LUẬN VĂN PHÂN TÍCH TÍNH TỔN THƯƠNG CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HẠN HÁN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL
  
LA THỊ PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH TÍNH TỔN THƯƠNG CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ HẠN HÁN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM HUYỆN
CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
i
CẦN THƠ, 2010
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL
  
LA THỊ PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH TÍNH TỔN THƯƠNG CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ HẠN HÁN VÀ SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM HUYỆN
CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phát Triển Nông Thôn
Mã ngành: 52 62 01 01
Cán bộ hướng dẫn
TS. NGUYỄN VĂN SÁNH
CẦN THƠ - 2010
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản than tôi. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ tài liệu nào trước đây.
Tác giả luận văn
Từ Thị Kim Trang
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Chủ tịch hội đồngvi
TIỂU SỬ BẢN THÂN
Sinh viên thực hiện: Từ Thị Kim Trang
Lớp: CA0687A
1
MSSV: 4065977
Quê quán: Ấp Ngọc Tân – xã Ngọc Chúc – huyện Giồng Riềng – tỉnh Kiên Giang
Họ tên cha: Từ Văn Hải
Họ tên mẹ: Cao Thị Cẩm Loan
Quá trình học tập:
Giai đoạn: 1994 – 1999
Học cấp I tại trường Ngọc Chúc “B”.
Giai đoạn: 1999 – 2003
Học sinh cấp II tại trường Cấp THPT Hòa Thuận
Giai đoạn: 2003 – 2005
Học sinh cấp III tại trường cấp THPT Hòa Thuận
Giai đoạn: 2006 – 2010
Sinh viên lớp PTNT - Viện NC Phát triển ĐBSCL - trường Đại học Cần Thơ
Tốt nghiệp kỹ sư chuyên ngành Phát triển nông thôn khóa 32
vii
LỜI CẢM TẠ

Trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã gặp
không ít khó khăn vướng mắc nhưng được sự giúp đỡ của ba mẹ, chỉ dạy của thầy

Nước ngầm là nguồn nước quan trọng nhất cho đời sống và sản xuất nông nghiệp ở
xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Qua nhiều năm khai thác sử dụng
cho sản xuất rau màu, tình trạng sử dụng quá mức, lãng phí đe dọa sụt giảm số
lượng cũng như chất lượng nước ngầm.
Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Long Sơn bằng phương pháp đánh giá nhanh
nông thôn có sự tham gia của người dân địa phương và phỏng vấn trực tiếp 120
nông hộ đang sử dụng nước ngầm cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản, bao gồm
hộ nghèo, hộ không nghèo trồng nhiều loại rau màu khác nhau. Kết quả phân tích
cho thấy rằng:
Phần lớn người dân sống bằng nghề nông nghiệp. Cây trồng chủ yếu là dưa hấu,
đậu phộng và bắp (ngô). Nguồn nước được sử dụng trong sản xuất là nước ngầm.
Phương tiện khai thác của người dân ở đây chủ yếu là giếng khoan, trung bình mỗi
hộ có từ 1 đến 2 giếng khoan. Giếng được đóng trên phần đất thổ cư hoặc tại đất
ruộng hộ canh tác. Lượng nước ngầm sử dụng thay đổi tùy loại cây trồng như: trung
bình một hecta đậu phộng sử dụng 5.194 m
3
, đối với dưa hấu lượng nước sử dụng
trung bình là 5.355 m
3
/ha, đối với bắp (ngô) lượng nước tưới là 4.332 m
3
/ha. Trong
từng loại cây trồng lượng nước sử dụng còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như
nhóm hộ (nghèo và không nghèo), diện tích đất canh tác, mùa vụ gieo trồng, dự lớp
tập huấn (trình độ kỹ thuật ), độ cao đất canh tác, trình độ học vấn.
Có 42% trong 120 hộ khảo sát đồng ý với quan điểm nên đưa phí sử dụng nước
ngầm vào giá thành sản xuất với giá trung bình là 1.006 đồng/m
3
. Nghiên cứu này
đã phân tích, nếu giá thành sử dụng của nước là 100 đồng/m

