BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

NHIỆM VỤ “”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI NGÀNH
GIAO THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 20)
HÀ NỘI, THÁNG 11/2009
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU iii
CHƯƠNG 1.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI 4
1.1.DIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN 4
1.1.1.Vị trí địa lý 4
1.1.2.Đặc điểm địa hình 4
1.1.3.Đặc điểm khí hậu 4
1.2.TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 5
1.1.4.Tài nguyên đất 5
1.1.5.Tài nguyên nước 6
1.1.6.Tài nguyên rừng và động thực vật 7
1.1.7.Tài nguyên khoáng sản 8
1.3.DÂN SỐ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC 8
1.1.8.Dân số 8
1.1.9.Dự báo dân số 9
1.1.10. Tình hình tăng trưởng kinh tế 9
1.1.11.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
CHƯƠNG 2.TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔ KHÍ HẬU ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH GIAO
THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG TỈNH HÀ TĨNH 15
1.4.TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 15

với lĩnh vực xây dụng và GTVT là điều cần đặt ra một cách cấp thiết.
iii
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. DIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà tĩnh là tỉnh thuộc Bắc miền trung (Khu IV cũ), được tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh
cũ (từ năm 1991). Nằm ở từ 17o54’ độ vĩ Bắc đến 18o50’ độ vĩ Bắc và 105 đến 108 độ
kinh Đông.
Hà tĩnh có diện tích tự nhiên 6.055,74 km2, dân số 1.270.809 người (1999), chiếm
1,8% diện tích tự nhiên và 1,7% dân số cả nước. Phía Bắc giáp Nghệ An, phía nam
giáp Quảng Bình, Tây giáp Lào, Đông giáp biển Đông.
Về địa giới hành chính, Hà tĩnh có 2 Thị xã là Hà tĩnh và Hồng lĩnh, có 12 thị trấn
của 9 huyện (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã là miền núi): Đức Thọ, Nghi xuân, Can
lộc, Thạch hà, Cẩm xuyên, Kỳ anh, Hương sơn, Hương khê, Vũ quang (huyện Vũ
quang mới được thành lập). Có 7 huyện, thị nằm trên Quốc lộ 1A và 4 huyện có tuyến
đường sắt Bắc-Nam di qua. Cách Thành phố Vinh khoảng 50 km. Hà tĩnh còn có
đường quốc lộ 8 qua Lào (dài 100 km) và được nối với xa lộ Hồ Chí Minh đi qua 3
huyện Hương sơn, Vũ quang, Hương khê dài 80 km.
Hà tĩnh có bờ biển dài 137 km hiện chưa được khai thác triệt để các nguồn lợi ven
bờ cũng như ngoài khơi.
Hà tĩnh có cả rừng, biển và đồng bằng có thể tạo môi trường bổ sung cho nhau
cùng phát triển.
Tóm lại, vị trí địa lý nêu trên là điều kiện thuận lợi cho Hà tĩnh phát triển sản xuất
hàng hoá, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển nhanh những ngành kinh
tế mũi nhọn, mở rộng liên kết và giao lưu kinh tế với ngoài tỉnh và quốc tế, sớm hội
nhập vào xu thế chung của cả nước.
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Nằm ở phía Đông dãy Trường sơn, địa hình Hà tĩnh hẹp và dốc, nghiêng từ Tây
sang Đông, độ dốc trung bình 1,2%. Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình 1.500m),
kế tiếp là đồi bát úp, dãi đồng bằng nhỏ, hẹp (độ cao trung bình 500m) và cuối cùng là

Tổng diện tích tự nhiên 605.574 100,00
1 Đất nông nghiệp 103.720 17,13
2 Đất lâm nghiệp 231.100 38,16
3 Đất chuyên dùng 45.700 7,55
4 Đất làm nhà ở 6.920 1,14
5 Đất chưa sử dụng 218.134 36,02
Trong số 103.720 ha đất nông nghiệp đáng chú ý nhất là có khoảng trên 10.000 ha
vườn gia đình còn đang trồng nhiều loại cây với các giống có năng suất thấp, kém giá
trị kinh tế (gọi là vườn tạp) có thể cải tạo, thay thế bằng những loại cây có giá trị kinh
tế cao hơn.
Đất chưa sử dụng còn 218.134 ha, trong đó có 80% là đất đồi núi, mặt nước, núi
đá không có cây, trong đó đất có khả năng nông nghiệp dự kiến sẽ trồng 7.000 ha cây
ăn quả, đất có khả năng lâm nghiệp khoảng 187.000 ha chiếm 31% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh. Còn lại đưa vào mục đích khác như phát triển công nghiệp, du lịch, xây
dựng, đô thị (Xem biểu số 2).
Bảng 1.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2000
TT
Hạng mục Diện tích (ha) Tỷ trọng (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 605.574 100,00
1. Đất nông nghiệp
- Đất trồng cây hàng năm
+ Đất lúa, màu
- Đất vườn tạp
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất đồng cỏ chăn nuôi
103.720
76.930
65.830
17.000
3.840

