KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Qua thời gian thực tập tại Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ và những kiến
thực đã được học ở nhà trường, cùng với kinh nghiệp thực tế em thấy tầm quan
trọng của Marketing đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương
mại nói chung, Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ nói riêng. Triết lý
Marketing đã phản ánh những tư tưởng cốt lõi, cơ bản nhất của kinh tế thị
trường. Bắt đầu nắm bắt nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp đưa ra các sản
phẩm dịch vụ để thoả mãn nhu cầu đó. Triết lý Marketing hiện đại đòi hỏi tất cả
các bộ phận trong doanh nghiệp phải theo đuổi mục tiêu rõ ràng làm sao đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng tốt nhất, qua đó doanh nghiệp thu được lợi
nhuận. Chính bởi lẽ đó em quyết đinh chọn đề tài: “Giải pháp Marketing thúc
đẩy hoạt động kinh doanh tại Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ” để nghiên
cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu nội dung cơ bản của Marketing ứng dụng trong hoạt
động kinh doanh từ đó đưa ra một số giải pháp Marketing nhằm thúc đẩy
hoạt động kinh doanh của Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ.
3. Đối tượng -phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu Marketing thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Công
ty CP BIA – NGK CẦN THƠ.
- Phạm vi nghiên cứu nghiên cứu Marketing thúc đẩy hoạt động kinh doanh
của Công ty CP BIA – NGK CẦN THƠ qua việc nghiên cứu các năm 2008 –
2009 - 2010 và từ đó đưa ra các giải pháp cho giai đoạn 2010 - 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu trên sổ sách của công ty như
báo cáo tài chính, báo cáo thống kê, bản báo giá…
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
- Phương pháp xử lý số liệu: Dùng phương pháp phân tích thống kê đánh giá
quản trị phức tạp, đầy thách thức, đòi hỏi tri thức và sáng tạo vì sự đòi hỏi và
yêu cầu tất yếu khách quan đó có rất nhiều cá nhân cũng như các tổ chức nghiên
cứu vấn đề này và một trong những vấn đề quan điểm được tranh luận trong
kinh doanh là định nghĩa về nó. Do vậy để phục vụ cho bài viết này; Ở đây xin
đưa ra vài quan điểm khác nhau về marketing để làm cơ sở cho việc nghiên cứu
đề tài.
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
- Theo hiệp hội marketing Mỹ đã định nghĩa "Marketing là quá trình kế
hoạch hoá thực hiện nội dung sản phẩm định giá xúc tiến vào phân phối các
sản phẩm dịch vụ và tư tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục
tiêu cá nhân và tổ chức”, hay "Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã
hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn
thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với
những người khác".
- Theo Philip Kotler "Marketing là hoạt động các con người hướng tới sự
thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi". Sự khác
nhau giữa các định nghĩa này chỉ ở quan điểm góc độ nhìn nhận về marketing.
Mặc dù các định nghĩa này cho phép cả các quá trình trao đổi không kinh doanh
như là một bộ phận của marketing thì sự nghiên cứu tập trung vào marketing
trong môi trường kinh doanh.
1.1.2. Vai trò và vị trí của Marketing trong hoạt động kinh doanh
Một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động thị trường nếu muốn tồn tại và
phát triển thì cẩn phải có các hoạt động chức năng sau: sản xuất tài chính, quản
trị nhân lực.... Nhưng đối với nền kinh tế thị trường hoạt động của các chức
năng này chưa có gì đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và càng không có gì đảm
bảo chắc chắn cho sự phát triển của doanh nghiệp nếu tách rời nó khỏi một
chức năng khác. Chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị
trường.
Chức năng này thuộc lĩnh vực quản lý khác - quản lý Maketing. Thật vậy nếu
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MARKETING
TRONG KINH DOANH
1.2.1. Nghiên cứu thị trường
Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của
doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường,
nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí
ẩn và không ngừng thay đổi. Do vậy, để kinh doanh có hiệu quả
doanh nghiệp phải nghiên cưú thị trường.
