Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, với nền kinh tế thị trường ngày càng năng động và sự
hội nhập với thế giới thì trên thị trường xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh
nghiệp trong và ngoài nước. Đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước là
những công ty, tập đoàn nước ngoài có hàng chục năm kinh nghiệm với nền kinh tế thị
trường, nguồn vốn dồi dào, dàn nhân sự được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng cần
thiết. Để có thể cạnh tranh, không bị mất thị phần trên chính “sân nhà” của mình, các
doanh nghiệp Việt Nam cũng cần đươc trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu
cầu của kinh doanh ngày càng cao, và Marketing là một trong những kỹ năng quan
trọng nhất.
Từ chỗ sản xuất ra sản phẩm tốt nhât, rẻ nhất có thể được.Doanh nghiệp còn
phải khiến cho khách hàng tin dùng sản phẩm của mình hơn là mua của đối thủ cạnh
tranh.Và để làm được điều đó doanh nghiệp cần phải hiểu nhu cầu của khách hàng tốt
hơn, họ cần truyền thông tốt hơn về sản phẩm của mình và họ cần xây dựng mối quan
hệ gắn bó lâu dài giữa thương hiệu và khách hàng.
Một trong những công ty sữa hàng đầu Việt Nam và nằm trong Top 10 thương
hiệu mạnh Việt Nam. Hoạt động hơn 10 năm trong cơ chế bao cấp, cũng như nhiều
doanh nghiệp khác chỉ sản xuất theo kế hoạch, nhưng khi bước vào kinh tế thị trường,
Vinamilk đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội, không ngừng đổi mới công nghệ, đầu tư cơ
sở hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm để chuẩn bị cho một hành trình mới.
“Vinamilk là thương hiệu của người Việt Nam, được xây dựng bởi bàn tay và
khối óc của người Việt Nam nên chúng tôi đủ sức để cạnh tranh lành mạnh với các
DN trong cộng đồng WTO, bởi chỉ có cạnh tranh mới đem lại sự phát triển”
( Bà Mai Kiều Liên-Tổng Giám đốc)
I. Giới thiệu chung:
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy
Products Joint Stock Company) một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm
từ sữa cũng như thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam. Theo thống kê của Chương
trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, đây là công ty lớn thứ 15 tại Việt Nam vào năm 2007.
(VTC News) – Trong suốt năm 2010, trên hàng loạt các phương tiện thông tin
đại chúng thông tin liên tục về những thành công rực rỡ của Công ty Cổ Phần Sữa
- Email:
Vốn Điều lệ của Công ty Sữa Việt Nam hiện nay: 3.565.706.400.000VND
1. Sơ lược về công ty cổ phần sữa VINAMILK
Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu tại
Việt Nam. Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước
và sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống,
kem và phó mát. Vinamilk cung cấp cho thị trường một những danh mục các sản
phẩm, hương vị và qui cách bao bì có nhiều lựa chọn nhất.
Theo Euromonitor, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam trong 3 năm kết thúc
ngày 31 tháng 12 năm 2007. Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty đã xây dựng
hệ thống phân phối rộng nhất tại Việt Nam và đã làm đòn bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới
như nước ép, sữa đậu nành, nước uống đóng chai và café cho thị trường.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu “Vinamilk”,
thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một trong nhóm 100
thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006. Vinamilk cũng được bình
chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm 2007.
Cuối năm 2009, hệ thống phân phối của vinamilk đã lên đến 135.000 điểm, với 9 nhà máy và
1 tổng kho, trên 200 mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa. Đặc biệt, sản phẩm Vinamilk đã
được xuất khẩu sang nhiều nước như Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông,
Đông Nam Á….Tính đến hết ngày 31/12/2009, tổng tài sản của Vinamilk đạt 8.531 tỷ đồng;
vốn chủ sở hữu đạt 6.455,77 tỷ đồng - trong đó, lợi nhuận chưa phân phối là 892,644 tỷ đồng.
Kết thúc năm 2011, doanh thu Vinamilk đạt hơn 1 tỷ đô la Mỹ (22.279 tỷ đồng)
tăng 37%, nộp ngân sách nhà nước 2.400 tỷ đồng tăng 38% so với năm 2010. Đặc biệt,
với kim ngạch xuất khẩu năm 2011 vượt kế hoạch, đạt trên 140 triệu đô la Mỹ, tăng
72% so với năm 2010 thì đây là năm Vinamilk đạt doanh số xuất khẩu cao nhất từ khi
thành lập công ty đến nay, tiếp tục lọt vào top 5 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt
Nam.
