LUẬN VĂN
phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm
của công ty cổ phần VTNN Thừa
Thiên Huế
chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên nông nghiệp
giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước.
Thừa Thiên Huế là một địa phương có tỷ lệ lao động nông nghiệp cao. Dân số
ngày càng tăng, đất nông nghiệp ngày càng ít đi. Muốn cây trồng có năng suất
cao, chất lượng tốt thì người nông dân phải đầu tư thâm canh. Mà muốn làm như
vậy thì cần phải thực hiện nhiều biện pháp như: đầu tư khoa học kỹ thuật, vật tư
phân bón, giống, thủy lợi cho sản xuất sao cho hợp lý trên một đơn vị diện tích
để thu được năng suất cao, chất lượng tốt với giá thành hợp lý. Do việc tăng
cường đầu tư các yếu tó vật chất và đầu tư phân bón cho sản xuất được lặp đi lặp
lại hàng vụ, hàng năm với khối lượng rất lớn nên cần có đơn vị sản xuất kinh
doanh để phục vụ VTNN với hệ thống mạng lưới rộng khắp đảm bảo đáp ứng
đầy dủ kịp thời cả về số lượng, chất lượng cho từng vùng, từng địa phương.
Khi tiến hàng hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước, các DN muốn tồn tại và phát triển phải luôn quan tâm
đến hiệu quả kinh tế sao cho kinh doanh có lãi và đảm bảo yêu cầu xã hội. Tuy
nhiên cơ chế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các DN.
Nền kinh tế thị trường buộc các DN phải luôn phấn đấu nỗ lực không ngừng
thì mới có thể tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Đặc biệt với các DN
sản xuất có tồn tại được hay không còn phải phụ thuộc vào khâu tìm kiếm đầu ra
cho mình, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Song công tác thúc đẩy tiêu thụ
sản phẩm, đưa sản phẩm đến từng khu vực thị trường chưa được coi trọng trong
các DN. Việt Nam đang từng bước mở của thị trường và hội nhập với các nước
trong khu vực và thế giới điều đó càng làm cho việc cạnh tranh giữa các DN
trong và ngoài nước ngày càng khốc liệt hơn, điều này buộc DN Việt Nam phải
qan tâm đến công tác tiêu thụ sản phẩm hơn.
Hầu hết các DN trong nước điều gặp một số vấn đề chung như là sản xuất ra
không tìm được thị trường tiêu thụ hay là bị sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các DN
nước ngoài. Mọi công ty đều coi thị trường là khâu quan trọng nhất để tiến hành
sản xuất hàng hóa. Tiêu thụ sản phẩm là thước đo đánh giá sự thành công của
DN. DN muốn đứng vững và phát triển phải luôn biết cách nắm bắt nhu cầu của
Phần II: Nội dung nghiên cứu
+ Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần
VTNN Thừa Thiên Huế.
+ Chương3: Định hướng và giải pháp
Phần III: Kết Luận và Kiến Nghị.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh thực
hiện giá trị và giá trị sử dụng đối với sản phẩm hàng hóa thông qua quan hệ trao
đổi. Trong quan hệ này, DN chuyển nhượng cho người mua sản phẩm hàng hóa
đồng thời được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán số tiền hàng
tương ứng với giá trị của số sản phẩm hàng hóa đó.
1.1.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, khi sản xuất đã phát triển thì vấn đề tiêu thụ sản
phẩm hàng hóa là rất quan trọng. Vì có tiêu thụ được hàng hóa mới có vốn để
tiến hành tái sản xuất mở rộng. Sản phẩm tiêu thụ được chứng tỏ năng lực kinh
doanh của DN, thể hiện kết quả công tác nghiên cứu thị trường.
Sản phẩm hàng hóa của DN được người tiêu dùng chấp nhận, điều đó cho
thấy sản phẩm sản xuất và tiêu thụ xét về mặt khối lượng, giá trị sử dụng, chất
lượng, giá cả đã phù hợp với yêu cầu và với thị hiếu của thị trường.
kết thúc nếu như hàng hóa được bán nhưng vẫn chưa thu được tiền về cho DN.
