BÀI TẬP NHÓM MÔN: KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ Công ty cổ phần sữa Việt Nam - Pdf 14

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ
LỚP CAO HỌC QTKD1 K19 – NHÓM 1
Công ty cổ phần sữa Việt Nam
Hà Nội, Tháng 04 năm 2011
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2 – QTKD1 K18
1. Quách Anh Dũng (Nhóm trưởng)
2. Hoàng Đức Nhuận
3. Nông Vân Anh
4. Bùi Thị Huyền Trang
5. Phạm Bích Vui
6. Phùng Thị Duyên
7. Đặng Thị Dịu
8. Đào Minh Nguyệt
9. Đinh Thị Mai Phương
10. Nguyễn Thị Ngọc Dịu
11. Nguyễn Xuân Tiến
12. Tống Xuân Vinh
2
Mục Lục
Mục lục 3
I. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần sữa Việt Nam 4
Người thực hiện: Tống Xuân Vinh
II. Phân tích cấu trúc thị trường 7
Người thực hiện: Mai Phương – Xuân Tiến
III. Phân tích các điều kiện cung cầu trên thị trường
1. Yếu tố cung 9
Người thực hiện: Phùng Duyên – Vân Anh

1976 : Tiền thân là Công ty Sữa-Café Miền Nam, trực thuộc Tổng Công ty Lương
thực, với 6 đơn vị trực thuộc là: Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường
thọ, Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café Biên Hòa
1982, công ty Sữa – Cà phê Miền Nam được chuyển giao về Bộ Công nghiệp thực
phẩm và đổi tên thành xí nghiệp liên hiệp Sữa - Cà phê – Bánh kẹo I . Lúc này, xí
nghiệp đã có thêm hai nhà máy trực thuộc, đó là:
• Nhà máy bánh kẹo Lubico.
• Nhà máy bột dinh dưỡng Bích Chi (Đồng Tháp)
* Thời kỳ đổi mới (1986-2003)
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý và Công ty
được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt
Nam.
4
1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại thị trường Việt
Nam.
1992 : Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức đổi tên thành
Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Nhiệp Nhẹ. Công
ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản phẩm sữa.
1994 : Nhà máy sữa Hà Nội được xây dựng tại Hà Nội. Việc xây dựng nhà máy là
nằm trong chiến lược mở rộng, phát triển và đáp ứng nhu cầu thị trường Miền Bắc
Việt Nam.
1996 : Liên doanh với Công ty Cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn để thành lập Xí
Nghiệp Liên Doanh Sữa Bình Định. Liên doanh này tạo điều kiện cho Công ty thâm
nhập thành công vào thị trường Miền Trung Việt Nam.
2000 : Nhà máy sữa Cần Thơ được xây dựng tại Khu Công Nghiệp Trà Nóc, Thành
phố Cần Thơ, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tốt hơn của người tiêu dùng tại đồng
bằng sông Cửu Long. Cũng trong thời gian này, Công ty cũng xây dựng Xí Nghiệp
Kho Vận có địa chỉ tọa lạc tại : 32 Đặng Văn Bi, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Thời kỳ cổ phần hóa (2003-nay)

