BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG TIỂM NĂNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HỆ THỐNG SINH KẾ CHO NGƯỜI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

NHIỆM VỤ “ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TỈNH
HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ RỦI RO KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG TIỂM NĂNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HỆ THỐNG SINH KẾ CHO
NGƯỜI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 22)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
2
DANH SÁCH CÁC BẢNG
3
DANH SÁCH CÁC HÌNH
4
MỞ ĐẦU
Hà Tĩnh có tổng diện tích đất tự nhiên 601.896 ha, dân số 1.228.079 người với mật
độ 204 người/km
2
, dân số ở nông thôn chiếm 84,79%. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản chiếm 33,73% tổng giá trị sản phẩm quốc dân (GDP); trong giá trị sản
xuất nông nghiệp thì trồng trọt chiếm 61,67%, chăn nuôi chiếm 36,19%. Tổng quỹ đất
nông nghiệp hiện nay là 461.883 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 117.490 ha (Cây
hàng năm 85.909 ha, Đất trồng cây lâu năm 31.581 ha); Đất lâm nghiệp 339.765 ha; Đất
nuôi trồng thuỷ sản 4.022 ha, đồng muối 428 ha; Đất nông nghiệp khác 178 ha (nguồn
Niên giám thống kê 2009).
Đói nghèo là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã
hội nhạy cảm nhất. Xoá đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu một cách chính đáng là
một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đó là một trong những vấn đề cơ bản của

đơn vị huyện, 2 thị xã. Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh
nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo Quốc lộ 1A.
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá, vì có lợi thế nằm tiếp giáp với các đô thị lớn và cửa
khẩu Quốc tế quan trọng, có nhiều thế mạnh cả về giao thông đường thuỷ và đường bộ.
1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa chất
- Vùng núi cao: Địa hình vùng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn bao
gồm các xã phía Tây của các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh. Địa hình dốc bị
chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ
thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ. Các thung lũng này cũng là vùng sinh sống
của cư dân các dân tộc. Sản xuất của dân cư trong vùng là hỗn hợp nông lâm nghiệp theo
phương thức khai thác tận dụng tự nhiên do vậy năng suất cây trồng và năng suất lao
động thấp. Mức thu nhập của dân thấp do chưa được đầu tư thích đáng, cơ sở vật chất
nghèo nàn, hạ tầng cơ sở yếu kém. Vùng này có tiềm năng phát triển cây công nghiệp
ngắn, dài ngày, cây ăn quả, nghề rừng và chăn nuôi gia súc.
- Vùng trung du và bán sơn địa: Đây là vùng chuyển tiÕp từ vùng núi cao xuống
vùng đồng bằng. Vùng này chạy dọc phía Tây Nam đường Hå ChÝ Minh bao gồm các xã
vùng thấp của huyện Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc ven Trà Sơn,
của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi
trung bình và thấp với đất ruộng. Đất đai không bằng phẳng, hệ thực vật chủ yếu là cây
lùm bụi, cây công nghiệp, rừng trồng và trảng cỏ. Sản xuất nông nghiệp chính là cây lúa
nước, cây màu, cây công nghiệp ngắn, dài ngày và chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm
nghiệp. Trong vùng bước đầu đã có sự đầu tư trong sản xuất các loại cây như lạc, đỗ, chè,
cây ăn quả. Các sản phẩm chăn nuôi như trâu, bò, lợn, dê, hươu. Đây là vùng có tiềm
năng đất đai cho phép sản xuất nhiều sản phẩm nông sản hàng hoá tập trung có thể đầu tư
x©y dùng c¸c trang tr¹i thóc ®Èy kinh tÕ phát triển nhanh.
- Vùng đồng bằng: là vùng chạy dọc giữa đường Hå ChÝ Minh và Quốc lộ 1A theo
chân núi Trà Sơn và vùng ven biển bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can
Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, TP. Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. Địa hình toµn
vùng tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông phù sa biển trên các