Hiện sản phẩm Vinamilk ngoài thị trường nội địa còn được xuất khẩu ra thế
giới tại 23 quốc gia trong đó có Mỹ, Úc, Canada, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc,
Thổ Nhĩ Kỳ, Sri Lanka, Philippin, Hàn Quốc, các nước khu vực Trung Đông…
Nghiệp Kho Vận có địa chỉ tọa lạc tại : 32 Đặng Văn Bi, Thành phố Hồ Chí Minh.
2003 : Chính thức chuyển đổi thành Công ty cổ phần vào tháng 12 năm 2003 và
đổi tên thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam cho phù hợp với hình thức hoạt động
của Công ty.
2004 : Mua thâu tóm Công ty Cổ phần sữa Sài Gòn. Tăng vốn điều lệ của Công
ty lên 1,590 tỷ đồng.
2005 : Mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên doanh
Sữa Bình Định (sau đó được gọi là Nhà máy Sữa Bình Định) và khánh thành Nhà máy
Sữa Nghệ An vào ngày 30 tháng 06 năm 2005, có địa chỉ đặt tại Khu Công Nghiệp
Cửa Lò, Tỉnh Nghệ An.
* Liên doanh với SABmiller Asia B.V để thành lập Công ty TNHH Liên Doanh
SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005. Sản phẩm đầu tiên của liên doanh mang
thương hiệu Zorok được tung ra thị trường vào đầu giữa năm 2007.
2006 : Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, khi đó vốn của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh
Vốn Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 50.01% vốn điều lệ của Công ty.
* Mở Phòng Khám An Khang tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm
2006. Đây là phòng khám đầu tiên tại Việt Nam quản trị bằng hệ thống thông tin điện
tử. Phòng khám cung cấp các dịch vụ như tư vấn dinh dưỡng, khám phụ khoa, tư vấn
nhi khoa và khám sức khỏe.
* Khởi động chương trình trang trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu tóm trang
trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhỏ với đàn bò sữa
khoảng 1.400 con. Trang trại này cũng được đi vào hoạt động ngay sau khi được mua
thâu tóm.
2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
2009: Phát triển được 135.000 đại lý phân phối, 9 nhà máy và nhiều trang trại
nuôi bò sữa tại Nghệ An, Tuyên Quang
2010 : Xây dựng nhà máy sữa nước và sữa bột tại Bình Dương với tổng vốn
đầu tư là 220 triệu USD.
dinh dưỡng có “uy tín khoa học và đáng tin cậy nhất của người Việt Nam” để
chiếm lĩnh ít nhất là 35% thị phần của thị trường sữa bột trong vòng 2 năm tới.
- Phát triển toàn diện danh mục các sản phẩm sữa và từ sữa nhằm hướng tới một
lượng khách hàng tiêu thụ rộng lớn, đồng thời mở rộng sang các sản phẩm giá
trị cộng thêm có giá bán cao nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận chung của toàn
Công ty.
- Tiếp tục nâng cao năng luc quản lý hệ thống cung cấp.
- Tiếp tục mở rộng và phát triển hệ thống phân phối chủ động, vững mạnh và
hiệu quả.
- Phát triển nguồn nguyên liệu để đảm bảo nguồn cung sữa tươi ổn định, chất
lượng cao với giá cạnh tranh và đáng tin cậy.
6. SẢN PHẨM
Các sản phẩm
Sữa tươi
• Sữa tươi 100%:
o Sữa thanh trùng (có đường, không đường);
o Sữa tiệt trùng (có đường, không đường, dâu, socola);
• Sữa tươi tiệt trùng;
• Sữa giàu canxi flex (có đường, không đường, ít đường);
• Sữa tươi Milkplus (có đường, không đường, dâu, socola).
Sữa chua
• Sữa chua ăn (có đường, không đường, trái cây, dâu, proby lợi khuẩn, nha đam,
cam, plus canxi);
• Sữa chua SUSU (có đường, cam, trái cây, dâu);
• Sữa chua uống (dâu, cam);
• Sữa chua men sống PROBI.
Sữa đặc
• Ông Thọ:
o Ông Thọ nhãn trắng nắp mở nhanh;
o Ông Thọ nhãn xanh nắp khui;
o Nước ép trái cây:
Đào ép;
Cam ép (có đường, không đường);
Táo ép;
Cà chua ép;
o Atiso;
o Trà chanh;
o Trà nha đam, nho nha đam;
• Nước uống đóng chai ICY.