2011: Kế hoạch đưa vào hoạt động nhà máy sữa Đà Nẵng với vốn đầu tư 30 triệu
USD.
Trong xu thế đổi mới và hội nhập kinh tế như hiện nay, Công ty đang từng bước
nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, mở rộng thị trường , hợp tác sản xuất với các
bạn hàng trong nước và quốc tế.
6
PHẦN II
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG
Theo Dự báo, nhu cầu tiêu thụ sữa của thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong
những năm tới bởi những tác động từ việc thu nhập đầu người dự báo sẽ tăng 125%
giai đoạn 2008-2012 (lên mức 1854 USD/năm) dẫn đến nhu cầu sữa tăng.
Theo Euromonitor International – hãng chuyên nghiên cứu về thị trường và người
tiêu dùng cho biết, những yếu tố này sẽ làm cho quá trình phân phối sản phẩm lúc
đó thay đổi. Dự báo đến năm 2011, sữa nước và sữa bột tại Việt Nam sẽ có mức
tăng trưởng gấp đôi so với con số 149.000 tấn sữa nước, 27.000 tấn sữa bột gầy và
39.000 tấn sữa bột nguyên kem được tiêu thụ năm 2008.
Trong khi đó, theo TS. Đỗ Kim Tuyên - Cục chăn nuôi, Bộ NN&PTNT cho biết,
mục tiêu năm 2010 tổng sản xuất sữa tươi tại VN phấn đấu đạt 350.000 tấn. Con số
này năm 2008 là 262.000 tấn, mới đáp ứng được 22% nhu cầu trong nước.
Dân số trẻ và tỷ lệ trẻ sơ sinh cao là đã tạo một thị trường tiêu thụ sữa lớn
Mặc dù là một quốc gia nông nghiệp, với thu nhập bình quân đầu người thấp, mức
tiêu dùng nói chung và tiêu thụ sữa nói riêng vẫn ở mức thấp. Tuy vậy, một nghịch
lý hiện nay là giá sữa tại Việt Nam lại đang phản ánh ngược lại thực tế này.
Theo ông Raf Somers - Cố vấn trưởng Dự án Bò sữa Việt Bỉ cho biết, trong khi giá
sữa ở các nước thuộc châu Âu, Nam Mỹ… dao động từ 0,5-0,9 USD/lít thì giá sữa
tại Việt Nam trung bình ở mức 1,1 USD – thuộc loại cao nhất thế giới.
Một trong những nguyên nhân làm giá sữa hiện nay ở nước ta rơi vào nghịch lý nói
trên bên cạnh các yếu tố cấu thành giá thành sản phẩm như giá sữa nguyên liệu, chi
phí sản xuất, đóng gói, lợi nhuận của nhà chế biến, phân phối bán lẻ, các chính sách
thuế… là do thị hiếu, xu hướng chọn mua loại đắt nhất có thể của người tiêu dùng

Ngay lúc này, với mức lợi nhuận cao nên các hãng liên tục đầu tư những chiến dịch
quảng cáo rầm rộ; cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu mua sữa tươi trong nước.
Trong đó, các công ty có chu trình sản xuất khép kín, với vùng nguyên liệu riêng
như Mộc Châu, Ba Vì chỉ 1-2 năm nay đã nhanh chóng vươn lên chiếm lĩnh thị
phần.
8
PHẦN III
PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN CUNG CẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG
1. Cung của ngành sữa và các yếu tố xác định cung
Các yếu tố nguồn Cung cho đầu vào của Sữa Vinamilk có thể được đề cập như sau:
a. Các yếu tố trong ngành nói chung
Việt Nam là nước nông nghiệp trong đó bò là động vật phục vụ sản xuất rất tốt,
khoảng vài chục năm trở lại đây bò sữa mới trở nên quen thuộc với người dân qua
nhiều dự án phủ rộng diện tích đàn bò làm nguyên liệu. Cho đến cuối năm 2006,
nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào trong nước chỉ đảm bảo khoảng 20%, những
dự án nuôi bò thất bại đã khiến nguồn cung đầu vào đã ít còn thêm khan hiếm ( hai
trung tâm nghiên cứu, nuôi bò với quy mô lớn là Ba Vì – Hà Tây, Mộc Châu – Sơn
La và một số trung tâm nuôi bò sữa ở ven TP. HCM, các tỉnh lân cận), các nhà máy
sữa chỉ còn trông chờ vào 80% nguồn nguyên liệu nhập ngoại từ các nước Úc,
Newziland, Mỹ, Ấn Độ… và nguồn này hoàn toàn là sữa bột nguyên liệu. Riêng
trường hợp của Vinamilk, việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên vật liệu đầu vào
nhập khẩu đã kéo theo rất nhiều vấn đề bất cập như giá thành đầu vào cao, không
chủ động được nguồn cung vì phải phụ thuộc quá nhiều vào thị trường thế giới, giá
của nguyên vật liệu cũng phụ thuộc rất nhiều xu hướng giá của thế giới. Trong 2
năm vừa qua, cùng với sự hồi phục của nền kinh tế thế giới đã dẫn đến nhu cầu sữa
của cả thị trường tăng lên, thêm nữa giá xăng dầu tăng lên điều này dẫn đến giá của
sữa bột cũng như sữa cho nguyên liệu đầu vào cung ứng cho ngành cũng tăng lên
theo xu thế trên. Mặt khác sự biến động không ngừng của tỷ giá và sự mất giá liên
tiếp của đồng VNĐ cũng đặt Vinamilk đứng trước rủi ro rất lớn và là những rào cản
cho nguồn cung của công ty.