Nghiên cứu thị trường là quá trình tìm kiếm khách quan và có hệ thống cùng
với sự phân tích thu thập thông tin cần thiết để giải quyết các vấn đề cơ bản của
kinh doanh. Bởi vậy nghiên cứu thị trường giúp nhà kinh doanh có thể đạt được
hiệu quả cao và thực hiện được các mục đích của mình, đó cũng là khâu mở đầu
cho hoạt động kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh
nghiệp. Cơ chế thị trường làm cho hàng hoá phong phú, cung luôn có xu hướng
lớn hơn cầu, bán hàng ngày càng khó khăn, mức độ rủi ro cao, các doanh
nghiệp muốn thành công thì phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, mọi
hoạt động kinh doanh đều hướng vào khách hàng.
Nghiên cứu nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thông tin
về loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh, dung lượng thị trường, yêu cầu về quy
cách, chất lượng, mẫu mã hàng hoá của khách hàng ... Hiểu rõ thị hiếu, phong
tục tập quán tiêu dùng ở mỗi nhóm và mỗi khu vực, tìm hiểu thông tin về đối
thủ cạnh tranh. Nội dung nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp bao gồm:
- Thứ hạng phẩm cấp chất lượng nào phù hợp với nhu cầu thị trường của
doanh nghiệp.
- Đâu là mục tiêu của doanh nghiệp, sản phẩm xương sống của doanh nghiệp,
khách hàng là ai, ở khu vực nào, nhu cầu hiện tại và tương lai của hàng hoá mà
doanh nghiệp kinh doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp đang quan tâm.
nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu thế vận
động của chúng; để rồi từ đấy doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách phù
hợp cho công việc kinh doanh.
Môi trường văn hoá và xã hội
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
- Yếu tố văn hóa - xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng; Nó
có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bài viết
này, em chỉ đề cập tới sự ảnh hưởng của các yếu tố trong môi trường này trong
việc hình thành và đặc điểm thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp. Các yếu tố
thuộc môi trường văn hóa - xã hội bao gồm các yếu tố sau:
+ Dân số: Đây là quy mô của nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu. Dân số
càng lớn, thị trường càng lớn; nhu cầu về một nhóm hàng hoá càng lớn;… Có
nhiều cơ hội cho doanh nghiệp hơn.
+ Xu hướng vận động của dân số: Đây là dạng của nhu cầu và sản phẩm đáp
ứng. Tỷ lệ sinh/tử, độ tuổi trung bình cao/thấp,… Điều này ảnh hương tới cách
thức đáp ứng của doanh nghiệp như: lựa chọn sản phẩm, hoạt động xúc tiến…
+ Hộ gia đình và xu hướng vận động: Độ lớn của một gia đình có ảnh
hưởng đến số lượng, quy cách sản phẩm cụ thể,… Khi sản phẩm đó đáp ứng
cho nhu cầu chung của cả gia đình.
+ Sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động: Sự hình thành hay suy
giảm mức độ tập trung dân cư (người tiêu thụ) ở một khu vực địa lý có ảnh
hưởng không nhỏ đến sự xuất hiện cơ hội mới hoặc suy tàn cơ hội hiện tại của
doanh nghiệp.
+ Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu dùng.
+ Nghề nghiệp, tầng lớp xã hội.
+ Dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hoá. Yếu tố này đòi hỏi phân
đoạn thị trường và có chiến lược Maketing phù hợp.
Môi trường chính trị - pháp luật
- Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và pháp luật chi phối mạnh mẽ sự hình
Môi trường địa lý - sinh thái.
- Trong môi trường này, doanh nghiệp cần chú ý các yếu tố như:
+ Vị trí địa lý.
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
+ Khí hậu, thời tiêt, tính thời vụ.
+ Các vấn đề về cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường.
1.2.3. Nghiên cứu khách hàng.
- Hiểu biết đầy đủ về khách hàng, nhu cần và cách thức mua sắm của họ là
một trong những cơ sở quan trọng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lựa chọn
đúng cơ hội kinh doanh và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của doanh
nghiệp.
Căn cứ vào đặc điểm nhu cầu và cách thức mua sắm của khách hàng trên thị
trường, có thể chia khách hàng làm hai nhóm cơ bản sau:
+ Người tiêu thụ trung gian.
+ Người tiêu thụ cuối cùng.
- Mỗi nhóm khách hàng có những nhu cầu mua sắm và cách thức mua sắm
khác nhau, vì vậy doanh nghiệp cần làm rõ từng nhóm khách hàng để có chính
sách tiếp cận cũng như chính sách thoả mãn phù hợp.