Sản phẩm khác (đã ngưng sản xuất)
• Cà phê hòa tan CAFE MOMENT;
• Cà phê rang xay mang nhãn hiệu CAFE MOMENT.
II. Phân tích khái quát tình hình tài chính qua bảng
cân đối kế toán, kết quả hoạt động, lưu chuyển tiền tệ
7. Phân tích khái quát về tài sản và nguồn vốn
a. Phân tích tình hình tài sản
Qua bảng cân đối kế toán (bảng 1,2 phần phụ lục) ta nhận thấy nhìn chung tài
sản ngắn hạn qua các năm đều chiếm tỷ trọng lớn hơn 50% so với tổng tài sản. Ta còn
thấy rằng tài sản cố định qua các năm đều có sự gia tăng cho thấy công ty không
ngừng mở rộng tài sản cố định.
Ta thấy tổng tài sản năm 2009 tăng hơn 2.578 tỷ tương ứng tăng 44,06%.
Nguyên nhân là do tài sản ngắn hạn tăng và tài sản dài hạn tăng .
Tài sản dài hạn tăng 903 tỷ tương ứng với 36,49% nguyên nhân là do TSCĐ
tăng và các khoảng đầu tư dài hạn tăng.
Còn tài sản ngắn hạn cũng tăng 1.674 tỷ so với năm 2008 là 49,61%; cụ thể là
do các khoảng đầu tư tài chính tăng 1.755 tỷ .
Ta cũng nhận thấy lượng hàng tồn kho năm 2009 đã giảm 674 tỷ tương ứng với
27% so với 2008.
Khoản phải thu năm 2009 có sự gia tăng 73 tỷ tương ứng 11% .Đây cũng là một
trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ tiền mặt giảm.
lao động cũng gia tăng không nhiều ( tăng hơn 15%). Việc mua lại cổ phiếu quỹ có sự
gia tăng hơn 500 triệu so với 2009
Năm 2011, thì vốn chủ sở hửu đã cố sự tăng mạnh vượt qua mức 10.000 tỷ
đồng ( cụ thể là 12.000 tỷ) , trong năm này vốn đã tăng thêm 4.455 tỷ tương đương với
tăng khoảng 56%. Việc mua lại cổ phiếu quỹ trong năm nay đã tăng khoảng 3 lần so
với 2010( tăng hơn 1,8 tỷ). Tình trạng nợ dài hạn đã bắt đầu có sự suy giảm. Nhưng
khoản phải trả người bán có sự tăng mạnh. Trong năm này công ty đã quyết định lập
quỹ dự phòng.
Hình 3: Đánh giá cơ cấu nguồn vốn của công ty
Hình 4: Đánh giá cơ cấu nợ phải trả của công ty
Hình 5: Đánh giá cơ cấu nguồn vốn của công ty
8. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
a. Xét về cơ cấu
Trong 4 năm qua, lãi gộp của công ty có cơ cấu tăng dần. Năm 2009 lãi gộp
chiếm 35,67% cao hơn so với năm 2008 (30,87%) chủ yếu tăng là do giá vốn hàng bán
năm 2009 từ 67,09% ở đầu năm xuống còn 62,43% ở cuối năm. Đến năm 2010 lãi gộp
tiếp tục tăng và chiếm tỷ trọng 31,96% cao hơn so với năm 2009 do giá vốn hàng bán
có tỷ trọng tăng lên đến 66,01% nhưng xét theo giá trị tuyệt đối thì giá vốn hàng bán
năm 2010 cao hơn so với năm trước, nghĩa là công ty đã tích cực tiêu thụ sản phẩm để
làm tăng doanh thu bán hàng nên công ty tìm kiếm thêm một số khách hàng mới như
các chi nhánh mới của các siêu thị. Vì vậy mà lãi gộp ở năm 2010 có tỷ trọng tăng lên.
Đến năm 2011 lãi gộp chiếm 29,44% thấp hơn so vơí năm 2010(31,96%),giảm
là do giá vốn hàng bán năm 2011 tăng đến 98,01%.