lượng và độ dinh dưỡng không hoàn toàn thay thế được sữa. Hiện tại trên thị trường
có các thương hiệu như: Nestle, Red Build,…tuy nhiên hiện tại các sản phẩm này
chưa có tác động nhiều đến giá thành cũng như các yếu tố đầu vào của sữa
b) Chính sách từ chính phủ
Hạn chế: Chính sách thuế từ phía chính phủ cũng là rào cản khiến cho giá nguyên
liệu đầu vào cao lên. Sang năm 2011, nhà nước tăng thuế nhập khẩu từ 5% lên 10%
đối với các sản phẩm sữa nhập từ châu Âu và Mỹ.
Tích cực:Để cụ thể hóa chiến lược phát triển ngành Sữa từ nay đến năm 2020, Bộ
NN&PTNT đang tiếp tục thực hiện đề án giúp nông dân vay vốn và hưởng các chế
độ, chính sách theo quy định của Chính phủ. Ngoài tập trung triển khai dự án phát
triển nguồn giống, hỗ trợ cải tạo đàn bò sữa, tổ chức tập huấn giúp nông dân nắm
vững kiến thức chăn nuôi, Bộ đang nghiên cứu ban hành quy định các công ty sữa
xây dựng hệ thống thu mua sữa công khai minh bạch, có cơ quan trung gian làm
10
trọng tài giám sát, để người chăn nuôi bò sữa và nhà chế biến sản phẩm đều được
hưởng lợi. Về mối quan hệ giữa Nhà nước, người chăn nuôi và tiêu dùng, ông
Tuyên cho biết: Dự án bò sữa Việt - Bỉ đang hỗ trợ các viện chăn nuôi, viện nghiên
cứu có một phòng thí nghiệm đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật để phân tích chất
lượng sữa. Trước đây, chúng ta thường coi nhẹ mô hình HTX, nay cần phải suy
nghĩ lại. Minh chứng hiệu quả của mô hình này là trường hợp của Công ty Sữa Mộc
Châu, đã làm rất tốt khâu dịch vụ, người chăn nuôi cung cấp sản phẩm có quyền lợi
gắn bó mật thiết với công ty. Thực tế tại Hà Nội, đã có một số HTX tư nhân như
HTX Vinh Nga ở huyện Ba Vì cam kết mua sữa cho nhân dân, giúp họ vượt qua
khó khăn khi gặp “bão” mê-la-min. HTX đóng vai trò như một dịch vụ công khá
tốt, nếu cố gắng nhân rộng và phát triển, chúng ta sẽ có nhiều HTX và các công ty,
công ty cổ phần cùng sản xuất hiệu quả.
Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 10/2008/QĐ-
TTg phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020.
Đây là định hướng quan trọng phát triển chăn nuôi trong thời kỳ tới, trong đó tập
trung ưu tiên phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp gắn với giết mổ, chế biến