Số liệu ở biểu số 2 cho thấy tiềm năng đất của Hà tĩnh còn khá lớn, trong số
218.134 ha đất chưa sử dụng có trên 187.000 ha có khả năng lâm nghiệp, 20.000 ha
đất bằng chưa sử dụng có thể đưa vào mục đích sản xuất nông nghiệp, và 5.340 ha mặt
nước có khả năng cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản. Trong số đất vườn có trên 10.000 ha
đất vườn gia đình có khả năng có thể cải tạo thành những vườn có giá trị kinh tế cao.
Hiện nay hệ số sử dụng đất nông nghiệp còn thấp, nhất là các huyện miền núi, tính
bình quân chung toàn tỉnh mới đạt 1,8 lần, có khả năng nâng lên trên 2 lần, năng suất
sinh lợi của cây trồng vật nuôi còn tiềm ẩn, nếu tích cực áp dụng giống mới, có chế độ
canh tác khoa học hợp lý thì sẽ nâng được năng suất lên ít nhất từ 1,3 đến 1,4 lần so
với năng suất hiện nay.
Tính đến tháng 10 năm 2000 tỉnh đã giao 482.749 ha đất cho các thành phần kinh
tế quản lý, sử dụng, chiếm 79,7 % diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, còn 128.825 ha
chiếm 20,3% chưa giao. Trong đó 120.204 ha được giao cho hộ gia đình nông thôn,
362.545 ha được giao cho các thành phần kinh tế khác.
d, Biến động đất đai.
Từ năm 1995 do điều kiện thống kê chưa thống nhất nên biến động đất đai chỉ có
thể so sánh được từ 1996 đến 1999.
Diện tích đất nông nghiệp Hà tĩnh năm 1999 so với năm 1996 tăng được 561 ha,
chủ yếu là tăng diện tích cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả …. Tổng diện tích
đất lâm nghiệp tăng 7.129 ha, trong đó rừng trồng tăng 3.349 ha, rừng tự nhiên tăng
3.797 ha (Xem biểu số 3).
Theo thống kê diện tích đất chưa sử dụng năm 1999 giảm so với năm 1996 là
16.728 ha. Hàng năm toàn tỉnh đã đưa vào sử dụng số đất này vào nhiều mục đích
khác nhau. Xu thế đất chưa sử dụng ngày càng giảm.
1.1.5. Tài nguyên nước
6
Trên lãnh thổ tỉnh Hà tĩnh có các con sông lớn chảy qua đó là sông Ngàn Phố,
Sông Ngàn Sâu, Sông La, Sông Nghèn và một số sông khác với tổng chiều dài khoảng
400 km, có nước quanh năm…. với sức chứa là 13 tỷ m
3

- Chuyên rau
- Cây hàng năm khác
98.171
66.159
48.514
12.949
11.075
10.850
68
149
100,00
67,39
49,42
13,19
11,28
11,05
0,07
0,15
II. Đất vườn tạp 17.979 18,31
III.
1.
2.
Đất trồng cây lâu năm
Cây CN lâu năm
Cây ăn quả
2.964
2.548
416
3,02
2,60