2.2 Nước ngầm và hiện trạng sử dụng nước ngầm ở ĐBSCL 7
2.2.1 Khái niệm nước ngầm 7
2.2.2 Qúa trình hình thành nước ngầm 8
2.2.3 Tầm quan trọng của nước 9
2.2.4 Tài nguyên nước ngầm 9
2.2.5 Hiện trạng khai thác nước ngầm cho sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL 10
2.3 Các hình thức khai thác nước ngầm 11
2.4 Định giá nước 12
Chương 3 13
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
x
3.1 Nội dung nghiên cứu 13
3.2 Địa bàn nghiên cứu 14
3.3 Giới hạn nghiên cứu 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu 15
3.4.1 Khung lý thuyết 15
3.4.2 Phương pháp tiếp cận 18
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.4 Chọn đối tượng điều tra 19
3.4.5 Phương pháp phân tích 19
Chương 4 21
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 21
4.1 Thông tin tổng quan về nông hộ điều tra 21
4.1.1 Nguồn lực con người và xã hội 21
4.1.2 Sở hữu đất đai của nông hộ 26
4.1.3 Nguồn lực liên quan đến sử dụng nước ngầm trong gia đình 27
4.2 Các nguồn thu nhập nông hộ 30
4.3 Hiện trạng sử dụng nước ngầm trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của nông hộ 32
4.4 Hiện trạng sử dụng nước ngầm trong sản xuất lúa 34
4.5 Hiện trạng sử dụng nước ngầm trong sản xuất rau màu 35

Bảng 4.20: Tổng hợp ý kiến người dân thử nghiệm giá nước vào chi phí sản xuất 40
Bảng 4.21: Giá nước thử nghiệm theo quan điểm của người dân tại vùng nghiên cứu 41
PHỤ LỤC HÌNH
xii
Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Cầu Ngang 4
8
Hình 2.3: Tóm tắt quá trình hình thành nước ngầm 8
Hình 3.4: Địa bàn nghiên cứu và các kiểu sử dụng đất ở xã Long Sơn 14
Hình 4.5: Trình độ học vấn của chủ hộ phân theo nhóm dân tộc 22
Hình 4. 6: Phân bố nhân khẩu trong nông hộ theo nhóm hộ 23
xiii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCR: Benefit – Cost Ratio (Tỷ lệ lời trên vốn)
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐX: Vụ đông xuân
ĐH-CĐ: Đại học – cao đẳng
HT: Vụ hè thu
NN: Nông nghiệp
NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PRA: Participatory Rural Appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia)
PNN: Phi nông nghiệp
PTNT: Phát triển Nông thôn
TN và MT:Tài nguyên và môi trường
TĐ: Vụ thu đông (vụ 3)
UBND: Ủy ban nhân dân
xiv
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nước là một tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng cho sự tồn tại và phát triển

nước ngầm.
Nguồn nước ngầm bị sử dụng quá mức như vậy, chính là do ý thức của người dân
chưa cao hoặc chưa hiểu biết về tầm quan trọng của nước ngầm và nguy cơ có thể
cạn kiệt của nó. Yếu tố sở hữu để quản lý nguồn nước ngầm tại địa bàn xã Long
Sơn nói riêng và nhiều nơi khác nói chung cũng là vấn đề còn bỏ ngõ. Trong tình
trạng người dân khai thác nguồn nước ngầm không có ý thức và chưa có thể chế cụ
thể cho vấn đề quản lý nước ngầm hiệu quả, thì việc nghiên cứu hiện trạng sử dụng,
nhận thức của người dân và thử đề xuất giải pháp phù hợp là vấn đề rất cần thiết. Vì
vậy đề tài “Phân tích hiện trạng sử dụng nguồn nước ngầm trong sản xuất nông
nghiệp tại vùng ven biển tỉnh Trà Vinh” là rất cần thiết. Đề tài này được thực hiện
trong thời gian từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 04 năm 2010.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này, nhằm phân tích hiện trạng sử dụng nguồn nước ngầm trong sản
xuất nông nghiệp tại vùng ven tỉnh Trà Vinh thuộc xã Long Sơn huyện Cầu Ngang.
Từ đó đề xuất một số giải pháp về quản lý nguồn nước ngầm theo hướng bền vững
và hiệu quả đến người dân sử dụng nước ngầm ở xã Long Sơn nói riêng và tỉnh Trà
Vinh nói chung.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Phân tích hiện trạng sử dụng nước ngầm đối với các loại cây trồng
phổ biến ở địa bàn nghiên cứu gồm lúa, dưa hấu, đậu phộng và bắp (ngô).
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các mức độ sử dụng nước
ngầm trong sản xuất cây dưa hấu và cây đậu phộng của nông hộ thuộc xã Long Sơn.
• Thử nghiệm phân tích phí sử dụng nước ngầm trong chi phí sản
xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến lợi nhuận nông hộ.
Chương 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
 Tỉnh Trà Vinh

Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước bốc hơi và lượng mưa được
phân bố đều, khá rõ rệt giữa 2 mùa mưa và nắng. Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4
và mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11
 Thủy văn
Nguồn nước cung cấp chính cho sản xuất chủ yếu là 2 sông lớn: sông Cổ Chiên và
sông Hậu. Ngoài ra có dự án Nam Mang Thít lấy nước từ sông Mang Thít (nối sông
Tiền và sông Hậu) kéo nước sâu vào nội đồng.
 Tài nguyên đất đai
Đất giồng cát 14.806 ha (chiếm 7,4%) là những giồng cát hình cánh cung chạy dài
theo hướng song song bờ biển. Tập trung ở 3 khu vực phía Nam, gồm các huyện:
Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành và rãi rác các huyện – thị còn lại. Đất
có địa hình cao đặc trưng, phổ biến 1,4 – 2,0 m. Đất phù sa 129.831 ha, (chiếm
65,3%). Đất phù sa phát triển trên đất giồng cát 7,931 ha (chiếm 4%). Đất phù sa
không nhiễm mặn 47.991 ha (chiếm 24,1%). Đất phù sa ít nhiễm mặn 45.893 ha
(chiếm 23,1%).
• Huyện Cầu Ngang
Toàn huyện hiện có 15 đơn vị hành chính, gồm 13 xã và 2 thị trấn. Trung tâm hành
chính huyện đặt tại thị trấn huyện Cầu Ngang nằm cách trung tâm hành chính tỉnh
Trà Vinh 23 km theo quốc lộ 53 về phía Tây Bắc.
 Tài nguyên đất đai
Huyện Cầu Ngang có tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 31.885,97 ha
chiếm 14,39% diện tích toàn tỉnh (221.515 ha). Phần lớn đất đai của huyện chủ yếu
là đất nông nghiệp với 27.569,55 ha (chiếm 86,463% diện tích đất tự nhiên của
huyện), đất phi nông nghiệp có 4.303,63 ha (chiếm 13,5% diện tích), hiện còn 11,79
ha đất chưa sử dụng (chiếm 0,03% diện tích đất), nên phần đông người dân huyện
Cầu Ngang sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước, rau màu và thủy sản nuôi
tôm nên nước ngầm là nguồn nước được sử dụng trong sản xuất nông là rất cần thiết
cho người dân ở đây.
Gồm 3 nhóm đất chính:
+ Đất giồng cát: có 4.181,79 ha, chiếm 12,81% diện tích đất;

người, đạt 10,23%, nông thôn 122,361 người, đạt 89,77%.
 Nguồn lao động
Số người hoạt động trong nền kinh tế quốc dân là 79.405 người, trong đó số người
trong độ tuổi lao động là 75.774, chiếm 55,62% số dân, trong đó có việc làm 72.885
người; tỷ lệ thất ngiệp tương đối thấp, còn khoảng 3,83%; tỷ lệ lao động tại khu vực
thành thị là 62,8%, nông thôn là 85,5%.
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Long Sơn
Long Sơn là một xã có kinh tế thuần nông của huyện Cầu Ngang. Diện tích tự nhiên
trên 3.500 ha, đất đai chủ yếu là phù sa và giồng cát. Đất trồng lúa khoảng 1.500 ha
và đất trồng hoa màu khoảng 2.500 ha và một số ít diện tích dành cho sản xuất thủy
sản. Chăn nuôi cũng được phát triển mạnh ở xã Long Sơn, chủ yếu là chăn nuôi bò
với 4.253 con (năm 2008) và heo với 4.000 con (năm 2008).
Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển ở dạng gia đình với các nghề truyền
thống, toàn xã có 240 cơ sở. Toàn xã có 89% số hộ tiếp cận được nước sạch, trên
90% số hộ sử dụng điện. Các cơ sở hạ tầng khác như trường học, trạm y tế, giao
thông nông thôn khá phát triển. Xã Long Sơn có khoảng 2.500 nông hộ, trong đó tỷ
lệ người dân tộc Khmer rất cao. (Nguồn báo cáo xã năm 2009)
2.2 Nước ngầm và hiện trạng sử dụng nước ngầm ở ĐBSCL
2.2.1 Khái niệm nước ngầm
Ni-Ki-Tin (1900) là “nước trọng lực” ở trong trạng thái tự do hoàn toàn bảo hòa và
tồn tại thường xuyên trong lớp chứa nước đầu tiên từ mặt đất xuống.
Phân loại nước ngầm: Theo Ka-men-ki gồm có 3 loại; nước lục địa, nước biển,
nước biến chất. Tỷ lệ và phân bố các loại nước được tóm tắt như hình 2.2.
 Nước lục địa: Là nguồn nước ngầm có nguồn cung cấp chủ yếu là nước trên
mắt thấm xuống như: nước mưa, tuyết tan, nước sông ngòi và hồ đầm nên gọi là
nước ngọt với nồng độ ion thấp.
 Nước biển: là nguồn nước được chủ yếu cung cấp do nước biển thấm vào
hoặc tàn dư của biển. Nước này thường có độ khoáng khá cao, thậm chí là nước
mặt.
 Nước biến chất: là nước ngầm có liên quan tác dụng biến chất của nham