1.1.3 Lựa chọn kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Khái niệm về kênh phân phối: Kênh phân phối là một tập hợp các công ty hay
cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với
một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu
dùng (theo Philip Kotler)
Khái niệm về phân phối: là các hoạt động liên quan đến việc tổ chức điều
hành và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng
nhằm đạt hiệu quả tối đa.
Các loại trung gian trong kênh phân phối: trung gian thường là các công ty,
các đại lý, cá nhân đứng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng. Họ có
thể trực tiếp hoặc không tham gia trực tiếp váo quá trình lưu thông hàng hóa. Có
các loại trung gian sau:
Trung gian bán buôn: là những người mua sản phẩm từ nhà sản xuất hoặc trực
tiếp nhập khẩu hàng hóa về bán lại cho người bán lẻ. Trung gian bán buôn có vai
trò quan trọng trên thị trường, họ là những người có thế mạnh về vốn do đó họ có
khả năng chi phối người bán lẻ và đôi khi người sản xuất, đôi lúc họ có thể trở
thành nhà độc quyền do họ có khả năng dự trữ hàng để tung ra thị trường lúc cần
thiết, và họ có phương tiện kinh doanh hiện đại.
Trung gian bán lẻ: là những người thường mua hàng từ những người bán
buôn hay đại lý với khối lượng vừa phải để bán lại cho người tiêu dùng. Họ là
những người tiếp xúc trực tiếp, gần gủi, thường xuyên với khách hàng do đó họ
hiểu biết và nắm bắt nhu cầu thị trường
Đại lý: bao gồm đại lý bán buôn và đại lý bán lẻ. Đại lý bán buôn làm trung
gian trong mối quan hệ giữ nhà bán buôn và người bán lẻ. Đại lý bán lẻ làm trung
gian giữ nhà bán buôn với người tiêu dùng cuối cùng. Quy mô của đại lý phụ
thuộc vào khả năng kinh doanh, nguồn vốn và uy tín của người làm đại lý.
1.1.4 Thị trường với việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.4.1 Quan điểm về thị trường
Thị trường là tập hợp tất cả những người mua hiện tại và tiềm năng đối vói
sản phẩm hàng hóa, cho biết giá cả, chất lượng sản phẩm các điều kiện để mua
bán và các thông tin khác.
Do vậy thông tin thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế,
quyết định đến cả quá trình kinh doanh.
1.1.4.3 Phân khúc thị trường
Phân khúc thị trường là việc phân chia một thị thị trường lớn không đồng nhất
thành những khúc, những đoạn hay những nhóm khách hàng với những đăc
điểm, nhu cầu, thị hiếu và hàng vi mua tương đối đồng nhất, trên cơ sở đó tiến
hàng các hoạt động marketing hỗn hợp cho phù hợp để đạt được mục tiêu mong
muốn của DN như : doanh thu, thị phần, lợi nhuận; mức độ nhận biết thương
hiệu
Ta phải phân khúc thị trường vì: khách hàng quá đông, khách hàng phân bố
khắp nơi, nhu cầu và thói quen mua sắm của họ cũng khác nhau.
Do đó, ta nên chọn phần hoặc khúc nào để có thể phục vụ tốt nhất.
1.1.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của việc tiêu thụ
sản phẩm
1.1.5.1 Tỷ lệ % hoàn thành khối lượng hàng hóa tiêu thụ
T
t
=
0 1
1
0 0
1
n
i
n
i
p Q
p Q
Với: TR: tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Q
i
: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm i
G
i
: giá bán sản phẩm i
Để phân tích sự biến động của doanh thu giữa kỳ báo cáo so với kỳ gốc, ta
dùng phương pháp chỉ số.
1 1
1
0 0
1
n
i
n
i
p Q
p Q
=
1 1
1
0 1
1
1
: Khối lượng và giá bán hàng hóa kỳ báo cáo
-p
0
Q
0:
Khối lượng và giá bán hàng hóa kỳ gốc
-
1 1
0 1
p Q
p Q
: Chỉ số chung về giá cả các sản phẩm
-
0 1
0 0
p Q
p Q
: Chỉ số chung về sản lượng sản phẩm tiêu thụ
Về số tăng( giảm) tuyệt đối
1 1
p Q
-
0 0
p Q
p Q p Q
p Q
+
0 1 0 0
0 0
p Q p Q
p Q
Như vậy, doanh thu giữa kỳ báo cáo so với kỳ gốc có sự biến động tăng(
giảm) là do sự ảnh hưởng của 2 nhân tố: giá bán và sản khối lượng tiêu thụ.
