Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phẩn VTNN Thừa Thiên Huế - Pdf 19

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Một quốc gia muốn phát triển và giàu mạnh thì trước tiên nhân dân phải được
ăn no, mặc ấm. Cho dù ngày nay nền khoa học của con người đã rất tiến bộ trên
mọi lĩnh vực, con người đã có thể làm ra nhiều nguyên liệu thay thế tự nhiên,
nhưng có những thứ cho dù nền khoa học có tiến bộ đến mấy cũng không thể thay
thế được, đó chính là những sản phẩm nông nghiệp. Chính vì lẽ đó mà mọi quốc
gia cho dù đang ở giai đoạn phát triển nào cũng đều rất chú trọng đến sự phát triển
của ngành nông nghiệp, dù tỷ trọng của nông nghiệp chiếm như thế nào trong
GDP.
Nông nghiệp chiếm một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội
của quốc gia, sản xuất nông nghiệp không những phục vụ cho nhu cầu ăn uống của
con người, đảm bảo nguồn nguyên nhiên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất và
công nghiệp chế biến mà ngành nông nghiệp còn tạo ra được nhiều mặt hàng có
giá trị xuất khấu cao như cà phê, hạt diều, mũ cao su.... tăng nguồn thu ngoại tệ
cho nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người dân. Hiện tại cũng như trong thời
gian tới, ngành nông nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển
của xã hội loài người và không ngành nào có thể thay thế được. Đảm bảo an ninh
lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị,
phát triển kinh tế xã hội.
Đối với nước ta do đặc điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên nông nghiệp giữ
một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước.
Thừa Thiên Huế là một địa phương có tỷ lệ lao động nông nghiệp cao. Dân số
ngày càng tăng, đất nông nghiệp ngày càng ít đi. Muốn cây trồng có năng suất cao,
chất lượng tốt thì người nông dân phải đầu tư thâm canh. Mà muốn làm như vậy
thì cần phải thực hiện nhiều biện pháp như: đầu tư khoa học kỹ thuật, vật tư phân
bón, giống, thủy lợi cho sản xuất sao cho hợp lý trên một đơn vị diện tích để thu
được năng suất cao, chất lượng tốt với giá thành hợp lý. Do việc tăng cường đầu
tư các yếu tó vật chất và đầu tư phân bón cho sản xuất được lặp đi lặp lại hàng vụ,
hàng năm với khối lượng rất lớn nên cần có đơn vị sản xuất kinh doanh để phục vụ

của công ty.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU
-Phương pháp duy vật biện chứng
-Phương pháp phân tích số liệu: phương pháp chỉ số nhân tố, phương pháp so
sánh trên cơ sở thu thập số liệu ở công ty để đưa ra kết luận có tính khoa học.
-Phương pháp chuyên gia tham khảo: tham khảo ý kiến của thầy cô, ý kiến của
nhân viên trong công ty...
-Phương pháp so sánh
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu : các vấn đề liên quan đến công tác tiêu thụ sản phẩm
của công ty trong 3 năm 2008-2010
Phạm vi nghiên cứu
-Về nội dung: Nghiên cứu tình hình tiêu thụ hàng hóa và một số giải pháp đẩy
mạnh công tác tiêu thụ.
- Về thời gian : Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần
VTNN Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2008-2010.
-Về không gian: nghiên cứu trong phạm vi địa bàn hoạt động của công ty cổ
phần VTNN Thừa Thiên Huế.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung nghiên cứu
+ Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần
VTNN Thừa Thiên Huế.
+ Chương3: Định hướng và giải pháp
Phần III: Kết Luận và Kiến Nghị.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp

hư hỏng, nhưng chất lượng sản phẩm phải đảm bảo khi lưu kho.
- Định giá và thông báo giá. Các quyết định về giá bán được xem xét một cách
có cơ sở, không những nhìn nhận từ những tác động bên trong DN như chi phí đầu
vào, tiền lương, lãi vay... mà DN còn phải xác định những yếu tố bên ngoài như:
nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh để đưa ra một mức giá cho
phù hợp với mỗi loại hàng hóa.
- Lên phương án phân phối và lựa chọn kênh phân phối sản phẩm trong công
tác tiêu thụ sản phẩm của DN, việc lên phương án phân phối phải được xác định
trước, dựa vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường mà DN có thể tiến hành phân
phối lượng hàng hóa cho hợp lý thông qua các kênh tiêu thụ.
- Xúc tiến bán hàng: đây là hoạt động của người bán để tác động vào tâm lý
người mua.
- Thực hiện các kỹ thuật nghiệp vụ bán hàng và đánh giá kết quả tiêu thụ sản
phẩm. Trong đó, nghiệp vụ thu tiền là rất quan trọng, hoạt động tiêu thụ vẫn chưa
kết thúc nếu như hàng hóa được bán nhưng vẫn chưa thu được tiền về cho DN.
1.1.3 Lựa chọn kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Khái niệm về kênh phân phối: Kênh phân phối là một tập hợp các công ty hay
cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với
một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu
dùng (theo Philip Kotler)
Khái niệm về phân phối: là các hoạt động liên quan đến việc tổ chức điều hành
và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng nhằm đạt
hiệu quả tối đa.
Các loại trung gian trong kênh phân phối: trung gian thường là các công ty, các
đại lý, cá nhân đứng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng. Họ có thể
trực tiếp hoặc không tham gia trực tiếp váo quá trình lưu thông hàng hóa. Có các
loại trung gian sau:
Trung gian bán buôn: là những người mua sản phẩm từ nhà sản xuất hoặc trực
tiếp nhập khẩu hàng hóa về bán lại cho người bán lẻ. Trung gian bán buôn có vai
trò quan trọng trên thị trường, họ là những người có thế mạnh về vốn do đó họ có

điều tiết thể hiện ở chỗ:
+ Thông qua nhu cầu thị trường các DN chủ động điều tiết hoặc di chuyển
các sản phẩm mà người tiêu dùng thích, có thể thay đổi từ sản phẩm này qua sản
phẩm khác nhằm mục đích kiếm lợi nhuận cao hơn.
+ Thông qua hoạt động của các qui luật kinh tế trên thị trường các DN
mạnh sẽ tận dụng khả năng của mình, lợi thế của mình trong cạnh tranh, để đẩy
mạnh quá trình kinh doanh. Những DN không có lợi thế cũng tìm cách vươn lên
để tránh khỏi sự phá sản.
- Chức năng thông tin: Trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh chỉ có
thị trường mới có chức năng thông tin. Trên thị trường có nhiều mối quan hệ như:
Kinh tế, chính trị, xã hội, dân tộc... xong thông tin về kinh tế là thông tin quan
trọng nhất. Chức năng thông tin của thị trường sẽ góp phần đắc lực cho sự hiểu
biết giữa người bán và người mua, giữa người kinh doanh và người tiêu dùng.
Thông tin thị trường cho biết tổng số cung và tổng số cầu đối với từng loại sản
phẩm hàng hóa, cho biết giá cả, chất lượng sản phẩm các điều kiện để mua bán và
các thông tin khác.
Do vậy thông tin thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế, quyết
định đến cả quá trình kinh doanh.
1.1.4.3 Phân khúc thị trường
Phân khúc thị trường là việc phân chia một thị thị trường lớn không đồng nhất
thành những khúc, những đoạn hay những nhóm khách hàng với những đăc điểm,
nhu cầu, thị hiếu và hàng vi mua tương đối đồng nhất, trên cơ sở đó tiến hàng các
hoạt động marketing hỗn hợp cho phù hợp để đạt được mục tiêu mong muốn của
DN như : doanh thu, thị phần, lợi nhuận; mức độ nhận biết thương hiệu..
Ta phải phân khúc thị trường vì: khách hàng quá đông, khách hàng phân bố
khắp nơi, nhu cầu và thói quen mua sắm của họ cũng khác nhau.
Do đó, ta nên chọn phần hoặc khúc nào để có thể phục vụ tốt nhất.
1.1.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của việc tiêu thụ
sản phẩm
1.1.5.1 Tỷ lệ % hoàn thành khối lượng hàng hóa tiêu thụ

: giá bán kỳ góc của sản phẩm i
Nếu T
1
> 100 thì chứng tỏ DN đã hoàn thành tốt việc tiêu thụ ở kỳ báo cáo so
với kỳ gốc và ngược lại quá trình tiêu thụ của DN không tốt.
1.1.5.2 Doanh thu: là tổng tất cả hàng hóa đã tiêu thụ.
TR =
1
n
i i
i
Q G
=

