PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Qua thời gian thực tập tại Công ty CP BIA – NGK CẦN
THƠ và những kiến thực đã được học ở nhà trường, cùng
với kinh nghiệp thực tế em thấy tầm quan trọng của
Marketing đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
thương mại nói chung, Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ
nói riêng. Triết lý Marketing đã phản ánh những tư tưởng
cốt lõi, cơ bản nhất của kinh tế thị trường. Bắt đầu nắm bắt
nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm
dịch vụ để thoả mãn nhu cầu đó. Triết lý Marketing hiện đại
đòi hỏi tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp phải theo
đuổi mục tiêu rõ ràng làm sao đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng tốt nhất, qua đó doanh nghiệp thu được lợi
nhuận. Chính bởi lẽ đó em quyết đinh chọn đề tài: “ĐÁNH
GIÁ HOẠT ĐỘNG MARKETING QUA CÁC NĂM
NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CP BIA
– NGK CẦN THƠ” để nghiên cứu.
1 | P a g e
2. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu nội dung cơ bản của Marketing ứng
dụng trong hoạt động kinh doanh từ đó đưa ra một số giải
pháp Marketing nhằm thúc đẩy
hoạt động kinh doanh của Công ty CP BIA – NGK CẦN
THƠ.
3. Đối tượng -phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu Marketing thúc đẩy hoạt động
kinh doanh của Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ.
- Phạm vi nghiên cứu nghiên cứu Marketing thúc đẩy
hoạt động kinh doanh của Công ty CP BIA – NGK CẦN
diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực với phạm vi rộng.
4 | P a g e
Điều này buộc các doanh nghiệp từ sản xuất cho đến dịch
vụ đều phải gắn mọi hoạt động của họ với thị trường, lấy thị
trường làm cơ sở cho các quyết định của doanh nghiệp. Mà
đối với một doanh nghiệp chỉ có 4 lĩnh vực quản trị chủ yếu
là sản xuất - kỹ thuật - tài chính, lao động và marketing.
Nếu doanh nghiệp hoạt động theo định hướng thị trường thì
chức năng quản trị marketing trở thành quan trọng. Các
chức năng khác trong doanh nghiệp chỉ có thể phát huy sức
mạnh qua các hoạt động marketing và nhờ đó đạt được mục
tiêu kinh doanh trên thị trường.
- Trong thực tế, nhiều lúc hoạt động marketing còn ẩn
đằng sau các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đòi
hỏi các nhà quản trị phải có cách nhìn nhận tiếp cận và vận
dụng nó vào hoạt động kinh doanh. Đây cũng là lĩnh vực
quản trị phức tạp, đầy thách thức, đòi hỏi tri thức và sáng
tạo vì sự đòi hỏi và yêu cầu tất yếu khách quan đó có rất
nhiều cá nhân cũng như các tổ chức nghiên cứu vấn đề này
và một trong những vấn đề quan điểm được tranh luận trong
kinh doanh là định nghĩa về nó. Do vậy để phục vụ cho bài
5 | P a g e
viết này; Ở đây xin đưa ra vài quan điểm khác nhau về
marketing để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
- Theo hiệp hội marketing Mỹ đã định nghĩa "Marketing
là quá trình kế hoạch hoá thực hiện nội dung sản phẩm
định giá xúc tiến vào phân phối các sản phẩm dịch vụ và tư
tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu cá
nhân và tổ chức”, hay "Marketing là một quá trình quản lý
mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được
định bán có phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng hay
7 | P a g e
không? Mà một doanh nghiệp muốn tồn tại cần phải gắn
mình với thị trường nhưng kết cục ở đây là mối liên hệ giữa
doanh nghiệp và thị trường chưa được giải quyết.