1.1.5.3 Tổng chi phí:
Là toàn bộ chi phí tính bằng giá trị mà DN dùng để kinh doanh. Chỉ tiêu này
dùng để tính giá bán sản phẩm.
TC = FC + VC
Với: TC: tổng chi phí
FC: tổng chi phí cố định
VC: tổng chi phí biến đổi
1.1.5.4 Lợi nhuận:
Là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh chất lượng kinh doanh của DN.
P= TR -Z-T
Với P: lợi nhuận.
TR: tổng doanh thu bán hàng
Z: giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
T: Thuế
năm 2010 đầu năm 2011).
Nhà nước đã đưa phân bón vào trong danh mục các mặt hàng thiết yếu thuộc
diện bình ổn giá, áp dụng nhiều biện pháp điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp như:
điều hòa cung cầu, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu 0%, ưu đãi giá đầu vào đối
với một số loại phân bón sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản
lý, điều hành giá, triển khai các biện pháp bình ổn giá còn có những bất cập nên
thị trường phân bón nhiều năm qua đã xảy ra những diễn biến không bình
thường: có lúc, có nơi đã xảy ra những cơn sốt tăng giá quá cao hoặc có lúc giá
giảm xuống quá thấp, không hợp lý gây bất ổn định cho nền kinh tế.
Do vậy, theo các chuyên gia kinh tế, để chủ động hơn trong việc kiểm soát sự
biến động của giá bán lẻ phân bón, các cơ quan quản lý Nhà nước cần kiểm soát
chặt các yếu tố hình thành giá, tổ chức xây dựng hành lang pháp lý để các DN
sản xuất kinh doanh có được hệ thống phân phối minh bạch từ khâu bán buôn
đến bán lẻ đến tay người nông dân. Các DN sản xuất kinh doanh phân bón cần
chủ động dự trữ phân bón để sẵn sàng cung ứng khi thị trường biến động lớn
hoặc mất cân đối cung cầu.
1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Do sự tác động lớn từ thị trường phân bón thế giới cũng như thị trường phân
bón trong nước cho nên thị trường phân bón tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian này
cũng gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến động. Việc giá nguyên liệu tăng và
nguồn quặng dùng cho sản xuất phân bón ngày càng khan hiếm đã tác dộng rất
lớn đến việc cung ứng. Đa số người dân sống ở Tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn sống
chủ yếu dựa vào nghề nông vì vậy họ cũng bị ảnh hưởng lớn từ những khó khăn
đó.Hiện nay ở Thừa Thiên Huế có rất ít nhà máy sản xuất phân bón, cộng thêm
việc các công ty lớn đang dần tìm cách giảm lượng hàng nhập khẩu đã tác động
mạnh mẽ đến các công ty cung ứng VTNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế,
làm cho lượng cầu vượt quá cung.
Đa số các công ty ở Thừa Thiên Huế điều hoạt động dựa trên vốn vay ngân
hàng, điều đó làm cho các DN không thể chủ động trong việc dữ trữ nguồn hàng,
chính điều đó nhiều lúc đã làm cho lượng cầu vượt quá cung. Thị trường phân
kể từ tháng 1/2006, để phù hợp với nền kinh tế thị trường trong xu hướng mở cửa
hội nhập kinh tế quốc tế nhà nước ta đã mạnh dạn cắt giảm các DN nhà nước sử
dụng vốn chủ yếu của ngân sách để trở thành công ty cổ phần, với vốn cổ phần sẽ
giúp cho công ty trở nên chủ động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh
của mình.
Trong những năm qua với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên của công ty,
công ty đã vượt qua những khó khăn và đang phát triển bền vững khẳng định
được vị trí của mình trên thị trường.