Đàn bò nhập sẽ được nuôi tại Trang trại bò sữa Nghệ An của Vinamilk với công
nghệ và kỹ thuật hiện đại dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chuyên gia bò sữa New
Zealand.
Thông qua việc nhập bò sữa trực tiếp từ New Zealand, Vinamilk tiếp tục khẳng định
nỗ lực chủ động nguồn nguyên liệu sữa tươi chất lượng cao cho sản phẩm sữa tươi
nguyên chất 100% và tiến tới nội địa hóa 50% nguyên liệu sản xuất sữa tại
Vinamilk.
Có thể nói, nguồn cung của sản phẩm sữa bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố và điều
này có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và chất lượng của sản phẩm, Bản thân
Vinamilk cũng đã rất nỗ lực trong việc cố gắng để chủ động trong vấn đề này tuy
nhiên điều này đòi hỏi sự nỗ lực của người dân, chính phủ và doanh nghiệp và đặc
biệt không thể hoàn thành trong ngày một ngày hai mà cần có một chiến lược cụ
thể, lâu dài đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người tham gia.
2. Cầu của ngành sữa và các yếu tố xác định cầu
a. Sở thích và thị hiếu
Một trong những thành công của Vinamilk là đa dạng hoá sản phẩm. Hệ thống sản
phẩm của Vinamilk rất phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu của tất cả các đối
tượng khách hàng từ trẻ sơ sinh, trẻ em, thanh thiếu niên, người lớn, người có nhu
cầu đặc biệt. Hiện nay, nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng phong phú, người
tiêu dùng không chỉ cần có sản phẩm tốt, giầu dinh dưỡng là đủ, mà sản phẩm đó
12
còn phải đáp ứng nhiều nhu cầu khác, chẳng hạn, sản phẩm không có cholesterol
cho người cao huyết áp, bệnh tim mạch; sản phẩm phải giầu canxi cho phụ nữ và
những người mắc chững loãng xương. Ngoài ra, cũng cần sản xuất sản phẩm giá rẻ
cho người có thu nhập thấp, sản phẩm có bao bì khác lạ, vui mắt dành cho thiếu nhi
…Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, Vinamilk đã hoàn toàn đáp ứng được nhu
cầu này. Từ mặt hàng đầu tiên lúc mới thành lập là sữa đặc có đường, đến nay,
Vinamilk đã có trên 100 nhãn hiệu bao gồm sữa đặc, sữa tươi, kem, sữa chua, sữa
bột và bột dinh dưỡng các loại, sữa đậu nành, nước ép trái cây các loại … Sản phẩm
sữa đặc truyền thống và đa dạng của Vinamilk gồm có sữa ông thọ, sữa Ngôi sao

thơm ngon như vani, cốm, sầu riêng, cacao, cam, chanh, dâu, trái cây … dành cho
các bạn trẻ.
Trong những năm tới đây, Vinamilk tiếp tục tăng cường đa dạng hoá sản phẩm, đổi
mới liên tục để không những đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, mà còn
tạo ra nhu cầu của người tiêu dùng.
b. Thu nhập của người tiêu dùng
Sản phẩm sữa của công ty Vinamilk là hàng hoá thiết yếu, trong khi thu nhập binh
quân đầu người của Việt Nam ngày càng tăng ( đạt mức hơn 1.241 USD/năm vào
năm 2010). Vì vậy, khi thu nhập của người tiêu dùng tăng thì nhu cầu về sản phẩm
thiết yếu cũng tăng lên. Theo thống kê thì lượng sữa theo đầu người của Việt Nam
đã tăng qua các năm:
Chỉ tiêu Năm 2000 2005 2010
Số lượng sữa tiêu dùng trong nước
Dân số Ngàn người 77.685,5 83.352 87.758
Mức tiêu dùng bình
quân một người
Lít/người 5,9 8 10
c. Sự sẵn có và giá cả của hàng hoá thay thế
Kì vọng: Báo cáo tổng kết thị trường Việt Nam của một công ty sữa đa quốc gia nêu
rõ: GDP Việt Nam tăng khoảng 8%/năm và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn còn
khoảng trên 20%. Sân chơi của doanh nghiệp kinh doanh sữa nằm ở khả năng mua
sắm ngày càng lớn của người tiêu dùng và các khoản ngân sách quốc gia dành cho
chiến lược phòng chống, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ còn 15 đến dưới 20%
trong vòng 10 năm tới.
Thị trường sữa Việt Nam có khả năng duy trì mức tăng trưởng bình quân 10%/năm
trong giai đoạn 2008 – 2010. Mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa bình quân
đầu người tại Việt Nam hiện đang ở mức rất thấp (14,6 kg/người/năm so với mức
bình quân 62kg/người/năm của Châu Á và 96 kg/người/năm của thế giới). cùng với
việc thu nhập bình quân đầu người đang tăng lên hàng năm và thói quen tiêu thụ
sữa được hình thành, thị trường sữa Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng khá tốt