Với: TR: tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Q
i
: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm i
G
i
: giá bán sản phẩm i
Để phân tích sự biến động của doanh thu giữa kỳ báo cáo so với kỳ gốc, ta
dùng phương pháp chỉ số.
1 1
1
0 0
1
n
i
n

i
p Q
p Q
=
=


Với
-p
1
Q
1
: Khối lượng và giá bán hàng hóa kỳ báo cáo
-p
0
Q
0:
Khối lượng và giá bán hàng hóa kỳ gốc
-
1 1
0 1
p Q
p Q


: Chỉ số chung về giá cả các sản phẩm
-
0 1
0 0
p Q


1 1 0 0
0 0
p Q p Q
p Q

∑ ∑

=
1 1 0 1
0 0
p Q p Q
p Q

∑ ∑

+
0 1 0 0
0 0
p Q p Q
p Q

∑ ∑

Như vậy, doanh thu giữa kỳ báo cáo so với kỳ gốc có sự biến động tăng( giảm)
là do sự ảnh hưởng của 2 nhân tố: giá bán và sản khối lượng tiêu thụ.
1.1.5.3 Tổng chi phí:
Là toàn bộ chi phí tính bằng giá trị mà DN dùng để kinh doanh. Chỉ tiêu này
dùng để tính giá bán sản phẩm.
TC = FC + VC

Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/ năm;
phân lân tăng 13,9%/ năm; phân kali tăng 23,9%/năm.
Thời gian gần đây, nhu cầu phân bón của người dân gia tăng trong khi đồng
USD mất giá cộng với việc Trung Quốc- nước xuất khẩu phân bón lớn giảm sản
lượng sản xuất đã làm cho giá phân bón tăng ảnh hưởng đến sản xuất lương thực
cũng như đời sống của người nông dân. Giá nhập khẩu Ure bình quân từ mức 292
USD/ tấn năm 2009 đã tăng lên mức 322 USD/tấn năm 2010 và hiện ở mức
khoảng 380 USD/tấn (năm 2011). Giá bán lẻ Urê trong nước cũng tăng liên tục, từ
mức 6.000-6.500 đ/kg (năm 2009) đã tăng lên mức 8.000-9.500 đ/kg (cuối năm
2010 đầu năm 2011).
Nhà nước đã đưa phân bón vào trong danh mục các mặt hàng thiết yếu thuộc
diện bình ổn giá, áp dụng nhiều biện pháp điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp như:
điều hòa cung cầu, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu 0%, ưu đãi giá đầu vào đối
với một số loại phân bón sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý,
điều hành giá, triển khai các biện pháp bình ổn giá còn có những bất cập nên thị
trường phân bón nhiều năm qua đã xảy ra những diễn biến không bình thường: có
lúc, có nơi đã xảy ra những cơn sốt tăng giá quá cao hoặc có lúc giá giảm xuống
quá thấp, không hợp lý gây bất ổn định cho nền kinh tế.
Do vậy, theo các chuyên gia kinh tế, để chủ động hơn trong việc kiểm soát sự
biến động của giá bán lẻ phân bón, các cơ quan quản lý Nhà nước cần kiểm soát
chặt các yếu tố hình thành giá, tổ chức xây dựng hành lang pháp lý để các DN sản
xuất kinh doanh có được hệ thống phân phối minh bạch từ khâu bán buôn đến bán
lẻ đến tay người nông dân. Các DN sản xuất kinh doanh phân bón cần chủ động dự
trữ phân bón để sẵn sàng cung ứng khi thị trường biến động lớn hoặc mất cân đối
cung cầu.
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Do sự tác động lớn từ thị trường phân bón thế giới cũng như thị trường phân
bón trong nước cho nên thị trường phân bón tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian này
cũng gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến động. Việc giá nguyên liệu tăng và
nguồn quặng dùng cho sản xuất phân bón ngày càng khan hiếm đã tác dộng rất lớn