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Theo thông báo số 377 TB/UB ngày 23/07/1990 công ty được giao chức năng
và nhiệm vụ cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu trực tiếp đến các hợp tác xã và
từng hộ nông dân, địa bàn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của công ty chủ yếu
là trong tỉnh. Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đó, công ty tổ chức 4 điểm
giao dịch bán hàng phục vụ cho 8 huyện và thành phố Huế.
- Trạm An Lỗ phục vụ cho 3 huyện phía bắc: Phong Điền, Quảng Điền,
Hương Trà.
- Trạm Truồi phục vụ cho 3 huyện phía nam: Phú Lộc, Hương Trà, Hương
Thủy.
- Trạm A Lưới được thành lập để phục vụ cho bà con ở huyện A Lưới.
- Phòng kinh doanh phục vụ cho thành phố Huế và các xã lân cận.
Công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế là DN có tài khoản con dấu riêng,
có tư cách pháp nhân nên công ty phải thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm với
nhà nước nằm tăng nguồn thu ngân sách. Đồng thời công ty phải phục vụ VTNN
đảm bảo đúng số lượng và kịp thời cho nền sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra công
ty còn có nhiệm vụ thu mua đối lưu phân bón và nông sản nội địa để bán nội địa
và xuất khẩu, nhập khẩu phân bón, sản xuất phân lân vi sinh hữa cơ và các chế
phẩm than bùn, nhận làm đại ly tiêu thụ cho các DN sản xuất phân bón khác.
Ngoài chức năng và nhiệm vụ trên công ty còn có vai trò chủ động trong việc
tham gia điều tiết lượng VTNN sao cho phù hợp với qui luật cung cầu trên thị
trường, giữ được mặt bằng giá cả, tạo điều kiện cho các hộ nông dân yên tâm sản
quản trị với giám đốc và của giám đốc với các phòng chức năng cũng như các chi
nhánh phụ thuộc. Mối quan hệ giữa các phòng ban rất chặt chẽ với nhau đảm bảo
cho hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao.
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế.
Hương
C
ủa h
àng
Đ
ại lý
C
ửa h
àng
Đ
ại lý
C
ửa h
àng
Đ
ại lý
C
ửa h
àng
Đ
ại lý
P.TCHC P.Marketing P.KHKD P. KTTV
-Phân theo trình độ: Do cong ty là dơn vị vùa kinh doanh vùa sản xuất nên tỷ
lệ công nhân chiếm khá caong trong tổng số nguồn lao độngvà số lượng công
nhân tăng đàn qua các năm, năm 2008 là 86 người, năm 2009 là 102 người tăng
16 người tương ứng tăng 18,6%, năm 2010 là 114 người tăng 12 người so với
năm 2009. Một công ty muốn phát triển thì phải có đội ngũ công nhân viên giỏi
nắm bắt được điều này công ty đã chủ động tuyển những nhân viên có trình độ
vào những vị trí quan trọng nên tỷ lệ nhân viên tốp nghiệp đại học, cao đẳng
cũng chiếm 1 tỷ lệ tương đối và tăng dần qua các năm.
- Phân theo giới tính: nhìn vào bảng ta thấy tỷ lệ lao động nam nhiều hơn nữ
điều đó là hoàn toàn phù hợp với tính chất công việc và đặc điểm kinh doanh của
công ty.
Để duy trì và phát triển thị trường của mình công ty nhất thiết phải có một đội
ngũ nhân viên giỏi. Nhận biết được điều đó công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên
Huế đã chú trọng phát triển lực lượng lao động theo chiều rộng lẫn chiều sâu và
chất lượng lao đồng ngày càng được nâng cao rõ rệt đáp ứng được yêu cầu công
việc.