CHO VINAMILK TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU
16
1. Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Vinamilk là công ty sản xuất sữa lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Qua các năm từ
2007 cho đến nay công ty luôn luôn phát triển lớn mạnh thể hiện ở quy mô và các
chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm.
Danh mục sản phẩm đa dạng mang lại doanh thu cao
Sản phẩm của Vinamilk rất đa dạng và phong phú về chủng loại với trên 200 mặt
hàng sữa và các sản phẩm về sữa:sữa đặc, sữa nước, sữa chua, phô mai, sữa bột, sữa
dinh dưỡng.…Cá sản phẩm khác: sữa đậu nành, nước ép trái cây…bánh mang lại
doanh thu cao.
Từ năm 2004-2007 doanh thu các mặt hàng của công ty đều tăng. Danh mục các sản
phẩm tăng liên tục và luôn dẫn đầu thị trường. Thị phần trong năm 2007: sữa đặc
chiếm 79%, sữa nước 35%, sữa bột 14%, sữa chua 97%. Năm 2008 và 2009 vẫn
dẫn đầu thị trường nội địa, nắm 37% thị trường (2008), tăng trưởng 29% năm 2009.
Danh mục các
loại sản phẩm
sữa
% cơ cấu doanh thu
Năm 2008 Năm 2009 2010
Sữa đặc 29 25 24.5
Sữa nước 27 34.6 35
Sữa bột 29 20 19
Sữa chua 12 17.2 18
Sản phẩm khác 3 3.2 3.5
Tổng cơ cấu 100 100 100
Năng lực sản xuất lớn
Công suất thiết kế của Vinamilk đạt khoảng 504 triệu tấn/năm, trong đó công suất
sản xuất sữa bột/sữa nước/sữa đặc hiện đạt lần lượt là 75%/60%/95%, tương ứng

2010
13.081
3.303
2. Giải pháp cho vinamilk trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển thương hiệu
a. Vấn đề huy động vốn
Thực hiện huy động vốn có hiệu quả bằng việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ. với phát
hành 3% vốn điều lệ thông qua phát hành riêng lẻ sẽ hạn chế NĐT nước ngoài tham
gia mua cổ phiếu. Hơn nữa, giá cổ phiếu của Vinamilk trên thị trường cũng không
tăng cao nếu chọn phương án này. việc phát hành riêng lẻ thủ tục rất nhanh chóng
nên việc huy động vốn cũng hiệu quả hơn. Ngoài ra, với tình hình kinh tế hiện nay,
nếu phát hành rộng rãi có thể tạo ra gánh nặng tài chính cho các cổ đông. "Vinamilk
sẽ làm việc với các CTCK và họ sẽ tối đa hóa giá trị thu về cho Công ty
b. Tăng năng lực cho nhà phân phối bằng qui trình kinh doanh giữa Vinamilk
và nhà phân phối ERP
Theo qui trình kinh doanh, các sản phẩm sữa của Vinamilk được bán ra đầu tiên cho
các NPP. Đây vừa là khách hàng lớn của Vinamilk vừa là điểm trung chuyển, phân
phối sản phẩm của Vinamilk tới các đại lý, hiệu tạp hóa nhỏ. Tuy nhiên, do mỗi
18
NPP lại đồng thời phân phối cho nhiều hãng khác nhau nên Vinamilk gặp khó khăn
khi muốn sử dụng kênh này cho việc phát triển thị trường, tiếp thị sản phẩm. Vì
vậy, việc kết nối qui trình tiếp thị và nhận đơn đặt hàng của Vinamilk với bộ phận
giao hàng của các NPP là một bài toán mà hơn ai hết, Vinamilk phải tự giải quyết.
Palm Z22 là thiết bị cầm tay mà Vinamilk trang bị đồng loạt cho các NPP có màn
hình cảm ứng đơn sắc (đen- trắng), giá khoảng 100 USD/chiếc. Với phần mềm bán
lẻ do công ty FPT Software phát triển, chiếc máy đã trở thành công cụ hữu ích dành
cho các NVBH. Nhiều lợi ích có thể thấy được từ việc ứng dụng PDA. Trước hết,
Z22 tiếp nhận các lộ trình bán hàng theo đúng kế hoạch các GSKD đề ra. Thứ hai,
Z22 thay thế cho hàng đống hồ sơ, giấy tờ liên quan tới từng đại lý mà trước đây
các GSKD vẫn phải mang theo. Thứ ba, Z22 hỗ trợ mạnh các chương trình khuyến

