họ bằng cách đa dạng
hóa các dạng tài sản vừa để tài sản ở dạng tiền, vừa để ở dạng trái phiếu. Vì vậy, trong thực
tế có thể có sự chuyển hóa mức cầu từ trái phiếu sang tiền hoặc ngược lại.
5. Mức cung tiền tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status