Hình 6: Đánh giá cơ cấu về doanh thu và giá vốn hàng bán
Ta thấy các chi phí chiếm tỷ trọng khá cao so với lãi gộp. Trong đó chi phí tài
chính ở năm 2009 chiếm tỷ trọng(1,72%) thấp hơn so với năm 2008(3,31%) do sự
chênh lệch về tỷ giá nên đã làm cho chỉ tiêu này giảm. Và tiếp tục giảm trong năm
2010 chiếm 1,10% .Còn chi phí bán hàng và chi phí quản lý đều có quy mô giảm cho
thấy công ty đang kiểm soát lại các chi phí, nhưng giảm dần trong tương lai thì sẽ ảnh
hưởng đến tình hình kinh doanh. Sau khi trừ đi các chi phí thì năm 2009 lợi nhuận
đồng ( với tỉ lệ tăng 144,33%) so với năm 2008 nguyên nhân là do công ty đã tăng
hàng tồn kho là 470.271.876.311 .và tăng các khoản phải trả là 408.931.488.823.
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh tăng 1.075.492.115.323 (với tỉ lệ tăng 65,01%)
cho thấy công ty hoạt động có lãi.
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh năm 2010 giảm 949,734,416,573 ngàn đồng
( với tỉ lệ giảm 30,47%) so với năm 2009 nguyên nhân là do giảm các khoản phải thu
tăng 221,357,063,338 là (tăng 285,69%) hàng tồn kho lớn hơn so với năm 2009 là
1,467,598,742,834 làm cho lượng tiền hàng tồn kho giảm 312,07% thuế thu nhập
doanh nghiệp đã nộp tăng 259,112,792,776 ( tăng 89,52%) lợi nhuận công ty tăng
146,190,690,227 ( tăng 41,99%) nhìn chung công ty vẫn có lãi nhưng không hoạt động
hiệu quả bằng năm 2009 do các khoản phải thu hàng tồn kho , thuế thu nhập doanh
nghiệp tăng làm cho luồng tiền từ hoạt động kinh doanh giảm .
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh năm 2011 tăng 415,335,182,128
(tăng19,16%) so với năm 2010, nguyên nhân là do công ty giảm các khoản phải thu
tăng 768,002,826,538 (tăng 257%), thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp tăng
241,395,088,121 (tăng 44%) các khoản phải trả tăng 384,789,041,396 (tăng 96,63%) .
Lợi nhuận công ty tăng 1,063,399,337,344 ( tăng 27,44%) nhìn chung năm 2011
tình hình kinh doanh tốt hơn 2010 do lợi nhuận và luồng tiền kinh doanh tăng .
Hình 9: Đánh giá sự biến động của bảng lưu chuyển tiền tệ
III. Phân tích các chỉ số của Công ty
10. Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán
a. Khả năng thanh toán hiện hành
Bảng 1: Đánh giá khả năng thanh toán hiện hành qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Hình 10: Sự biến động về khả năng thanh toán hiện hành của công ty
Khả năng thanh toán hiện hành của công ty năm 2009 so với năm 2008 tăng
8,7% cho thấy khả năng thanh toán nợ ở năm 2009 tốt hơn so với năm 2008. Nguyên
nhân tăng là do tài sản ngắn hạn tăng với tốc độ tăng là 49,62%, trong khi đó nợ ngắn
hạn cũng có tăng 37,64% nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với tài sản ngắn hạn.
Đến 2010 thì khả năng thanh toán hiện hành của công ty lại có chiều hướng giảm
Khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2009 nhỏ hơn 0,6 lần so với năm
2008 tương ứng giảm 40,96% cho thấy khả năng thanh toán nhanh của công ty ở năm
2009 chưa tốt so với năm 2008. Đến năm 2010 thì chỉ tiêu này có sự tăng trở lại, tăng
3,66% so với nămtrước, chứng tỏ công ty đã cải thiện được tình hình tài chính.Đến
năm 2011 chỉ tiêu này tăng mạnh 123,26% so với năm trước.Đây là giai đoạn mà khả
năng thanh toán nhanh tăng mạnh nhất.
Nhưng trong 4 năm hệ số thanh toán nhanh của công ty có sự biến đổi liên tục
nhưng mức thấp nhất là 0,86 gần với 1.Điều này chứng tỏ tình hình tài chính tuy bị sự
tác động từ môi trường kinh tế nhưng tài chính của công ty vẫn rất mạnh để vượt qua
khó khăn.
c. Khả năng thanh toán lãi vay
Bảng 3: Đánh giá khả năng thanh toán lãi vay của công ty qua
ĐVT: Tỷ đồng
Hình 12: Sự biến động về khả năng thanh toán lãi vay của công ty
Khả năng thanh toán lãi vay năm 2009 lớn hơn 345 lần so với năm 2008 tương
ứng tăng 713,65% cho thấy công ty có khả năng đảm bảo thanh toán cho chi phí lãi
vay cao hơn so với năm 2008. Đến năm 2010 hệ số này tiếp tục tang 53,83% so với
năm 2009. Đến năm 2011 hệ số này lại giảm 44,74% so với năm 2010.