1.2.1.4. Tốc độ gió
Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s- 2,3 m/s . Tốc độ gió lớn nhất khi có bão đạt
>40 m/s. Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Tây Nam hoặc
gió Đông Nam.
1.2.1.5. Chế độ mưa
Hà Tĩnh có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300
~3.000mm. Những vùng mưa lớn như Kỳ Lạc (Kỳ Anh) lượng mưa đạt 3.220mm. Những
tâm mưa lớn thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ, Hoành Sơn có năm
lượng mưa năm đạt 4.586 mm năm 1978 ở Bàu Nước, 4.386mm tại Kỳ Anh năm 1990,
4.450 mm năm 1990 tại Kỳ Lạc.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII tới tháng XI. Tuy nhiên tháng V, VI có mưa Tiểu
mãn gây ra lũ Tiểu mãn. Lượng mưa mùa mưa đạt 65 - 70% lượng mưa năm, còn lại là
mùa khô.
8
1.2.2. Điều kiện thủy văn
Hà Tĩnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều dài
ngắn, lưu vực nhỏ, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn, nhất là về mùa mưa lũ.
Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Hà Tĩnh theo mùa rõ rệt, hầu hết
các con sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn, những vùng thấp trũng ở hạ
lưu đất thường bị nhiễm mặn do chế độ thuỷ triều ảnh hưởng xấu đến sản xuất, tuy nhiên
có thể tận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ.
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s, 15

tỉnh. Dân cư phân bố không đồng đều: tập trung cao ở khu vực đồng bằng phía Đông Bắc
tỉnh, còn dọc đường Hồ Chí Minh dân cư thưa thớt. TP. Hà Tĩnh có mật độ dân số 1612
người/ km
2
, trong khi huyện Hương Khê mật độ dân số chỉ có 79 người trên km
2
, Vũ
Quang 49 người trên km
2
9
Lao động trong độ tuổi khoảng 702 nghìn người, chiếm 51,0% dân số. Lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế là 511,5 ngàn người, trong đó nông - lâm nghiệp
chiếm gần 83%; công nghiệp - xây dựng 7%, còn lại khoảng 10,0% làm việc trong khu
vực dịch vụ. Năm 2005 tỷ lệ lao động thành thị không có việc làm 3,74%.
Lực lượng lao động có tŕnh độ chuyên môn kỹ thuật thấp. Năm 2004 tỷ lệ lao
động qua đào tạo dưới mọi hình thức chỉ khoảng 20%, thấp hơn so trong bình cả nước
(25%).
1.3.2. Kinh tế - xã hội
1.3.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2000-2005, Hà Tĩnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiều
chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Tốc độ
tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo
hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ. Văn hóa xã
hội phát triển mạnh, an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống nhân dân được nâng cao cả
về vật chất lẫn tinh thần.
Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt 5.990,7 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP cả
nước. (Tính theo giá 94, GDP năm 2005 đạt 4.063,5 tỷ đồng). Tăng trưởng kinh tế ổn
định, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cao hơn trung bình cả nước, nhưng còn thấp
hơn so với các tỉnh lân cận và vùng Bắc Trung bộ.
Nhịp độ tăng GDP nông nghiệp khá cao và ổn định ở mức 4-5%. Trong thời kỳ

10
2. Công nghiệp xây dựng %
13,45 14,05 15,46 18,05 19,84 22,45
3. Dịch vụ %
35,24 36,06 35,44 33,93 33,14 34,42
Khu vực thủy sản nông lâm có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu GDP của tỉnh từ
51,31% năm 2000 xuống còn 43,13% năm 2005. Ngược lại tỷ trọng của khu vực công
nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ trong GDP tăng dần, tương ứng tăng từ 13,45% và
35,24% năm 2000 lên 22,45% và 34,42% năm 2005.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa và thay đổi đều ở cả ba khu vực theo hướng dần từng bước hình thành nên cơ cấu
Dịch vụ - Công nghiệp - Nông lâm thủy sản. Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế hiện
nay diễn ra còn chậm, chưa có bước đột phá.
1.3.2.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a. Nông – lâm – ngư – diêm nghiệp
Nông nghiệp
Trong những năm qua nông nghiệp là ngành sản xuất chính, góp phần ổn định đời
sống nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, GDP nông nghiệp là 2032 tỷ đồng, chiếm 45,9%
tổng GDP cả tỉnh, gấp 2,32 lần năm 1995, nhưng còn thấp hơn so với chỉ tiêu này của cả
nước (3,11 lần)
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001-2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện tích
gieo trồng (tăng vụ) và tăng năng suất cây trồng. Trong đó tăng sản lượng xấp xỉ 5%.
Trong cùng thời kỳ, sản lượng cây công nghiệp tăng khá cao, nhưng chủ yếu do tăng diện
tích gieo trồng.
Để đảm bảo tăng giá trị sản xuất ổn định như thời gian qua, cần xây dựng một số
hồ chứa nước đa tác dụng, đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật sinh học
vào trồng trọt và chăn nuôi trên diện rộng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:
Năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 81,98%, lâm nghiệp:

2005 chế biến xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.600 tấn. Ngoài ra còn có các cơ sở chế biến nước
mắm phục vụ tiêu dùng nội địa.
-Lâm nghiệp
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, trên cơ sở tái trồng rừng ở
những nơi đã khai thác gỗ chỉ còn trảng cỏ và cây bụi. Trong những năm qua, các dự án
trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được thực hiện tốt, góp phần đưa độ
che phủ của rừng tăng nhanh từ 38% năm 2001 lên 43,5% năm 2005, nhưng đóng góp
của ngành vào tăng trưởng kinh tế còn thấp. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005 đạt
183,4 tỷ đồng, trong đó dịch vụ lâm nghiệp là 37,6 tỷ đồng, trồng và nuôi rừng: 29,7 tỷ
đồng, khai thác gỗ và lâm sản đạt gần 15 tỷ đồng.
Kinh tế trang trại nông lâm kết hợp: Hiện nay đã có hơn 1.300 trang trại với tổng
diện tích 12.000 ha chủ yếu là trồng, khoanh nuôi rừng, trồng cây ăn quả và chăn nuôi.
Doanh thu từ trang trại chưa nhiều, đạt khoảng 9-10 tỷ đồng, thu hút được 8.700 lao động
nhưng còn thấp so với tiềm năng. Số trang trại hoạt động có hiệu quả còn ít. Hiện chỉ có
23 trang trại đạt tiêu chuẩn theo quy định của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
12
Chế biến lâm sản: Bao gồm khai thác chế biến nhựa thông và các cơ sở chế biến
lâm sản. Rừng thông cấp tuổi V và IV vào khoảng hơn 9.000 ha, hàng năm cho hơn 4.000
tấn nhựa. Có khoảng 200 cơ sở chế biến lâm sản, chủ yếu là xẻ gỗ xây dựng và đóng đồ
mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên liệu (nguồn nguyên liệu
chủ yếu là gỗ lậu).
- Diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành truyền thống của tỉnh, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh
thấp. Diêm nghiệp được tập trung sản xuất ở 4 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh
và Nghi Xuân với sản lượng muối hàng năm đạt 26.000 tấn, trong đó muối i ốt 13.000
tấn. Có 4.000 hộ với hơn 8.000 lao động làm diêm nghiệp. Do làm muối thủ công năng
suất thấp, đời sống của người làm muối còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói nghèo của
vùng làm muối chiếm 17% (theo tiêu chuẩn cũ), cao hơn mức trung bình của tỉnh.
b. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh có hai đặc điểm nổi bật:

Tuynen đã bố trí ở khu mỏ đất sét. Tuy vậy bố trí không gian còn bộc lộ một số hạn chế:
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp xen kẽ trong dân vừa gây ô nhiễm môi trường vừa khó
quản lý về chất lượng và tài chính. Vì vậy trong các năm tới, cần xem xét bố trí nhà máy
trong các khu công nghiệp đã được hình thành.
c. Thương mại và du lịch
- Thương mại
Thương mại đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, mặc dù sản
xuất hàng hoá chậm phát triển và sức mua của dân cư còn thấp, số cơ sở và lao động
tham gia làm dịch vụ ngày một tăng, nhưng chủ yếu ở thị xã, thị trấn và một số xã vùng
ven đô thị.
Các trung tâm thương mại của tỉnh đang trong quá trình hình thành, mạng lưới chợ
nông thôn khá phát triển, đảm bảo được nhu cầu trao đổi hàng hóa của người dân. Năm
2000 có 16.548 lao động làm thương mại dịch vụ, bằng 2,86% tổng số lao động toàn tỉnh.
Năm 2005 có khoảng 31.542 lao động, bằng 5,56% tổng số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế.
Năm 2005, trong tổng mức bán lẻ hàng hoá của các cơ sở nhà nước chiếm 11,8%,
còn lại 88,2% là do thành phần kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể thực hiện.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, lĩnh vực thương nghiệp còn bộc lộ một số hạn
chế chủ yếu như:
Thiếu chiến lược thị trường, đồng thời còn thiếu các sản phẩm dịch vụ mang bản
sắc riêng, khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với giá cả;
Số lượng doanh nghiệp làm thương nghiệp tuy nhiều nhưng chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, vòng quay vốn còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao.
- Du lịch
Trên địa bàn Hà Tĩnh đã hình thành một số điểm du lịch có ý nghĩa Quốc gia và
Quốc tế như khu lưu niệm Nguyễn Du, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang và nhiều điểm
du lịch khác có ý nghĩa vùng và địa phương.
Cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng được hoàn thiện, số nhà nghỉ, khách sạn, nhà
hàng ở các khu du lịch tăng về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, công tác đảm bảo vệ sinh
môi trường, trật tự an toàn tại các khu du lịch còn nhiền bất cập. Đặc biệt là hệ thống thu