1.2.4. Chính sách sản phẩm
Sản phẩm là một trong bốn tham số cơ bản trong Maketing (sản phẩm, xúc
tiến, giá cả, phân phối). Bất cứ một doanh nghiệp nào - nhất là doanh nghiệp
thương mại - cũng phải có những chính sách cụ thể và đúng đắn về sản phẩm
nếu muốn thành công trên thị trường.
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của Maketing. Xác định đúng sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến
khả năng tiêu thụ và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
Có hai cách tiếp cận để mô tả sản phẩm:
- Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo truyền thống.
- Tiếp cận và mô tả sản phẩm theo quan điểm Maketing.
và phát triển các phần tử trong kênh, điều chỉnh hệ thống kênh.
1.2.6. Chính sách xúc tiến
Xúc tiến là công cụ hữu hiệu giúp cho cung cầu gặp nhau, xúc tiến làm cho
bán hàng trở nên dễ dàng hơn, xúc tiến là cầu nối giữa khách hàng và doanh
nghiệp,… Nói một cách ngắn gọn thì xúc tiến có vai trò rất quan trọng trong
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
kinh doanh. Chính sách xúc tiến là một trong những chính sách quan trọng
trong chiến lược Marketing.
Hoạt động xúc tiến bao gồm các hoạt động chính sau:
- Quảng cáo.
- Khuyến mại.
- Hội chợ, triển lãm.
- Bán hàng trực tiếp.
- Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác.
Các nội dung này đều có vai trò quan trọng như nhau. Để hoạt động xúc tiến có
hiệu quả, các doanh nghiệp nên sử dụng tổng hợp các nội dung trên. Tuỳ vào
điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn nội dung nào là chủ đạo. Thực tế đã
chứng minh rằng doanh nghiệp nào làm tốt công tác xúc tiến thì doanh nghiệp
đó đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh.
1.2.7. Chính sách giá cả
- Một doanh nghiệp bất kỳ khi hoạch định chiến lược, chính sách và kiểm
soát giá cả trong kinh doanh cần làm rõ một số vấn đề như: Mục tiêu đặt giá,
chính sách đặt giá, phương pháp tính giá. Xác định mức giá cho các sản phẩm,
dịch vụ cụ thể trong kinh doanh không thể tuỳ ý. Định giá phải đáp ứng các
mục tiêu đã được đặt ra của doanh nghiệp.
Nó phải đảm bảo:
+ Phát triển doanh nghiệp (Thị phần).
+ Khả năng bán hàng (Doanh số).
+ Thu nhập (Lợi nhuận).
lập trước năm 1975, là cơ sở của tư nhân và được tổ chức dưới hình thức cổ
đông. Xưởng có 3 nhánh hoạt động nằm ở những nơi có thể nói là đông đúc
nhất: Sài Gòn, Đà Nẵng và Cần Thơ.
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
- Trước năm 1975, lò Bánh này chiếm vị trí ưu thế và chi phối toàn khu Tây
Nam Bộ. Ngày 30/04/1975, khi Cần Thơ được giải phóng, Xưởng này được
Nhà nước trực tiếp tiếp quản.
- Ngày 03/07/1975, Sở Công Thương Khu Tây Nam Bộ được trao quyền
quản lý Xưởng Bánh kẹo và Mì Tây Thế Giới. Trải qua nhiều lần thay đổi tên
gọi và các cấp lãnh đạo khác nhau, Xưởng lần lượt trở thành:
+ Xí nghiệp Bánh kẹo và Mì Công Quản Thế Giới (năm 1976), trực thuộc
công Ty Công Nghiệp Hậu Giang.
+ Xí nghiệp Bánh kẹo Cần Thơ (năm 1980) do phòng Công Nghiệp Thành
phố Cần Thơ quản lý.
+ Xí nghiệp chế biến thực phẩm Cần Thơ (năm 1989) do UBND Thành phố
Cần Thơ quản lý theo quyết định sáp nhập xí nghiệp Đường Cần Thơ và Xí
nghiệp Bánh kẹo Cần Thơ của UBND tỉnh Hậu Giang. Ngày 22/03/1991, đơn
vị được giao cho Sở Công Nghiệp Hậu Giang chủ quản. Đến tháng 04/1992, khi
tỉnh Hậu Giang tách tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, Xí nghiệp trực thuộc Sở Công
Nghiệp Cần Thơ.