Nhìn chung chi phí lãi vay qua các năm có sự gia tăng chứng tỏ công ty cần vay
tiền để thực hiện các dự án kinh doanh.
Tóm lại ta có thể nhận xét rằng doanh nghiệp hoàn toàn không bị chi phí lãi vay
khống chế do chi phí lãi vay mặc dù biến động nhưng lợi nhuận vẫn rất cao so với lãi
vay đó.
11. Nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
a. Vòng quay khoản phải thu
Bảng 4: Đánh giá vòng khoản phải thu của công ty qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Năm
2008
Đến năm 2010 số vòng tồn kho lại giảm 16,15% và số ngày tồn kho tăng thêm
8 ngày tương ứng tăng 19,27%, chứng tỏ hàng tồn kho của công ty không được luân
chuyển tốt.
Đến năm 2010 số vòng tồn kho gần như không có sự thay đổi chuyển tốt. Công
ty nên tích cực trong việc tiêu thụ sản phẩm, đề ra phương án chiết khấu cho những
khách hàng đạt doanh số mua hàng trong tháng mà công ty quy định.
Bảng 5: Đánh giá vòng quay hàng tồn kho của công ty qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Chênh lệch(%)
2009/200
8
2010/200
9 2011/2010
Doanh thu thuần 8,236 10,650 15,845 21,821 29.32% 48.78% 37.72%
Hàng tồn kho bình quân 1,755 1,281 2,273 3,187 -27.04% 77.44% 40.22%
Vòng quay hàng tồn kho
(vòng) 4.69 8.32 6.97 6.85 77.23% -16.15% -1.79%
Số ngày tồn kho (ngày) 76.73 43.29 51.63 52.57 -43.58% 19.27% 1.82%
Hình 14: Sự biến động về vòng quay hàng tồn kho của công ty
c. Hiệu suất sử dụng tài sản
Qua bảng 6, hiệu suất sử dụng tài sản cho biết năm 2008 cứ một đồng vốn đầu
sản ngắn hạn càng có hiệu quả.
Đến năm 2011, thì hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn có phần hơi suy giảm
0,02 so với năm 2010 tương ứng giảm 0,89%. Hiệu suất năm này là 2,89 nghĩa là cứ
một đồng tài sản ngắn hạn thì tạo ra 2,89 đồng doanh thu thuần trong năm.
Bảng 7: Đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Chênh lệch(%)
2009/200
8
2010/200
9
2011/201
0
Doanh thu thuần 8,236 10,650 15,845 21,821 29.32% 48.78% 37.72%
Tài sản ngắn hạn bình quân 3,284 4,213 5,427 7,542 28.30% 28.83% 38.96%
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn
hạn 2.51 2.53 2.92 2.89 0.79% 15.49% -0.89%
Hình 16: Sự biến động về hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty
e. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản vốn cố định của công ty không quá lớn. Năm 2009
hiệu suất này giảm 26,61% so với năm 2008.Đến năm 2010 thì hiệu suất này tăng trở
giảm (32,62% năm 2010 và 30,03% năm 2011). Việc suy giảm này là do sự gia tăng
của giá thành sản phẩm, chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh
tranh của công ty Vinamilk trên thị trường.
Bảng 9: Đánh giá hệ số lãi gộp của công ty qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
2008 2009 2010 2011
Chênh lệch
2008/2009 2009/2010 2010/2011
Lãi gộp 2,595 3,872 5,168 6,554 49.23% 33.47% 26.81%
Doanh thu
thuần 8,236 10,650 15,845 21,821 29.32% 48.78% 37.72%
Hệ số lãi gộp 31.51% 36.36% 32.62% 30.03% 15.40% -10.29% -7.92%
Hình 16: Sự biến động về hệ số lãi gộp của công ty
b. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Năm 2009 tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 22,36%, nghĩa là cứ một đồng
doanh thu thuần tạo ra 0,2236 đồng lợi nhuận ròng, so với năm 2008 thì tỷ số này
tăng 49,58%. Đến năm 2010 tỷ số này tăng 1,67% so với năm trước. Nhưng dến năm
2011 thì tỷ số này lại giảm mạnh 16,02% làm cho tỷ suất năm này chi đạt 19,09%Qua
đó ta thấy tình hình bất ổn của kinh tế VN vào 2011 đã tác động không nhỏ đến doanh
nghiệp.