Theo quyết định số 1069/ QĐ-UB ngày 05/04/2005 của UBND tỉnh Thừa
Thiên Huế quyết định chuyển công ty VTNN thành công ty cổ phần VTNN Thừa
Thiên Huế. Đến nghị định 4408/QĐ-UBND ngày 29/12/2005 của UBND Thừa
Thiên Huế đã chính thức phê duyệt phương án xây dựng cổ phần hóa. Như vậy, kể
từ tháng 1/2006, để phù hợp với nền kinh tế thị trường trong xu hướng mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế nhà nước ta đã mạnh dạn cắt giảm các DN nhà nước sử dụng
vốn chủ yếu của ngân sách để trở thành công ty cổ phần, với vốn cổ phần sẽ giúp
cho công ty trở nên chủ động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của
mình.
Trong những năm qua với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên của công ty,
công ty đã vượt qua những khó khăn và đang phát triển bền vững khẳng định được
vị trí của mình trên thị trường.
2.1.1.2Chức năng và nhiệm vụ
Theo thông báo số 377 TB/UB ngày 23/07/1990 công ty được giao chức năng
và nhiệm vụ cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu trực tiếp đến các hợp tác xã và từng
hộ nông dân, địa bàn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của công ty chủ yếu là
trong tỉnh. Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đó, công ty tổ chức 4 điểm giao
dịch bán hàng phục vụ cho 8 huyện và thành phố Huế.
- Trạm An Lỗ phục vụ cho 3 huyện phía bắc: Phong Điền, Quảng Điền, Hương
Trà.
- Trạm Truồi phục vụ cho 3 huyện phía nam: Phú Lộc, Hương Trà, Hương
Thủy.
- Trạm A Lưới được thành lập để phục vụ cho bà con ở huyện A Lưới.
- Phòng kinh doanh phục vụ cho thành phố Huế và các xã lân cận.
Công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế là DN có tài khoản con dấu riêng, có
tư cách pháp nhân nên công ty phải thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm với nhà
nước nằm tăng nguồn thu ngân sách. Đồng thời công ty phải phục vụ VTNN đảm
bảo đúng số lượng và kịp thời cho nền sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra công ty còn
có nhiệm vụ thu mua đối lưu phân bón và nông sản nội địa để bán nội địa và xuất
khẩu, nhập khẩu phân bón, sản xuất phân lân vi sinh hữa cơ và các chế phẩm than

hàng hóa báo cáo lên lãnh đạo công ty. Mỗi chi nhánh đều có kho chứa hàng, đại lí
và các của hàng riêng lẻ.
Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu vừa chức năng vừa trực tuyến. Về
quan hệ trực tuyến biểu hiện dưới các chỉ thị hướng dẫn, chỉ đạo của hội đồng
quản trị với giám đốc và của giám đốc với các phòng chức năng cũng như các chi
nhánh phụ thuộc. Mối quan hệ giữa các phòng ban rất chặt chẽ với nhau đảm bảo
cho hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao.
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên Huế.
Nguồn: phòng hành chính công ty
HĐQT
Giám đốc
Phó Giám đốc
Nhà máy vi sinh
Nhà may NPK
Cử hàng xăng dầu
Trạm Phú
Đa
Trạm
Truồi
Trạm An
Lỗ
Trạm A
Lưới
Nhà máy
PLVS Sông
Hương
Của hàng
Đại lý
Cửa hàng
Đại lý

lao động trực tiếp bán hàng chiếm số lượng lớn hơn so với lao động gián tiếp, lao
đông trực tiếp qua 3 năm luôn lớn hơn 60% tổng số lao động.
-Phân theo trình độ: Do cong ty là dơn vị vùa kinh doanh vùa sản xuất nên tỷ lệ
công nhân chiếm khá caong trong tổng số nguồn lao độngvà số lượng công nhân
tăng đàn qua các năm, năm 2008 là 86 người, năm 2009 là 102 người tăng 16
người tương ứng tăng 18,6%, năm 2010 là 114 người tăng 12 người so với năm
2009. Một công ty muốn phát triển thì phải có đội ngũ công nhân viên giỏi nắm
bắt được điều này công ty đã chủ động tuyển những nhân viên có trình độ vào
những vị trí quan trọng nên tỷ lệ nhân viên tốp nghiệp đại học, cao đẳng cũng
chiếm 1 tỷ lệ tương đối và tăng dần qua các năm.
- Phân theo giới tính: nhìn vào bảng ta thấy tỷ lệ lao động nam nhiều hơn nữ
điều đó là hoàn toàn phù hợp với tính chất công việc và đặc điểm kinh doanh của
công ty.
Để duy trì và phát triển thị trường của mình công ty nhất thiết phải có một đội
ngũ nhân viên giỏi. Nhận biết được điều đó công ty cổ phần VTNN Thừa Thiên
Huế đã chú trọng phát triển lực lượng lao động theo chiều rộng lẫn chiều sâu và
chất lượng lao đồng ngày càng được nâng cao rõ rệt đáp ứng được yêu cầu công
việc.
Bảng 1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm 2008-2010
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 So sánh
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%