Hiện nay có khoảng 3 vạn ha thông nhựa, tới năm 2000 sẽ có thể đưa vào khai
thác 1 vạn ha.
Ngoài ra, Hà tĩnh còn có rừng Quốc gia Vũ Quang. Đây là rừng nguyên sinh, có
nhiều động thực vật quý hiếm có giá trị cao cho du lịch, nghiên cứu khoa học.
1.1.7. Tài nguyên khoáng sản
Hà tĩnh có tiềm năng rất lớn về khoáng sản nhưng chưa được đầu tư khai thác đó
là:
- Quặng sắt Thạch khê thuộc huyện Thạch hà cách Thị xã Hà tĩnh 6 km về phía
Đông, có trữ lượng khoảng trên 500 triệu tấn (Đây là mỏ sắt có hàm lượng sắt tương
đối cao khoảng 62,15% nằm dưới mặt đất chừng 40-100 m).
- Mỏ thiếc Sơn kim huyện Hương sơn cách Thị xã Hà tĩnh chừng 105 km về phía
Tây.
- Mỏ than Hương khê và nhiều sa khoáng vàng ở Kỳ anh, Hương khê.
- Ô xít Titan (trữ lượng 3-5 triệu tấn) chạy dọc bờ biển có khả năng liên doanh với
các công ty nước ngoài đang được khai thác góp phần tạo nguồn thu ngân sách cho
tỉnh, giải quyết việc làm cho lao động.
Ngoài ra Hà tĩnh còn có các loại khoáng sản khác như: Cát, Sỏi, đá các loại (chủ
yếu là đá hoa cương) là nguồn lợi lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Đá có ở hầu hết khắp
nơi trong tỉnh tập trung nhất là ở Kỳ anh, Thạch hà và Hương sơn. Đá Granit ở Hồng
lĩnh là loại đá có độ chịu nén cao (1.208kg/cm
2
)…
Ngoài ra còn có nhiều loại khoáng sản khác chưa được khảo sát địa chất như:
Mangan, đá quý, than bùn
1.3. DÂN SỐ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.8. Dân số
Tính đến tháng 12/2006, Hà Tĩnh có số dân 1.291.304 người, trong đó dân cư
nông thôn chiếm 89,03%, (cả nước là 74%), nam chiếm 48,97%, nữ chiếm 51,03%. Tỷ
lệ tăng dân số 0,778%. Mật độ dân số trung bình là 217 người/km
2

.
1.1.9. Dự báo dân số
Bảng 1.5. Dự báo dân số và nguồn nhân lực
Chỉ tiêu 2010 2015 2020
Tổng dân số (1000 người) 1390,5 1482,8 1600,0
Dân số thành thị (1.000 người) 305,9 370,7 650,00
% so với tổng số 22 25 40
Dân số nông thôn (1.000 người) 1084,6 1112,1 1102,82
Dân số trong tuổi lao động (1.000 người) 792,52 889,67 949,4
% so với dân số 57 60 62
Nguồn: Qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2020
Dự báo tỷ lệ tăng tự nhiên giảm từ 0,778% năm 2006 xuống 0,7 vào năm 2010
và còn 0,6% năm 2020. Tỷ lệ nhân khẩu thành thị và nhân khẩu nông thôn được căn
cứ vào mục tiêu đô thị hoá và khả năng phát triển các ngành phi nông nghiệp như dịch
vụ, công nghiệp trên địa bàn. Dự báo trong các năm tới, dân số đô thị sẽ tăng khá
nhanh, từ 10,97% hiện nay lên 40% năm 2020.
1.1.10. Tình hình tăng trưởng kinh tế
Trong vài năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức cao
(9,5% năm 2006 và năm 2007 là 8,7%), GDP bình quân đầu người đạt 5,25 triệu
9
đồng/người/năm (năm 2007), trong đó tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế chủ
yếu là:
- Ngành công nghiệp - xây dựng: 22,99%
- Ngành dịch vụ: 33,16%
- Ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản: 43,85%.
Công nghiệp và xây dựng: là khu vực có nhiều triển vọng góp phần vào tốc độ
tăng GDP của tỉnh với nhịp độ tăng khá cao, đạt 18,38%/năm, góp phần duy trì tốc độ
tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 39,6%,
khu vực ngoài Nhà nước chiếm 50,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9,5%. Giá
trị tăng thêm của ngành CN tăng bình quân 21,62%.

- Thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, bảo vệ đa
dạng hoá sinh học và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đạt hiệu quả
kinh tế cao.
10
- Ngăn chặn việc phá hoại tài nguyên rừng, gây ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ
môi trường sinh thái.
- Phát triển nông lâm ngư kết hợp, đưa độ che phủ rừng từ 47% hiện nay lên
60% năm 2020.
- Phấn đấu đến năm 2020, 50% nước thải và 85% rác thải được thu gom, xử lý,
100% nước thải công nghiệp được xử lý đạt tiêu chuẩn qui định.
- Đảm bảo 95-98% dân cư được dùng nước sạch.
b/Một số nét chính về định hướng phát triển kinh tế
Theo Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, hiện tại, Hà Tĩnh đang chuẩn bị
điều kiện để thực hiện dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê. Dự báo, đến 2010 - 2012 sẽ
có quặng sắt xuất khẩu. Trong giai đoạn 2010-2015, sẽ xây dựng nhà máy cán thép
nóng công suất 1,5÷2,5 triệu tấn/năm, nhà máy thép liên hợp 4,5 triệu tấn/năm và tổ
hợp luyện thép 15 triệu tấn/năm (do Tập đoàn FORMOSA làm chủ đầu tư với giai
đoạn 1 là 7,5triệu tấn/năm) cùng với một số nhà máy sản xuất sản phẩm sau thép sẽ ra
đời. Dự kiến sau năm 2010, sẽ có sản phẩm gang thép. Theo đó, 1.300÷1.500 ha trong
KKT Vũng Áng và KCN khác sẽ được lấp đầy. Một số mục tiêu như sau:
- Rút ngắn khoảng cách GDP/người của tỉnh với cả nước. Phấn đấu đến năm
2010 GDP/người của tỉnh bằng 64% và đến 2020 trên trung bình cả nước.
- Nhịp độ tăng GDP trung bình đến 2010 là >12%. Tăng GDP trong thời kỳ
2011-2015 đạt 14%, giai đoạn 2016-2020 là 15,5%.
- Dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng CN và xây dựng,
dịch vụ, giảm tỷ trọng nông- lâm - ngư nghiệp. Đến năm 2020 có cơ cấu kinh tế phù
hợp với xu hướng chung của cả nước.
- GDP ngành dịch vụ tăng cao trong giai đoạn 2011-2015, trên 11,8%/năm, do
tác động của xây dựng và đưa mỏ sắt vào khai thác tác động trực tiếp đến nhu cầu giao
dịch và tiêu dùng.

Trong vài năm gần đây, ngành CN có nhịp độ tăng khá cao, góp phần duy trì
tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp
tăng bình quân 21,62%. Ngành CN-TTCN của tỉnh có 3 đặc điểm sau:
+ Đang trong giai đoạn bắt đầu phát triển nên đóng góp của ngành vào giải
quyết việc làm trên địa bàn tỉnh chưa nhiều. Các ngành CN chính là khai thác khoáng
sản (titan, vàng), chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng.
+ Giá trị sản xuất CN và TTCN tăng khá cao, tuy vậy chưa có các doanh nghiệp
quy mô lớn nên đóng góp của công nghiệp vào GDP còn thấp.
+ CN chế biến chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất CN-TTCN, nhưng có xu
hướng giảm. CN khai thác mới được phát triển, có tỷ trọng ngày càng tăng.
Công nghiệp Hà Tĩnh đang đứng trước thời cơ thuận lợi. Điều kiện phát triển
ngành CN thép ở Hà Tĩnh đã đến lúc chín mùi do nhu cầu thép xây dựng rất lớn, cơ sở
hạ tầng cho phát triển công nghiệp được tiến triển thuận lợi.
c2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp
Đến 2020, phát triển CN theo hướng sản xuất đa dạng dựa vào lợi thế tài
nguyên là chủ yếu, đồng thời phát triển CN chế biến nông lâm thủy sản quy mô vừa và
nhỏ nhằm mở rộng thị trường cho sản xuất. Tiếp tục đầu tư phát triển và mở rộng các
ngành CN khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm thủy
sản, may mặc và các ngành công nghệ cao. Từng bước hoàn thành các khu, cụm CN
tập trung.
(1). Một số mục tiêu phát triển CN
- Giá trị sản xuất CN đến 2010 đạt 5.746 tỷ đồng, năm 2015 đạt 18.196 tỷ đồng,
năm 2020 đạt 45.965 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất CN giai đoạn 2006-
2010: 33,12%; giai đoạn 2011-2015: 23,49%; giai đoạn 2016-2020: 24,79%.
12
- Giá trị tăng thêm CN đến 2010 đạt 1.419,7 tỷ đồng, năm 2015 đạt 3.900,4 tỷ
đồng, năm 2020 đạt 9.827,4 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng GDP CN giai đoạn 2006-
2010: 21,7%; giai đoạn 2011-2015: 22,4%; giai đoạn 2016-2020: 20,3%.
- Tỷ trọng CN- xây dựng trong GDP năm 2010 chiếm 35%, năm 2015 chiếm
40,1%, năm 2020 chiếm 42,5% (trong đó CN tương ứng chiếm 19,82%, 25,93% và