/ha, với
hoa màu cũng tương đương là 5000m
3
/ha. Hiện nay ta phải dành 80% nguồn nước
ngọt cho sản xuất nông nghiệp.
2.2.4 Tài nguyên nước ngầm
• Tài nguyên nước ngầm ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Vũ Ngọc Kỷ và ctv (1999) trữ lượng nước ngầm trên lãnh thổ
Việt Nam (không kể hải đảo) là 1.513.445 m
3
/giây (129,6 tỷ m
3
/ngày) nhưng phân
bố không đồng đều.
Theo Nhà xuất bản nông nghiệp (2006) tài nguyên nước dưới đất của nước ta khá
dồi dào với tổng trữ lượng có tiềm năng khai thác đến gần 60 tỷ m
3
mỗi năm, trữ
lượng nước dao động từ mức rất nhiều ở vùng ĐBSCL đến khan hiếm ở vùng Bắc
Trung Bộ.
• Tài nguyên nước ngầm ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo Nguyễn Thị Mến (2006) đối với nguồn nước ngầm ở ĐBSCL thì có thể khai
thác 60 triệu m
3
mỗi năm, trong đó lượng khai thác chỉ khoảng 420.000 m
3
mỗi
ngày (chưa đến 1%). Đây là nguồn nước hết sức quan trọng cho các vùng bị nhiễm
phèn, nhiễm mặn vào mùa khô.
• Tài nguyên nước ngầm ở Trà Vinh

vùng ĐBSCL có khoảng 10 vạn giếng khai thác nước ngầm với quy mô và chiều
sâu khác nhau. Hầu hết các thành phố, thị xã, một số thị trấn, thị tứ đang khai thác
nước ngầm trong các tầng chứa nước ở độ sâu từ 10-300m, trong đó có những đô
thị ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng sử dụng 100% là nước ngầm. (Nguồn báo Ủy Ban
dân tộc)
Ở khu vực nông thôn, có nhiều công trình cấp nước tập trung khai thác nước ngầm
với quy mô vài trăm m
3
/ngày, đặc biệt là việc khoan giếng quy mô nhỏ cấp nước
cho hộ gia đình rất phổ biến. Ngoài ra, người dân ĐBSCL còn sử dụng nước ngầm
cho tưới lúa, hoa màu và nuôi trồng thủy sản. Ước tính tổng lượng nước ngầm hiện
đang khai thác sử dụng trên toàn vùng ĐBSCL khoảng trên dưới 1 triệu m
3
/ngày.
Tại hội thảo quốc tế chủ đề “Nước ngầm và an toàn cho con người”; Nguyễn Văn
Sánh cho rằng thực trạng khai thác nước ngầm của ĐBSCL hiện nay đang trong
thời kỳ báo động. Tác giả cho rằng cách nay hơn 10 năm, người dân ĐBSCL chủ
yếu sử dụng nguồn nước mặt (nước sông và nước mưa) cho sinh hoạt; nước ngầm
chỉ được khai thác trong mùa khô ở các vùng ven biển, nhiều nhất từ những năm
1993, do chương trình UNICEF tài trợ. Nhưng hiện nay nguồn nước mặt ở ĐBSCL
đang bị ô nhiễm nặng. Vì thế, dù sống trong vùng ngọt hay vùng ven biển, người ta
đều phải khai thác và sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt hàng ngày và việc khai thác
này ngày càng tăng. Ngoài ra, việc đô thị hóa, tăng dân số, phát triển sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều có liên quan khai thác tài nguyên nước ngầm
của vùng. Có một thực trạng là nhiều hộ dân và công ty khoan cây nước, khi khoan
không đúng tầng nước tốt thì bỏ đi khoan chỗ khác mà không lấp kín các lỗ đã
khoan. Điều này làm cho tầng nước ngầm bị ô nhiễm ngày càng cao vì sự rò rỉ tầng
nước mặt bị ô nhiễm, hoặc mặn xâm nhập xuống tầng nước ngầm. (trích dẫn của
Huỳnh Kim 2008, nguồn thời báo kinh tế sài gòn)
2.3 Các hình thức khai thác nước ngầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status