làng, bản, thôn xóm. Đơn vị quản lý của các thôn bản là các hộ gia định, mỗi hộ đều có
diện tích nhà ở, sân, công trình phụ, chuồng trại gia súc, giếng nước, vườn cây, ao cá.
Bình quân đất ở nông thôn toàn tỉnh là 53,52 m
2
/người, 231,6 m
2
/hộ.
Đặc điểm phân bố của các khu dân cư nông thôn như sau :
- Ở vùng đồi núi khu dân cư thường phân bố ở địa hình ven chân đồi hoặc các đồi
thấp thoải có độ dốc dưới 15
o
.
- Ở vùng đồng bằng ven biển, dân cư được phân bố trên các dải cồn cát cao nằm
song song với bờ biển xen kẽ các khu vực sản xuất nông nghiệp, hoặc phân bố dọc theo
các trục đường giao thông chính và ven các con sông lớn của tỉnh.
Do đặc điểm sản xuất của vùng nông thôn nên việc phát triển mở rộng khu dân cư
nông thôn thường gắn chặt với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng địa phương, thông
thường là mở rộng vào đất nông nghiệp xung quanh làng bản.
15
Trong những năm gần đây cùng với việc phát triển của cơ chế thị trường, hướng
mở rộng khu dân cư có nhiều thay đổi. Đất ở nông thôn được mở rộng theo các trục giao
thông thôn, xã. Vừa giải quyết đất ở gắn với hệ thống dịch vụ.
1.3.3. Điều kiện xã hội
1.3.3.1. Giao thông
- Đường bộ:
Hà Tĩnh có 4 đường Quốc lộ chạy qua và 27 tuyến đường tỉnh lộ với tổng chiều
dài 387 km. Nếu tính cả giao thông nông thôn, tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn tỉnh
là 2.917 km.
Tuy đạt được những thành tựu nêu trên, nhưng hiện nay 80% đường bộ được đánh
giá vào loại xấu và rất xấu, nhiều đoạn đường bị ngập trong mùa mưa. Hệ thống cầu,

phát triển kinh tế về lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Mạng lưới trường cần mở rộng để đáp ứng cho nhu cầu học tập ngày càng tăng.
Đối với địa hình các xã vùng núi, khoảng cách đến trường của học sinh còn xa,
cần xem xét lại quy mô, địa điểm trường lớp cho phù hợp.
1.3.3.4. Y tế
Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe phát triển khá hoàn chỉnh, từ tỉnh xuống xã, đáp
ứng được nhu cầu chữa trị bệnh cho nhân dân trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ y tế được tăng
cường, năm 2005 bình quân 4,29 bác sỹ/1 vạn dân. Hiện nay, 34,8% số xã có bác sỹ, với
trên 700 cán bộ y tế đang công tác tại các thôn bản.
Cơ sở vật chất ngành y tế được củng cố. Toàn tỉnh có 3.521 giường bệnh, trong đó
số giường bệnh viện là 1890 giường, bằng 53,6% tổng số giường. Bệnh viện đa khoa tỉnh
được xây dựng mới với 450 giường bệnh, có đầy đủ các khoa từ lâm sàng đến cận lâm
sàng, trang thiết bị ngày một đầy đủ và hiện đại hơn.
Công tác KHHGĐ được triển khai, thực hiện tốt. Bằng nhiều hình thức, biện pháp
giáo dục, tăng cường truyền thông, và dịch vụ phù hợp đã tạo nhiều chuyển biến về nhận
thức trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần hạn chế các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở
lên.
Từ năm 1995 đến nay công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng được chú ý mở rộng
về quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo chữa các bệnh thông thường, chủ
động phòng chống và kịp thời dập tắt các dịch bệnh xã hội có khả năng lây lan cho nhân
dân. Nhiều chương trình Quốc gia về y tế được quan tâm sát sao, thực hiện có hiệu quả.
Tuy vậy, ngành y tế tỉnh cần phải nâng cấp các cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu
khám chữa bệnh đang xuống cấp, đầu tư máy móc, thuốc men, đào tạo dược sỹ, bác sỹ
(cấp một) giỏi của một số chuyên khoa thiếu như sản, chụp cắt lớp.
1.3.3.5. Văn hóa xã hội, thể dục thể thao
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xây dựng làng văn hóa được triển
khai trên diện rộng và đạt kết quả tốt. Phục vụ tốt, kịp thời các ngày lễ lớn của dân tộc và
lễ hội truyền thống ở các địa phương. Đến năm 2005 đã có 78% gia đình văn hóa, tăng
30% so với năm 2000.
Công tác tôn tạo, bảo quản và giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá được chú trọng,