đan. Phấn đấu đến 2020, mỗi huyện, thị xã và thành phố có từ 2-3 CCN -TTCN.
Xây dựng hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng KKT Vũng Áng, KKT cửa khẩu quốc tế
Cầu Treo. Tiếp tục triển khai xây dựng KCN Gia Lách, KCN Hạ Vàng và 1 số Cụm
CN-TTCN, làng nghề. Quy hoạch chi tiết và mời gọi đầu tư vào các CCN: Cẩm Xuyên
(100 ha), Phố Châu (150 ha), Voi - Kỳ Anh (50 ha), Đò Điệm - Thạch Hà (50 ha).
13
Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các Cụm CN-TTCN: Cụm CN-TTCN TP
Hà Tĩnh, KCN Hạ Vàng, CCN Thái Yên - Đức Thọ, CCN Nam Hồng, khu làng nghề
Trung Lương (TX Hồng Lĩnh). Xúc tiến xây dựng và phát triển Khu thương mại và
công nghiệp Hà Tân, KCN Đại Kim thuộc KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo.
(3). Một số chương trình dự án ưu tiên đầu tư
+Nhà máy chế biến Pigment Vũng Áng, công suất: 10÷15 ngàn tấn/năm.
+ Khai thác mỏ sắt Thạch Khê, công suất: 5 ÷10 triệu tấn/năm.
+ Nhà máy đóng mới tàu 20.000 DWT, sửa chữa tàu 10.000DWT tại biển Vũng
Áng.
+ Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I, công suất: 1.200 MW nằm trong qui hoạch
xây dựng Trung tâm nhiệt điện Vũng Áng 4.800MW.
+ Khu liên hợp sản xuất gang thép tại KKT Vũng Áng công suất 15 triệu
tấn/năm và cảng Sơn Dương do tập đoàn FORMOSA (Đài Loan) làm chủ đầu tư với
tổng đầu tư giai đoạn 1 trên 7,8 tỷ USD. Đây là dự án FDI lớn nhất từ trước đến nay
tại Việt Nam được cấp phép: giai đoạn 1, xây dựng cảng Sơn Dương trên diện tích
1.500 ha và Khu liên hợp sản xuất gang thép được xây dựng trên diện tích 2.000 ha,
công suất 7,5 triệu tấn/năm; giai đoạn 2 sẽ nâng công suất bốc dỡ của cảng lên khoảng
55÷60 triệu tấn/năm, công suất nhà máy thép nâng lên 15 triệu tấn/năm. Tổng đầu tư
trong cả hai giai đoạn trờn 16,2 tỷ USD.
+ Nhà máy cán thép nóng tại KKT Vũng Áng, công suất: 4,5 triệu.
+ Nhà máy luyện than cốc tại Vũng Áng, công suất 1,2 triệu tấn/năm.
+ Cảng Sơn Dương và Nhà máy lọc dầu tại KKT Vũng Áng
Ngoài ra, còn có các dự án khác gồm: nhà máy tuyển quặng sắt 0,5 triệu
tấn/năm tại Vũ Quang, Nhà máy bia Sài Gòn- Hà Tĩnh, Nhà máy bia Toàn Cầu, Nhà


trong khí
quyển Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của
các chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO
2
=> CFC => CH
4
=> O
3
=>NO
2
. Sự gia tăng
nhiệt độ Trái đất do Hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi
trường Trái đất.
Biến đổi khí hậu
Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển
và sinh quyển. Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những
thành phần này. Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất
nhiều. Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vài trò
tăng tường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu. Công ước khung của
LHQ về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có
hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học
gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh
sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ
thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt
động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ
khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm
hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại
khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO

- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống
của con người và các sinh vật trên Trái đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất
thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác
nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình
tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần
của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
2.1.2. Nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu
Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia tăng
nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng băng tan và
tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến. 11 trong số 12 năm qua (1995-2006)
được xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng kỷ lục (từ năm 1850). Xu
thế nhiệt độ tăng trong 100 năm (kể từ năm 1906 – 2005) là 0,74
0
C (0,56
0
C đến
0,92
0
C), lớn hơn xu thế được đưa ra trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC là
0,6
0
C (từ 0,4
0
C đến 0,8

cũng đã giảm kể từ những năm đầu thập kỷ 90.
Kể từ 1750, nồng độ CO
2
, CH
4
, N
2
O trong khí quyển toàn cầu tăng rõ rệt do các
hoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ trước cách mạng
công nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng nghìn năm.
Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ giữa thế
kỷ 20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính. Trong hơn 50 năm qua, nhiệt độ ở các lục
địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể.
Nóng lên toàn cầu làm gia tăng mực nước biển. Từ năm 1961, mực nước biển
trung bình trên toàn cầu dâng cao với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm (từ 1,3-2,3
mm/năm) và từ năm 1993 ở mức 3,1mm/năm (từ 2,4- 3,8 mm/năm), do sự dãn nở vì
nhiệt, tan các mũ băng và những tảng băng ở vùng cực. Tốc độ băng tan diễn ra nhanh
nhất trong thời gian từ 1993 đến 2003 thể hiện sự biến đổi trong một thập kỷ, chứ chưa
phải là một xu thế tan chảy dài hạn rõ ràng.
Nóng lên toàn cầu làm giảm lượng băng và tuyết. Dữ liệu vệ tinh từ năm 1978
chỉ ra rằng, trung bình hàng năm, diện tích băng biển ở Bắc cực giảm khoảng
2,7%/thập kỷ (từ 2,1-3,3%/thập kỷ), mức giảm lớn nhất trong mùa hè là 7,4%/thập kỷ
(5,0-9,8%/thập kỷ). Độ che phủ băng và tuyết ở vùng núi nhìn chung giảm ở cả hai
bán cầu.
Từ năm 1900 đến 2005, lượng mưa tăng đáng kể ở các khu vực phía đông của
Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu, Bắc và Trung Á, nhưng giảm ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam
Phi và các khu vực Nam Á. Tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn hán đã tăng lên từ
những năm 1970.
Rõ ràng là trong hơn 50 năm qua: số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá ít hơn ở
hầu hết các khu vực đất liền và tăng số ngày nóng, đêm nóng. Các đợt sóng nhiệt trở

có thể giảm tới 50%. Sản xuất nông nghiệp tại nhiều nước châu Phi sẽ bị
thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninh lương thực và
tăng tình trạng suy dinh dưỡng.
- Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng
trũng ven biển, đông dân cư. Chi phí thích ứng có thể chiếm ít nhất từ
5%-10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở châu Phi sẽ tăng từ
5%-8% theo các kịch bản khí hậu.
Châu Á
- Đến những năm 2050, lượng nước ngọt có thể sử dụng được ở Trung Á,
Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn sẽ
giảm.
- Vùng ven biển, nhất là các vùng châu thổ rộng lớn đông dân ở Nam Á,
Đông Á và Đông Nam Á sẽ chịu rủi ro nhiều nhất, do lũ từ sông, biển.
- Biến đổi khí hậu kết hợp đô thị hoá, công nghiệp hoá và phát triển kinh tế
nhanh chóng gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
- Sự hoành hành của dịch bệnh và tỷ lệ tử vong do tiêu chảy, chủ yếu liên
quan đến lũ lụt và hạn hán sẽ gia tăng ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á
do những thay đổi trong chu trình thuỷ văn.
Ôxtrâylia
và New
Zealand
- Vào năm 2020, suy giảm đa dạng sinh học ở mức cao sẽ diễn ra tại một
số điểm giàu đa dạng sinh học, gồm có Rạn san hô Great Barrier và các
vùng nhiệt đới ẩm ướt ở Queensland, Ôxtrâylia.
- Đến 2030, các vấn đề về an ninh nguồn nước sẽ trầm trọng hơn ở miền
nam và đông Ôxtrâylia, tại miền Bắc và một số vùng Đông New
Zealand .
- Vào năm 2030, sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giảm ở hầu hết miền đông
nam Ôxtrâylia và các vùng miền đông New Zealand do hạn hán và cháy