Bảng 10: Đánh giá tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011
Chênh lệch
2008/2009 2009/2010 2010/2011
Lãi ròng 1,231 2,381 3,602 4,167 93.43% 51.29% 15.66%
Doanh thu thuần 8,236 10,650 15,845 21,821 29.32% 48.78% 37.72%
Tỷ suất sinh lời trên doanh
thu 14.95% 22.36% 22.74% 19.09% 49.58% 1.69% -16.02%
Hình 11: Sự biến động về tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 Chênh lệch
2008/2009 2009/2010 2010/2011
Lãi ròng 1,231 2,381 3,602 4,167 93.43% 51.29% 15.66%
Vốn chủ sở hữu 4,422 6,462 7,957 12,412 46.14% 23.13% 55.99%
Tỷ suất sinh lời trên
VCSH
27.84% 36.85% 45.27% 33.57% 32.36% 22.87% -25.86%
Hình 20: Sự biến động về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty
13. Nhóm cơ cấu tài chính
a. Hệ số nợ so với tài sản
Bảng 13: Đánh giá hệ số nợ so với tài sản của công ty qua 4 năm
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011
Chênh lệch
2008/2009 2009/2010 2010/2011
Nợ phải trả
1,430 1,968 2,806 3,152
37.64% 42.61% 12.33%
Tổng tài sản
5,852 8,430 10,763 15,564
44.06% 27.67% 44.61%
Hệ số nợ so với tài
sản 24.43% 23.34% 26.07% 20.25% -4.46% 11.70% -22.32%
Năm 2009 hệ số nợ giảm 4,46% so với năm 2008 do tổng nợ vay tăng 37,64%,
tăng yếu hơn so với tốc độ tăng của tài sản( 44,06% ) cho thấy mức độ nợ trong tài sản
công ty giảm thể hiện khả năng thanh toán của công ty rất tốt.
Đến năm 2010 hệ số này lại tăng lên 11,7% so với năm 2009 chủ yếu là
do tài sản có tốc độ tăng thấp hơn nợ phải trả nói lên khả năng thanh toán của
công ty không được tốt.
Đến năm 2011, hệ số này lại giảm mạnh 22,32% so với năm trước do tốc độ
CHỈ TIÊU
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Chênh lệch(%)
2009/2008 2010/2009 2011/2010
Suất sinh lời của doanh thu
(ROS) 14.64% 21.93% 22.27% 18.71% 49.79% 1.55% -15.98%
Tổng tài sản 5,852 8,430 10,763 15,564 44.06% 27.67% 44.61%
Vốn chủ sở hữu 4,422 6,462 7,957 12,412 46.14% 23.13% 55.99%
Đòn bẩy tài chính 1.32 1.30 1.35 1.25 -1.42% 3.69% -7.30%
Số vòng quay tài sản 1.41 1.26 1.47 1.40 -10.64% 16.67% -4.76%
ROA 21.04% 28.25% 33.47% 26.77% 34.27% 18.50% -20.02%
ROE 27.84% 36.85% 45.27% 33.57% 32.36% 22.87% -25.86%
Hình 23: Đánh giá về tỷ suất sinh lời trên VCSH
Vì vậy mà tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng khá cao và điều này cũng làm ảnh
hưởng tới tỷ suất sinh trên tài sản tăng lên 34,27%. ROA chịu sự tác động bởi 2 nhân
tố là ROS và số vòng quay tài sản. Vì số vòng quay tài sản năm 2009 giảm 10,64% so
với năm trước và ROS tăng mạnh nên làm cho ROA tăng, do chỉ tiêu ROS tỷ lệ thuận
với ROA. Còn đòn bẩy tài chính ở năm 2009 giảm 1,42% so với năm 2008 do tổng tài
sản ở năm 2009 tăng chậm hơn vốn chủ sở hữu nên đã làm hệ số này giảm. Qua đó ta
thấy công ty sử dụng nợ chưa hợp lý đã làm mất cơ hội tăng thêm lợi nhuận. Công ty
nên đẩy mạnh đòn bẩy tài chính để tăng tỷ suất sinh lời trên vốn.
Đến năm 2010 chỉ tiêu ROE tiếp tục tăng 22,87% so với năm 2009 nhưng tốc độ
tăng lại chậm hơn so với năm 2009, chủ yếu là do ROS chỉ tăng 1,55% nhưng vòng