Trái với hình thức kinh doanh trên, hoạt động Maketing
sẽ hướng các nhà quản trị doanh nghiệp vào việc trả lời câu
hỏi trên, trước khi giúp họ phải lựa chọn phương châm hành
động nào. Có nghĩa là Maketing đặt cơ sở cho sự kết nối
giữa doanh nghiệp và thị trường ngay trước khi doanh
nghiệp bắt tay vào sản xuất. Nhờ vậy Maketing kết nối mọi
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường.
Nói tóm lại hoạt động maketing trong doanh nghiệp trả
lời các câu hỏi sau:
- Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Họ sống và mua
hàng ở đâu? Vì sao họ mua?
- Họ cần loại hàng hoá nào? có đặc tính gì?
- Giá cả Công ty nên quy định là bao nhiêu? Áp dụng
mức tăng giảm giá đối với ai?
- Tổ chức hệ thống kênh tiêu thụ như thế nào?
8 | P a g e
- Tổ chức khuếch trương quảng cáo sản phẩm như thế
nào?
- Tổ chức các loại dịch vụ nào cho phù hợp?
Đó là những vấn đề mà ngoài chức năng Maketing ra thì
không một hoạt động chức năng có thể của doanh nghiệp có
thể trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên các nhà quản trị
maketing cũng không thể thoát ly khỏi các khả năng về tài
chính, sản xuất công nghệ, tay nghề, khả năng của người lao
động, khả năng cung ứng nguyên vật liệu.
Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh
nghiệp phải nắm được thông tin về loại hàng
hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng thị trường,
yêu cầu về quy cách, chất lượng, mẫu mã hàng
hoá của khách hàng Hiểu rõ thị hiếu, phong
tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu
vực, tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh.
Nội dung nghiên cứu thị trường của doanh
nghiệp bao gồm:
- Thứ hạng phẩm cấp chất lượng nào phù hợp
với nhu cầu thị trường của doanh nghiệp.
- Đâu là mục tiêu của doanh nghiệp, sản
phẩm xương sống của doanh nghiệp, khách
hàng là ai, ở khu vực nào, nhu cầu hiện tại và
tương lai của hàng hoá mà doanh nghiệp kinh
doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp
đang quan tâm.
11 | P a g e
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hàng
hoá doanh nghiệp kinh doanh, ưu và nhược
điểm của đối thủ cạnh tranh.
- Nguồn hàng nào thì phù hợp với nhu cầu của
khách, phân phối như thế nào cho hợp lý và
nên cạnh tranh bằng hình thức nào. Đó là toàn
bộ thông tin cơ bản và cần thiết, mà một doanh
nghiệp phải nghiên cứu để phục vụ cho quá
trình ra quyết định một cách đúng đắn, tối ưu
nhất. Để nắm bắt được những thông tin đó
doanh nghiệp phải coi công tác nghiên cứu thị
trường là một hoạt động không kém phần quan
1.2.2. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
thuộc môi trường kinh doanh
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là
các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không
thể kiểm soát được như: văn hóa, xã hội, chính
trị,… Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm
mục đích điều khiển nó theo ý muốn của doanh
nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một
cách tốt nhất với xu thế vận động của chúng;
để rồi từ đấy doanh nghiệp có thể đưa ra các
chính sách phù hợp cho công việc kinh doanh.
Môi trường văn hoá và xã hội
- Yếu tố văn hóa - xã hội luôn bao quanh
doanh nghiệp và khách hàng; Nó có ảnh hưởng
14 | P a g e
lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong bài viết này, em chỉ đề cập tới sự ảnh
hưởng của các yếu tố trong môi trường này
trong việc hình thành và đặc điểm thị trường
tiêu thụ của doanh nghiệp. Các yếu tố thuộc
môi trường văn hóa - xã hội bao gồm các yếu tố
sau:
+ Dân số: Đây là quy mô của nhu cầu và tính
đa dạng của nhu cầu. Dân số càng lớn, thị
trường càng lớn; nhu cầu về một nhóm hàng
hoá càng lớn;… Có nhiều cơ hội cho doanh
nghiệp hơn.