số lượng người có nguy cơ bị đói gia tăng.
- Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến mất của các
sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nước phục vụ cho con
người, nông nghiệp và thuỷ điện.
Bắc Mỹ
- Nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết phủ, tăng lũ lụt
mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuộc cạnh tranh vì
tài nguyên nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn.
- Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, biến đổi khí hậu ở mức vừa phải
sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vào nước mưa thêm
từ 5%-20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổi theo vùng.
- Các thành phố đang trải qua các đợt sóng nhiệt sẽ gặp phải thách thức lớn
hơn vì trong suốt thế kỷ này các đợt sóng nhiệt gia tăng về số lượng,
cường độ và thời gian, gây tác động tiêu cực tới sức khoẻ.
- Các cộng đồng và nơi cư trú ven biển sẽ phải chịu ngày càng nhiều áp lực
do các tác động của biến đổi khí hậu.
19
Các vùng
cực
- Các ảnh hưởng chủ yếu sẽ là giảm độ dày và diện tích của các sông băng,
mũ băng và băng biển, những thay đổi trong các hệ sinh thái tự nhiên gây
ảnh hưởng bất lợi tới nhiều sinh vật gồm các loài chim di cư, động vật có
vú và các loài ăn thịt.
- Đối với các cộng đồng ở Bắc cực, các tác động đặc biệt là những tác động
do thay đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ phức tạp.
- Các tác động tiêu cực sẽ bao gồm tác động tới cơ sở hạ tầng và lối sống
truyền thống của các cộng đồng bản địa.
Các đảo
nhỏ
- Mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt, dông bão, xói lở và các thảm

0
C, dự
báo mô hình cho thấy trên toàn cầu sẽ có từ 40%-70% loài tuyệt chủng.
2.1.3. Các tác động biến đổi khí hậu ở Việt Nam
20
Các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam thực sự được bắt đầu từ những năm
1990 của Viện KTTV. Hầu hết các công trình nghiên cứu về BĐKH vào trước năm
2002 đã được tổng kết trong TBQG-I của Việt Nam cho Công ước khung của LHQ về
BĐKH, năm 2003. Có thể tóm tắt các biểu hiện chính của BĐKH ở Việt Nam trong
hơn 100 năm qua như sau: (1) Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1°C mỗi thập
kỷ, nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1-0,3°C mỗi thập kỷ. Về
mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối
mùa; (2) Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khu vực và các thời
kỳ. Tuy vậy, có thể thấy trên phần lớn lãnh thổ lượng mưa mùa giảm đi trong tháng 7,
8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11. Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ; (3) Quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão lùi dần
về cuối năm. Sự biến đổi của gió mùa mùa đông không thể hiện rõ rệt thành xu thế; (4)
Mực nước biển dâng lên cao trung bình là 2,5 đến 3,0cm mỗi thập kỷ; (5) Trong 5 thập
kỷ gần đây hiện tượng ENSO ngày càng có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và
đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam; (6) Biểu hiện của BĐKH ở Việt
Nam về cơ bản phù hợp với xu thế BĐKH đã và đang xảy ra trên toàn cầu cũng như
trong khu vực.
Các kịch bản BĐKH cho Việt Nam và các khu vực của Việt Nam đã được xây
dựng với các nội dung chủ yếu sau: (1) Nhiệt độ sẽ tăng khoảng 0,3 – 0,5°C vào năm
2010; 1,0 – 2,0°C vào năm 2050 và 1,5 – 2,5°C vào năm 2070. Những khu vực có
mức độ tăng nhiệt độ cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc; (2) Lượng mưa mùa mưa biến
động vào khoảng 0 – 10% vào các năm nói trên. Nơi có mức độ biến động lớn nhất về
lượng mưa là Trung Bộ (Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và phần bắc của Nam Trung
Bộ); (3) Nước biển dâng khoảng 5cm/thập kỷ và sẽ dâng 33 – 45cm vào các năm
2050, 2070; (4) Gần đây, một số kịch bản BĐKH cho các vùng khí hậu ở Việt Nam