triển và ứng dụng khoa học vi chất và vi sinh bao gồm: Tập đoàn DSM - Thuỵ Sĩ;
Công ty Lonza - Thuỵ Sĩ và Tập đoàn Chr. Hansen - Đan Mạch.
Chương trình hợp tác với các tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu Châu Âu sẽ giúp
Vinamilk ứng dụng những thành tựu khoa học dinh dưỡng tiên tiến nhất để phát
triển sản phẩm sữa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của trẻ em Việt Nam.
Sự kiện hợp tác quốc tế này đánh dấu một tầm cao mới của Vinamilk trong nghiên
cứu khoa học dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam nói riêng và ngành sữa Việt Nam
nói chung. Đồng thời đây là cam kết mạnh mẽ của một thương hiệu sữa Việt đối
với người tiêu dùng Việt Nam trong việc mang lại giải pháp dinh dưỡng hiệu quả,
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
d. Phát triển vùng chăn nuôi bò sữa
Không ngừng cải thiện chất lượng, hạ giá thành để NTD thay đổi tâm lý… sính đồ
ngoại
Năm 2009 và những tháng đầu năm 2010 mặc dù kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng
nề của suy thoái, nhiều doanh nghiệp đã phá sản thế nhưng với Vinamilk thì ngược
lại. Năm 2009 doanh thu vượt 10.000 tỷ đồng và trong năm nay doanh thu dự kiến
sẽ vượt trên 15.000 tỷ đồng.
Theo bà Mai Kiều Liên, năm 2009 mặc dù không tăng giá bán sản phẩm nhưng Cty
vẫn đạt được tăng trưởng mạnh trong thời gian qua là nhờ tăng thị phần và qua đó
thúc đẩy việc gia tăng sản lượng tiêu thụ. Năm vừa qua sản lượng của Vinamilk
tăng tới 25%. Và chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2010 sản lượng Vinamilk tăng 55% so
cùng kỳ và doanh thu tăng 63%.
Bà Mai Kiều Liên cho hay: Đạt được điều này là nhờ chúng tôi áp dụng biện pháp
cải tổ kinh doanh, sắp xếp lại thị trường. Yếu tố quyết định cho thành công trong
năm 2009 của chúng tôi là chiến lược kinh doanh phủ đều và kiểm soát được điểm
bán lẻ. Trước đây, bộ phận kinh doanh của chúng tôi lấy doanh số của các điểm bán
20
sỉ, các nhà phân phối làm chỉ tiêu thì hiện tại chúng tôi chuyển sang áp dụng chỉ
tiêu ngay từ những điểm bán lẻ.
Kể từ khi áp dụng chiến lược phủ điểm bán lẻ, chúng tôi không còn bị lệ thuộc vào

21
Nhờ những nỗ lực vượt bậc của bản thân, sự sáng tạo không mệt mỏi và công tác
đoàn kết nội bộ tốt, dự báo tình hình thị trường chính xác bà Mai Kiều Liên đã biến
thách thức thành lợi thế để làm nên “kỳ tích” cho Vinamilk.
e. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đào tạo , bồi dưỡng, phát triển kỹ năng nguồn nhân lực trong tất cả các quy trình từ:
chăn nuôi, sản xuất, đến khâu tiêu thụ sảm phẩm.
3. Dự báo
Bảng thống kê tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Vinamilk:
Năm 2007 2008 2009 2010
Doanh thu
(Tỷ đồng)
6675 8380 10820 13081
Nhận thấy doanh thu hàng năm của Công ty tăng trưởng đều đặn, với lượng tăng
tuyệt đối xấp xỉ bằng nhau. Trên đồ thị minh họa, các điểm thể hiện doanh thu phân
bố trên một đường gần thẳng vì vậy ta sẽ sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để dự
báo cho doanh thu những năm tiếp theo
22
Thứ tự thời gian (Biến X) Doanh thu (Biến Y)
1 6675
2 8380
3 10820
4 13081
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng:
x
y
ˆ
= b
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status