và không ngừng tăng lên. Năm 2008 tổng tài sản của công ty là 70739 triệu đồng,
năm 2009 là 91400 triệu đồng tăng 20661 triệu đồng tương ứng tăng 29.2% so với
năm 2008, năm 2010 tổng tài sản là 102464 triệu đồng tăng 11064 triệu đồng
tương ứng với 12.1% so với năm 2009. Nhìn vào bảng ta thấy tỷ lệ tăng tổng tài
sản của năm 2009/2008 lớn hơn lệ tăng tổng tài sản của năm 2010/2009 vì ở năm
2009 công ty mở rộng thêm 2 thị trường mới là Lâm Đồng và Cộng Hòa Nhân
Dân Lào con ở năm 2010 công ty chỉ mở rộng thêm một thị trường ở Đà Lạt nên
chi phí đầu tư trong năm 2010 ít hơn so với năm 2009 vì vậy mà tỷ lệ tổng tài sản
năm 2010/2009 thấp hơn so với 2009/2008.
Xét theo đặc điểm vốn: cả vốn cố định và vốn lưu động của công ty đều tăng
lên qua 3 năm và vốn lưu động của công ty chiếm tỷ lệ lớn hơn vốn cố định của
công ty điều này là phù hợp với hình thức kinh doanh của công ty do công ty là
đơn vị vừa sản xuất vừa thương mại phục vụ cho nông nghiệp nên việc đầu tư vào
vốn lưu động là yếu tố cần thiết để quay vòng vốn tạo hiệu quả cao trong kinh
doanh. Năm 2009 vốn lưu động của công ty là hơn 74 tỷ đồng tăng hơn 17 tỷ đồng
tương ứng với 30,98% so với năm 2008. Năm 2010 là hơn 83 tỷ đồng tăng hơn 9
tỷ đồng tương ứng với 12,22% so với năm 2009. Cùng vói sự tăng lên của vốn lưu
động thì vốn cố định cũng tăng theo, năm 2009 là hơn 17 tỷ đồng tăng hơn 3 tỷ
đồng tăng ứng với 21,99% so với năm 2008, năm 2010 là gần 19 tỷ đồng tăng gần
2 tỷ đồngồng tương ứng vói 11.56% so với năm 2009
Bảng 2: Tình hình vốn của công ty
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
2008 2009 2010
So sánh
2009/2008 2010/2009
Giá trị % Giá trị % Giá trị % % %
Tổng vốn sản xuất kinh doanh 70739 100 91400 100 102464 100 20661 129.2 11064 112.1
1. Phân theo đặc điểm nguồn vốn
Vốn cố định 13957.3 19.73 17027.2 18.63 18996.8 18.51 3069.9 121.99 1969.6 111.56