+ Thực hiện Nghị Định 388 của Hội Đồng Bộ Trưởng nay là Chính phủ, đơn
vị được Bộ Công Nghiệp nhẹ chuẩn y, UBND tỉnh Cần Thơ ra quyết định số
1380/QĐ.UBT.92 ngày 28/11/1992 về việc thành lập Doanh nghiệp Nhà nước.
Đến ngày 06/01/1995 UBND tỉnh ra quyết định số 28 /QĐ.UBT.95 về việc đổi
tên Xí nghiệp chế biến thực phẩm Cần Thơ thành công ty Bia nước giải khát
Cần Thơ.
+ Căn cứ theo Nghị Định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ
về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần hay còn gọi là Cổ
phần hóa DNNN. Ngày 01/04/2006 công ty chính thức chuyển đổi thành Công
trực thuộc Nhà nước quản lý, đơn vị có nhiệm vụ là sản xuất bánh kẹo theo kế
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 16
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
hoạch của cấp trên giao xuống. Do phải sản xuất theo chỉ tiêu và do tồn tại
những phương thức kinh doanh của nền kinh tế bao cấp, cho nên hiệu quả sản
xuất kinh doanh chưa cao. Chính vì thế, từ năm 1982, đơn vị đã thay đổi
phương thức sản xuất kinh doanh, đáp ứng theo nhu cầu thị trường, cung cấp
nhiều sản phẩm mới. Bên cạnh sản xuất bánh kẹo,đơn vị còn sản xuất thêm
rượu mùi các loại. Đến năm 1987, đơn vị đã cho ra đời sản phẩm rượu nhẹ có
gas và các loại nước ngọt như hiện nay. Những sản phẩm này đã dần dần quen
thuộc trong đời sống của cư dân vùng sông nước Đồng Bằng Sông Cửu Long.
- Đến năm 1990, do nguyên liệu ngoại nhập quá khan hiếm nên mặt hàng
bánh kẹo không còn nằm trong kế hoạch sản xuất của công ty. Cũng trong thời
gian này, việc đầu tư nhà xưởng, trang thiết bị để nâng cao năng suất và sản
lượng tiêu thụ ở địa bàn các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long được công ty chú
trọng. Do nhu cầu của thị trường, sản phẩm bia lên men lạnh và nước ngọt cao
cấp Cần Thơ chính thức trở thành sản phẩm chủ lực của đơn vị. Hai sản phẩm:
Nước ngọt hương trái vải Cần Thơ và Bia lên Men Cần Thơ được huy chương
vàng tại hội chợ triễn lãm quốc tế năm 1993.
- Vào những năm 1999-2000 trong khi hai sản phẩm bia lên men chịu thuế
suất cao (75%) và không được trừ thuế đầu vào do những cải cách về chính
sách thuế của Nhà nước, nên lợi nhuận của sản phẩm này mang lại rất ít, thì các
sản phẩm nước ngọt cao cấp, do áp dụng luật thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
đầu vào nên vẫn tồn tại và phát triển mạnh, mang lại lợi nhuận không nhỏ cho
công ty trong những năm 1999 và 2000.
- Năm 2001, công ty đã sản xuất ra sản phẩm mới là : “Nước tăng lực” phục
vụ nhân dân nhân dịp tết Tân Tỵ.
- Năm 2002, công ty đưa ra hai sản phẩm mới: Nước giải khát hương mãng
cầu và nước tinh khiết C&T phục vụ người tiêu dùng.
- Năm 2003, đơn vị cho ra 2 sản phẩm mới: Nước giải khát hương me và
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 18
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
76,66% và vốn cổ đông 20,34% )
+ Đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
+ Cải tiến công nghệ tiên tiến và đổi mới máy móc thiết bị hiện đại …..
+ Tất cả nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho Công Ty và đóng góp một
phần vào sự phát triển kinh tế của thành phố cần Thơ nói riêng và của đất nước
nói chung.