giao thông thuận lợi. Hệ thống cảng biển nước sâu Vũng áng đang được quan tâm xây
dựng, tương lai sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác với Lào, Thái Lan và các nước
khác trong khu vực. Mạng lưới điện quốc gia chạy qua tỉnh, đặc biệt có 1 trong 4 trạm bù
của đường siêu cao áp 500 KW là ưu thế cho phép Hà tĩnh có đủ điều kiện cung cấp năng
lượng phát triển các khu công nghiệp lớn, chủ động tưới tiêu trong công nghiệp và sinh
hoạt.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và
xây dựng khá đa dạng và phong phú. Trên cơ sở đó có thể bố trí 1 cơ cấu kinh tế theo
ngành và lãnh thổ toàn diện và hợp lý, đặc biệt với chiều dài bờ biển là 137km, tạo điều
18
kiện tự nhiên thuận lợi không chỉ cho nuôi trồng và đánh bặt thuỷ sản mà có thể phát
triển thành làng kinh tế ven biển tổng hợp từ dịch vụ khai thác, cơ khí sữa chữa đến chế
biến và các ngành nghề đi kèm khác như ở Xuân Hội, Xuân Hải, Thạch Kim, Cẩm
Nhượng, Kỳ Hà, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cáu kinh tế trong thời gian tới.
- Du lịch sinh thái, nhân văn và lịch sử là một lợi thế khác của Hà Tĩnh các tuyến
du lịch dọc bờ biển đang được hình thành như bãi tắm Xuân Thành, Thạch Hải, Thiên
Cầm, Đèo Con, Hà Tĩnh vẫn có nhiều di tích lịch sử đã được xếp hạng (Đền bà chúa
Liễu, Đền Lê Khôi, nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng, Đại thi hào Nguyễn Du, Danh y Hải
Thượng Lãn Ông và các khu du lịch sinh thái như Bến Tam Soa, rừng bảo tồn thiên nhiên
Kẽ gỗ, rừng nguyên sinh Vũ Quang ) thu hút du khách thập phương cùng các ngành
nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
- Nguồn nhân lực của Hà Tĩnh là một lợi thế lớn: Người Hà Tĩnh cần cù, thông
minh sáng tạo mạnh dạn đi vào hoạt động trong các lĩnh vực mới. Nhân dân Hà Tĩnh có
tinh thần cách mạng, Đảng bộ Hà tĩnh có nhiều kinh nghiệm trong quản lý kinh tế - xã
hội, đây là một tiềm lực to lớn cho phát triển .
1.4.2. Khó khăn và hạn chế
- Địa hình phức tạp, chia cắt nhiều, độ dốc lớn, đồi núi trọc nhiều, đất canh tác
thường bị xói mòn, rửa trôi, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, mưa bão lũ lụt thường xuyên,
gió tây nóng, gây nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên rừng suy giảm, hệ
thống thủy văn dốc, hạn chế đến khả năng điều tiết nguồn nước (đặc biệt trong mùa khô)

ở Việt Nam đã tăng lên 0,7
o
C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961
-
2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960). Nhiệt độ
trung
bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh
đều
cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6
o
C. Năm
2007,
nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931
-
1940 là 0,8 - 1,3
o
C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 -
0,5
o
C.
- Lượng mưa. Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình
năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên
các
vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm
xuống.
- Mực nước biển. Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các
trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù
hợp

Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3
0
C vào năm
2100.
Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng
(từ
0% đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô. Tính biến động
của
mưa tăng
lên.
Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1
m
vào năm
2100.
Việt Nam sẽ là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu.
Tác động lớn nhất là do nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Biến đổi khí
hậu sẽ làm: thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, tăng dòng chảy mùa lũ,
giảm dòng chảy mùa kiệt… Những thay đổi của môi trường tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến
toàn bộ các lĩnh vực, ngành nghề của kinh tế - xã hội.
2.2. RỦI RO KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG TIỀM NĂNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN HỆ THỐNG SINH KẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
2.2.1. Thực trạng đói nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh ven biển luôn phải đối mặt với thiên tai xảy ra liên tiếp như hạn
hán, lũ lụt, rét hại. Những người nghèo nhất, thường tập trung ở các vùng nông thôn, đặc
biệt ở vùng ven biển và các khu vực miền núi. Điều đó tạo ra những khó khăn to lớn đối
với sản xuất cũng như đời sống kinh tế xã hội của người dân.
Giai đoạn 2001-2005:
Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí cũ) trên tổng số hộ dân qua các năm như sau:
- Năm 2001 tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 6.659 hộ, chiếm 28,86%
- Năm 2002 tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 74.745 hộ, chiếm 24,71%

Tổng số
hộ
Hộ
nghèo Tỷ lệ
Tổng số
hộ
Hộ
nghèo Tỷ lệ
1 Kỳ Anh
41,1
01
15,2
11
37.0
1
44,0
25
16,1
74
36.7
4
43,8
52
14,3
13
32.6
4
47,1
19
8,1

6
34,1
92
10,2
94
30.1
1
34,6
52
8,9
93
25.9
5
35,3
26
4,0
87 11.57
4 Can Lộc
31,9
20
10,2
91
32.2
4
32,2
89
9,5
22
29.4
9

80
3,4
32 16.05
6 Nghi Xuân
24,6
10
6,4
20
26.0
9
24,9
55
5,1
66
20.7
0
25,1
65
4,1
95
16.6
7
25,3
80
3,4
45 13.57
7 Đức Thọ
29,7
10
8,8

40.5
9
32,0
73
12,2
71
38.2
6
33,1
88
4,2
04 12.67
9 Hương Khê
27,0
52
12,6
19
46.6
5
27,0
15
15,0
41
55.6
8
27,8
74
10,7
89
38.7

60
1,2
76
13.4
9
9,6
02
1,1
29
11.7
6
9,6
07
9
91
10.3
2
9,7
72
6
50 6.65
12 TP: Hà Tĩnh
20,9
94
2,0
21 9.63
20,8
37
2,2
93

58
42,6
72 12.69
22
Nguồn:[Báo cáo Công tác xoá đói giảm nghèo giai 2001-2010 Tỉnh Hà Tĩnh]
23
2.2.2. Những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí
hậu
a) Tác động của nước biển
dâng
Hà Tĩnh là tỉnh ven biển vùng Bắc Trung Bộ, Hà Tĩnh có 137 km bờ biển có nhiều
cảng và cửa sông lớn nhiều vùng đất thấp ven biển. Những vùng
này
hàng năm phải
chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn
trong
mùa khô. BĐKH
và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên,
làm
tăng diện tích
ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và
nhiễm
mặn nguồn
nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi
ro
lớn đối với
các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến
cảng,
các nhà máy,
các đô thị và khu dân cư ven biển. Mực nước biển dâng và nhiệt độ

thay đổi ở một số vùng. Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả
các nhiệt độ
cực
đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và
thiên tai làm
tăng
khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất
và sản lượng,
tăng
nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương
thực.
Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con
người,
nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới,
bệnh
truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật
chủ
mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy
giảm.
Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng
lượng,
giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại,… liên quan đến
chi
phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết bị, phương
tiện,
sức bền vật
liệu.
c) Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên
tai
Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số

biệt là những vùng hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão, nước dâng do bão, lũ lụt),
vùng núi (nhất là những nơi thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất)
a. Tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên
nước
Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng

một số vùng, mùa. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước

nông thôn, thành thị và sản xuất
điện.
Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn
hán
vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng
nước.
b. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo
trồng,
làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản,
sinh
trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc,
gia
cầm.
BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực
đoan
của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan
đến
nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại,
xâm
nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm năng suất và sản lượng của cây trồng và vật
nuôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status