tiêu thụ là hơn 31 nghìn tấn chiếm 66,81 %. So sánh năm 2009 với 2008 lượng tiêu thụ
tăng hơn 3 nghìn tấn tương ứng tăng 13.78%. Năm 2010 với năm 2009 thì lượng tiêu
thụ tăng hơn 4 nghìn tấn tương ứng tăng 15.55%. Số lượng phân NPK tăng mạnh theo
các năm vì loại phân này là rất cần cho cây trồng hầu hết các loại cây trồng điều bón
phân này.
Xếp sau NPK là đạm. Năm 2008 lượng tiêu thụ là hơn 6 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 17
%, năm 2009 là hơn 7.2 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 17%, năm 2010 là hơn 7.3 nghìn tấn
chiếm tỷ trọng 15.6 %. So sánh năm 2009 với 2008 ta thấy lượng phân đạm tăng hơn
949 tấn tức tăng 15.17 %, năm 2010 tăng 100 tấn so với năm 2009 tức tăng 1.38 %, mặt
dù số lượng phân đạm năm 2010/2009 tăng nhiều hơn số lượng phân đạm 2009/2008
nhưng tỷ lệ tăng % lại ít hơn , sở dĩ như vậy là do Trung Quốc 1 nước sản xuất phân
bón lớn của thế giới cắt giảm sản lượng.
Mặt hàng tiếp theo là phân lân. Năm 2008 lượng phân tiêu thụ đạt hơn 4,5 nghìn tấn
chiếm tỷ trọng 12.32 %. Năm 2009 tiêu thụ được trên 5 nghìn tấn chiếm 12.61 % . năm
2010 lượng tiêu thụ là trên 5.5 nghìn tấn chiểm tỷ trọng 11.89 %. So sánh năm 2009 với
năm 2008 lượng phân lân tiêu thụ tăng 771 triệu tấn tương ứng tăng 17.04 %. Năm
2010 với năm 2009 lượng phân lân tiêu thụ tăng 253 triệu tấn tương ứng với 4.77%.
Cuối cùng là Kali có khối lượng tiêu thụ thấp nhất. Năm 2008 tiêu thụ 2,2 nghìn tấn
chiếm tỷ trọng 6.13 %, năm 2009 là 2.5 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 6.02%, năm 2010
lượng tiêu thụ là trên 2.6 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 5.65%. So sánh năm 2009 với năm
2008 thì lượng tiêu thụ tăng 277 tấn tương ứng tăng 7,1 %. Năm 2010 tăng 94 tấn so với
năm 2009 tương ứng tăng 3.75 %.
Nhìn chung khối lượng hàng hóa tiêu thụ hàng năm có sự biến động đáng kể. Nhưng
nhìn vào bảng số liệu tiêu thụ trong ba năm 2008- 2010 thì ta có thể thấy công ty chỉ
tập trung nhiều vào mặt hàng sản phẩm NPK, sản phẩm này nếu cứ tiếp tuc tăng như
những năm qua thì sẽ khiến công ty gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh. Chính vì vậy
công ty cần có những chính sách tiêu thụ hợp lý để tiêu thụ đồng đều các sản phẩm
phòng tránh rủi ro cho DN, tránh tình trạng hàng thừa hàng thiếu.
Bảng 3: Khối lượng tiêu thụ các loại vật tư của công ty qua 3 năm 2008- 2010
ĐVT: Tấn

Nguyên nhân doanh thu của NPK chiếm tỷ trọng cao như vậy vì đây là mặt hàng chủ
lực của công ty , nên công ty đã đưa ra những chính sách phát triển mạnh mẽ cho sản
phẩm chủ đạo của mình, bằng chứng là khối lượng tiêu thụ NPK luôn chiếm tỷ trọng
cao hơn so với các sản phẩn khác trong các năm qua.
Mặt hàng đem lại doanh thu lớn thứ hai là phân Đạm, năm 2008 doanh thu của Đạm
là 54841 trieu đồng, chiếm 19.35%, năm 2009 là 66404 triệu đồng chiếm 19.57% , năm
2010 là 69081 triệu đồng chiếm 17.57%.
Mặc dù khối lượng tiêu thụ của kaly là ít hơn so với phân Lân nhưng doanh thu công
ty thu về từ phân kaly lớn hơn so với phân kaly, cụ thể doanh thu trong năm 2008 của
kaly là 24182 triệu đồng chiếm 8.53%, còn doanh thu của phân lân là 13316 triệu đồng
chiếm 4.69%. trong năm 2009 doanh thu của kaly là 27611 triệu đồng chiếm 8.14%,
doanh thu của phân lân là 16911 triệu đồng chiếm 4,98%. Trong năm 2010 doanh thu
của Kaly là 28910 triệu đồng chiếm 7.35%, doanh thu từ lân chỉ chiếm 4,7% tổng doanh
thu, tức là 18774 triệu đồng.
Bảng 4: Doanh thu tiêu thụ mặt hàng phân bón của cong ty qua 3 năm 2008-2010
Mặt
hàng
tiêu thụ
2008 2009 2010
So sánh doanh thu
2009/2008 2010/2009
sản lượng
( tấn)
Giá
bán
BQ
Doanh
Thu
sản
lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status