Qua thực tế sản phẩm của Công Ty ngày càng được khách hàng gần xa tín
nhiệm, không những ở tỉnh nhà mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ ở các tỉnh
lân cận như Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Đồng
Tháp,….. Từ đó có thể nói chiều hướng phát triển của đơn vị đúng và phù hợp
với nền kinh tế hiện nay.
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ, vị trí và vai trò của công ty
a. Chức năng và nhiệm vụ
* Chức năng
- Công ty bia nước giải khát Cần Thơ là một doanh nghiệp nhà nước có chức
năng kinh doanh tổng hợp các loại nước giải khát phục vụ sản xuất nhu cầu cần
thiết về lĩnh vực thức uống giải khát cho nhân dân trong và ngoài nước.
* Nhiệm vụ
- Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký và mục đích thành lập doanh
nghiệp.
- Bảo toàn và phát triển vốn được giao, tạo ra hiệu qủa kinh tế xã hội, tăng
cường điều kiện vật chất cho doanh nghiệp, xây dựng nền tảng cho doanh
nghiệp ngày càng vững chắc.
- Thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước giao.
- Tổ chức khai thác có hiệu quả tiềm năng sản xuất hàng hóa nguyên vật liệu
sẵn có của các địa phương để tổ chức bán buôn, bán lẻ.
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 19
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
*Vai trò
- Công ty cổ phần bia nước giải khát Cần Thơ cũng đóng góp đáng kể trong
tổng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế đầy đủ và đúng thời
hạn. Nếu tính về thuế tiêu thụ đặc biệt hàng năm đóng góp cho thành phố Cần
Thơ thì công ty đứng hàng thứ 2 sau công ty xổ số kiến thiết Cần Thơ.
- Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường giữ gìn an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng.
- Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để không ngừng nâng cao năng
lực sản xuất, chất lượng hàng hóa. Tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt
đảm bảo an toàn vệ sinh và sức khỏe cho người tiêu dùng.
- Tạo công ăn việc làm cho hơn 100 lao động. Thực hiện theo dõi phân phối
lao động, chăm lo đời sống vật chất cho cán bộ công nhân viên, bồi dưỡng nâng
cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và trình độ chuyên môn cho công nhân
viên.
2.1.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ
a. Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất
Hình 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 21
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TRƯƠNG HÒA BÌNH
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
b. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận
- Phân xưởng sản xuất nước ngọt bao gồm 2 tổ
+ Tổ pha chế thắng đường: từ các nguyên liệu đầu vào như: Nước,đường RE,
CO2, phụ gia… Trải qua nhiều công đoạn xử lý như: Nấu, lọc, làm nguội để
pha chế SIROP, từ đó đưa vào máy tổng hợp và chứa trong bồn trung gian.
+ Tổ thành phẩm từ bồn trung gian sẽ được chiết chai và đóng nút sau khi
trải qua giai đoạn xúc rửa chai.
- Phân xưởng sản xuất bia lên men cũng bao gồm 2 tổ
+ Tổ sản xuất bán thành phẩm: Sau khi xử lý nước, nghiền nguyên liệu đưa
vào thiết bị thuỷ phân, kế đến là giai đoạn lọc thô, nấu trao đổi nhiệt và được
nhu cầu thị trường. Thiết bị công nghệ mới, tự động hóa toàn bộ từ khâu súc
rửa chai đến khâu ra sản phẩm, trình độ kỹ thuật hiện đại phù hợp với thời đại
công nghiệp hóa đất nước.
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT NƯỚC NGỌT CẦN THƠ
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất nước ngọt cao cấp Cần Thơ.
SVTH: NGUYỄN VĂN NHIÊN Trang 23
Đường RE
Nấu SIROP
Lọc
Làm nguội
Pha chế SIROP
Máy hỗn hợp
Bồn trung gian
Chiết chai
đóng nút
Thành phẩm
Hơi Nước
Phụ gia
Nước
Xử lý
Hơi Nước
Phụ gia
Nước Xử lý
CO
2
Xử lý
Hơi
nước
Nước
Chai
P. GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
P. GIÁM ĐỐC
KỸ THUẬT
P.TỔ CHỨC
HÀNH CHÁNH
P.KẾ TOÁN
TÀI VỤ
PHÒNG
KINH DOANH
PHÒNG KỸ
THUẬT KCS
PX
NƯỚC
GIẢI
KHÁT
(Nguồn: Phòng kinh doanh)