Tác động của BĐKH đến hệ sinh thái rừng
Thảm thực vật rừng là sản phẩm của sự tương tác và tiến hóa lâu dài giữa các
yếu tố tự nhiên, trong đó khí hậu đóng vai trò chủ đạo. BĐKH với sự tăng nhiệt độ,
thay đổi lượng mưa và nước biển dâng ảnh hưởng đến thảm thực vật rừng và hệ sinh
thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau:
- Nước biển dâng làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, mặt khác có tác động
xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ;
- Phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể
dịch chuyển. Chẳng hạn, rừng cây gỗ họ dầu sẽ mở rộng lên phía Bắc và lên các đai
cao hơn. Rừng rụng lá với nhiều cây chịu hạn sẽ phát triển mạnh do độ ẩm đất giảm và
bốc thoát hơn cây trồng tăng;
- Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn
đến tăng cường quá trình đồng hóa của cây xanh. Tuy vậy, do độ bốc thoát hơi tăng lên
nên độ ẩm đất sẽ giảm, kết quả là chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thể sẽ
giảm đi;
- Nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật
quan trọng như trầm hương, hoàng đàn, pơ mu, gõ đỏ, lát hoa, gụ mật sẽ có thể bị
suy kiệt;
- Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển
sâu bệnh, dịch bệnh phá hoại cây rừng.
Tác động của BĐKH đối với nguồn lợi hản sản và nghề cá
- Mực nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi. Kết
quả là các quần xã sinh vật hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng bổ
sung giảm sút nghiêm trọng. Dự báo trữ lượng các loài hải sản kinh tế bị giảm sút ít
nhất 1/3 so với hiện nay.
- Nhiệt độ tăng làm cho nguồn thủy hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới
(vốn kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới (có giá trị kinh tế
cao) giảm đi hoặc mất hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt.
- Các loại thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị
hủy diệt hoặc làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của

- Sự thay đổi trong tính chất của mùa bão có ảnh hưởng trực tiếp đến ngành
năng lượng, trước hết đến hệ thống dàn khoan ngoài khơi, hệ thống vận chuyển dầu và
khí vào bờ, hệ thống truyền tải và phân phối điện. Hàng trăm cột điện cao thế và hàng
ngàn cột điện hạ thế sẽ bị đe dọa.
- Cường độ mưa quá lớn ảnh hưởng đến quá trình điều tiết hồ chứa, gây lũ lụt
và đe dọa an toàn cho vùng hạ lưu, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng và sông
Cửu Long.
- Mưa nhiều trong bão gây ngập úng, làm tăng chi phí bơm tiêu. Mưa nhiều có
thể gây lũ quét, sạt lở đất, phá hủy các công trình đập và hệ thống thủy điện lớn nhỏ
dẫn đến tăng chi phí duy trì bảo dưỡng và sửa chữa. Lũ, lụt cũng là nguyên nhân tiềm
tàng phá hủy hệ thống hạ tầng cơ sở và hệ thống phân phối năng lượng.
Tác động của BĐKH đối với y tế và sức khỏe con người
- Tác động trực tiếp: Khí hậu nóng lên làm tăng tác động tiêu cực đối với sức
khỏe con người. Thời tiết cực đoan dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già,
người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh. Khí hậu nóng lên làm thay đổi cấu trúc
23
mùa hàng năm. Mùa đông ở miền Bắc sẽ ấm dần lên dẫn tới thay đổi đặc tính trong
nhịp sinh học của con người.
- Sự tăng lên của thiên tai như bão, nước dâng do bão, gió mạnh, mưa lớn đe
dọa đời sống của người dân trên nhiều vùng nhất là vùng ven biển, vùng núi.
- Tác động gián tiếp: Tác động qua các nguồn mang và truyền bệnh: Nhiều bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm chịu ảnh hưởng của BĐKH: bệnh sốt rét, bệnh “giun chỉ bạch
huyết”, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, các bệnh vi rút hình cây vốn được coi là
thịnh hành ở vùng nhiệt đới ẩm.
- Nhiệt độ tăng dẫn tới tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn
và côn trùng, vật chủ mang bệnh. Các loại bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan như các bệnh
thuộc đường tiêu hóa, hô hấp, hay các bệnh vi rút, có xu thế tăng lên về số lượng
người bị nhiễm bệnh cũng như tử vong.
- Tác động đối với sản xuất và đời sống: Trước hết phải kể đến sản xuất lương
thực, thực phẩm. Vùng sản xuất bị thu hẹp hoặc phải đắp đê bảo vệ đồng ruộng do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status