Bảng 1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2008-2010
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 So sánh
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
65 33.3
70 32.6
7 112.1
5 107.6
2. Theo giới tính 156 100 195 100 214 10 39 125 19 109.7
Nam 111 71.7
140 71.8
156 72.9
29 126.1
16 111.4
Nữ 45 28.9
55 28.2
60 27.1
10 122.2
5 109.1
102 52.3
114 53.3
16 118.6
12 111.7
Lái xe 10 6.5 44 7.2 16 7.5 34 440 -28 36.4
Nguồn: Phòng tổ chức hành chính
2.1.3 Nguồn vốn của công ty qua 3 năm 2008- 2010
Nguồn vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, nguồn vốn giúp cho DN có đầy đủ điều kiện để thực hiện quá trình tái sản
xuất kinh doanh, mở rộng thị trường và là sức mạnh về tài chính của DN để cạnh
tranh với các DN khác. Để có thể tái sản xuất kinh doanh và phát triển thì yếu tố
bắt buộc phải có đối với mỗi DN là vốn.
Vốn của công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế chủ yếu hình thành từ hai
nguồn là vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty được thể hiện qua số liệu ở bảng 2,
nhìn vào bảng số liệu ta thấy tình hình vốn của công ty qua 3 năm có sự biết
động và không ngừng tăng lên. Năm 2008 tổng tài sản của công ty là 70739 triệu
đồng, năm 2009 là 91400 triệu đồng tăng 20661 triệu đồng tương ứng tăng
29.2% so với năm 2008, năm 2010 tổng tài sản là 102464 triệu đồng tăng 11064
triệu đồng tương ứng với 12.1% so với năm 2009. Nhìn vào bảng ta thấy tỷ lệ
tăng tổng tài sản của năm 2009/2008 lớn hơn lệ tăng tổng tài sản của năm
2010/2009 vì ở năm 2009 công ty mở rộng thêm 2 thị trường mới là Lâm Đồng
và Cộng Hòa Nhân Dân Lào con ở năm 2010 công ty chỉ mở rộng thêm một thị
trường ở Đà Lạt nên chi phí đầu tư trong năm 2010 ít hơn so với năm 2009 vì
vậy mà tỷ lệ tổng tài sản năm 2010/2009 thấp hơn so với 2009/2008.
3069.9 121.99
1969.6 111.56
Vốn lưu động 56781.7 80.27
74372.8
81.37
83467.2 81.49
17591.1 130.98
9094.4 112.22
2. Phân theo nguồn hình thành
vốn chủ sở hữu 7295.02 10.31
9231.4 10.1 11475.97
11.2 1936.38 126.54
2244.57
124.31
Vốn vay 63443.98
2010
Công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế là đơn vị kinh doanh có nhiệm vụ cung
ứng các loại VTNN trên địa bàn tỉnh. Sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ, do đó
để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trượng công ty cần phải có biện pháp dự trữ hàng
và nhập hàng đúng thời điểm để đáp ứng nhu cầu của bà con và để sản phẩm của mình
được tiêu thụ mạnh.
Qua bảng 3 ta thấy số liệu sản lượng tiêu thụ phân bón qua các năm đều tăng lên.
Qua bảng 3 này ta cũng dễ nhận thấy NPK và vi sinh là mặt hàng chủ lực chủ công ty,
số lượng tiêu thụ qua các năm là rất lớn và chiếm tỷ trọng cao so vói các sản phẩm
khác của công ty. Trong năm 2008 lượng NPK và vi sinh tiêu thụ là hơn 23 nghìn tấn
chiếm 64,53%. Năm 2009 lượng tiêu thụ là gần 27 nghìn tấn chiếm 64,22%, năm 2010
lượng tiêu thụ là hơn 31 nghìn tấn chiếm 66,81 %. So sánh năm 2009 với 2008 lượng
tiêu thụ tăng hơn 3 nghìn tấn tương ứng tăng 13.78%. Năm 2010 với năm 2009 thì
lượng tiêu thụ tăng hơn 4 nghìn tấn tương ứng tăng 15.55%. Số lượng phân NPK tăng
mạnh theo các năm vì loại phân này là rất cần cho cây trồng hầu hết các loại cây trồng
điều bón phân này.
Xếp sau NPK là đạm. Năm 2008 lượng tiêu thụ là hơn 6 nghìn tấn chiếm tỷ trọng
17 %, năm 2009 là hơn 7.2 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 17%, năm 2010 là hơn 7.3 nghìn
tấn chiếm tỷ trọng 15.6 %. So sánh năm 2009 với 2008 ta thấy lượng phân đạm tăng
hơn 949 tấn tức tăng 15.17 %, năm 2010 tăng 100 tấn so với năm 2009 tức tăng 1.38
%, mặt dù số lượng phân đạm năm 2010/2009 tăng nhiều hơn số lượng phân đạm
2009/2008 nhưng tỷ lệ tăng % lại ít hơn , sở dĩ như vậy là do Trung Quốc 1 nước sản
xuất phân bón lớn của thế giới cắt giảm sản lượng.