+ Xu hướng vận động của dân số: Đây là
dạng của nhu cầu và sản phẩm đáp ứng. Tỷ lệ
sinh/tử, độ tuổi trung bình cao/thấp,… Điều này
xã hội và nền kinh tế của nhà nước.
+ Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện
các quan điểm, mục tiêu của Chính phủ và khả
năng điều hành của Chính phủ.
+ Mức độ ổn định chính trị - xã hội…
Môi trường kinh tế - công nghệ
- Môi trường này có ảnh rất lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố cơ bản bao gồm:
+ Tiềm năng của nền kinh tế.
+ Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của
nền kinh tế quốc dân.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
17 | P a g e
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát.
+ Hoạt động ngoại thương, xu hướng
đóng/mở của nền kinh tế.
+ Tỉ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của
đồng tiền quốc gia.
+ Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực
thi.
+ Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của nền kinh tế….
Môi trường cạnh tranh.
- Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát
triển. Trong môi trường cạnh tranh, ai hoàn
thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu
quả hơn thì người đó sẽ thắng, sẽ tồn tại và
phát triển. Doanh nghiệp cần chú ý một số yếu
tố sau trong môi trường cạnh tranh:
+ Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị
1.2.4. Chính sách sản phẩm
Sản phẩm là một trong bốn tham số cơ bản
trong Maketing (sản phẩm, xúc tiến, giá cả,
phân phối). Bất cứ một doanh nghiệp nào - nhất
là doanh nghiệp thương mại - cũng phải có
những chính sách cụ thể và đúng đắn về sản
phẩm nếu muốn thành công trên thị trường.
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh
nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan
20 | P a g e
trọng của Maketing. Xác định đúng sản phẩm
có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ và khai
thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Có hai cách tiếp cận để mô tả sản phẩm:
- Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo truyền
thống.
- Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo quan điểm
Maketing.
Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu nhược
điểm riêng của nó. Việc lựa chọn cách tiếp cận
nào là tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp.
Một điều không thể không nhắc tới trong
chính sách sản phẩm, đó là việc định hướng
phát triển sản phẩm mới. Trong nền kinh tế thị
trường đầy biến động khó lường thì đòi hỏi
doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới về
sản phẩm. Điều chú ý là sản phẩm mới không
nhất thiết là mới hoàn toàn. Một sản phẩm cũ
cải tiến cũng có thể được coi là sản phẩm mới.
21 | P a g e
phân phối cần chú ý các điểm sau: yếu tố ảnh
hưởng, mục tiêu và tiêu chuẩn của hệ thống,
xác định dạng và phương án kênh phân phối,
lựa chọn và phát triển các phần tử trong kênh,
điều chỉnh hệ thống kênh.
1.2.6. Chính sách xúc tiến
Xúc tiến là công cụ hữu hiệu giúp cho cung
cầu gặp nhau, xúc tiến làm cho bán hàng trở
23 | P a g e
nên dễ dàng hơn, xúc tiến là cầu nối giữa khách
hàng và doanh nghiệp,… Nói một cách ngắn
gọn thì xúc tiến có vai trò rất quan trọng trong
kinh doanh. Chính sách xúc tiến là một trong
những chính sách quan trọng trong chiến lược
Marketing.
Hoạt động xúc tiến bao gồm các hoạt động
chính sau:
- Quảng cáo.
- Khuyến mại.
- Hội chợ, triển lãm.
- Bán hàng trực tiếp.
- Quan hệ công chúng và các hoạt động
khuyếch trương khác.
Các nội dung này đều có vai trò quan trọng như
nhau. Để hoạt động xúc tiến có hiệu quả, các
doanh nghiệp nên sử dụng tổng hợp các nội
dung trên. Tuỳ vào điều kiện cụ thể mà doanh
nghiệp lựa chọn nội dung nào là chủ đạo. Thực
24 | P a g e
tế đã chứng minh rằng doanh nghiệp nào làm