Mặt hàng tiếp theo là phân lân. Năm 2008 lượng phân tiêu thụ đạt hơn 4,5 nghìn
tấn chiếm tỷ trọng 12.32 %. Năm 2009 tiêu thụ được trên 5 nghìn tấn chiếm 12.61 % .
năm 2010 lượng tiêu thụ là trên 5.5 nghìn tấn chiểm tỷ trọng 11.89 %. So sánh năm
2009 với năm 2008 lượng phân lân tiêu thụ tăng 771 triệu tấn tương ứng tăng 17.04
%. Năm 2010 với năm 2009 lượng phân lân tiêu thụ tăng 253 triệu tấn tương ứng với
4.77%.
Cuối cùng là Kali có khối lượng tiêu thụ thấp nhất. Năm 2008 tiêu thụ 2,2 nghìn
Doanh thu là chỉ tiêu cần thiết để đánh giá hoạt động kinh doanh của DN. Thông
qua doanh thu từ việc bán sản phẩm ta có thể thấy được tình trạng hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty đó đang diễn ra như thế nào, mặt hàng nào bán chạy, mặt hàng
nào bị ứ động.
Để đánh giá kết quả doanh thu tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của công ty chúng ta sử
dụng bảng 4:
Qua bảng 4 ta thấy doanh thu tiêu thụ năm sau đều cao hơn năm trước. Năm 2008
doanh thu đạt 283352 triệu đồng, năm 2009 đạt 339334 triệu đồng, năm 2010 đạt
393184 triệu đồng. So sánh năm 2009 với năm 2008, ta thấy doanh thu tăng 55982
triệu đồng tương ứng tăng 19.75 %, năm 2010 với năm 2009 tăng 53849 triệu đồng
tương ứng tăng 15.87 %.
Qua bảng số liệu ta cũng dễ nhận thấy trong cơ cấu doanh thu thì tỷ trọng của NPK
chiếm đa số, cụ thể trong năm 2008 doanh thu của NPK đạt 191011 triệu đồng, chiếm
67.4% trong tổng doanh thu, năm 2009 là 228407 triệu đồng chiếm 67.39% trong tổng
doanh thu, năm 2010 là 276418.88 triệu đồng, chiếm 70.3% trong tổng doanh thu.
Nguyên nhân doanh thu của NPK chiếm tỷ trọng cao như vậy vì đây là mặt hàng chủ
lực của công ty , nên công ty đã đưa ra những chính sách phát triển mạnh mẽ cho sản
phẩm chủ đạo của mình, bằng chứng là khối lượng tiêu thụ NPK luôn chiếm tỷ trọng
cao hơn so với các sản phẩn khác trong các năm qua.
Mặt hàng đem lại doanh thu lớn thứ hai là phân Đạm, năm 2008 doanh thu của
Đạm là 54841 trieu đồng, chiếm 19.35%, năm 2009 là 66404 triệu đồng chiếm 19.57%
, năm 2010 là 69081 triệu đồng chiếm 17.57%.
Mặc dù khối lượng tiêu thụ của kaly là ít hơn so với phân Lân nhưng doanh thu
công ty thu về từ phân kaly lớn hơn so với phân kaly, cụ thể doanh thu trong năm 2008
của kaly là 24182 triệu đồng chiếm 8.53%, còn doanh thu của phân lân là 13316 triệu
đồng chiếm 4.69%. trong năm 2009 doanh thu của kaly là 27611 triệu đồng chiếm
8.14%, doanh thu của phân lân là 16911 triệu đồng chiếm 4,98%. Trong năm 2010
doanh thu của Kaly là 28910 triệu đồng chiếm 7.35%, doanh thu từ lân chỉ chiếm
4,7% tổng doanh thu, tức là 18774 triệu đồng.