Đề án môn học: Chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam ( Vinamilk) pot - Pdf 20



Đề án môn học
Chất lượng sản phẩm và khả
năng cạnh tranh của Công ty
Cổ phần Sữa Việt Nam (
Vinamilk) Đề án môn học

1

A. LỜI NÓI ĐẦU

Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ mức sống của
người dân ngày càng được nâng cao. Chính vì thế mà nhu cầu thị trường về
tiêu dùng tăng lên mạnh mẽ cả về lượng và yêu cầu về chất, đặc biệt là trong
lĩnh vực có liên quan đến sức khoẻ con người. Sản xuất kinh doanh sửa là

niệm , quan niệm, cách tiếp cận khác nhau.
ở đây, chúng ta tập trung nghiên cứu khái niệm chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm bao gồm hàng hóa và dịch vụ được hiểu là kết quả của một hoạt
động hoặc một quá trình. Chất lượng sản phẩm , là một phạm trù rộng, phản
ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật kinh tế và xã hội. Do vậy, hiện nay có rất
nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Mỗi khái niệm đề có
những cơ sở khoa học khác nhau đáp ứng các nhiệm vụ, mục tiêu thực tế.
Cũng như chất lượng nói chung, chất lượng sản phẩm cũng tùy vào mục tiêu
nhiệm vụ về chất lượng xuất phát từ nhà sản xuất, người tiêu dùng, từ sản
phẩm hay thị trường.
Theo quan niệm siêu việt. Chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất
của sản phẩm. Quan niệm này mang tính trừu tượng, định tính không thể đo
lường chính xác nên nó chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu.
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được
phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Quan niệm này đã
nghiên cứu chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản
Đề án môn học

3
phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không
được người tiêu dùng đánh giá cao.
Quan niệm xuất phát từ nhà sản xuất thì chất lượng là sự phù hợp của
một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu điểm, quy cách được xác
định trước. Quan niệm này cụ thể, tạo cơ sở thực tiễn cho việc đo lường, đánh
giá mức chất lượng từ đó điều chỉnh cách hiểu và việc thực hiện chúng cho
phù hợp. Tuy nhiên, quan niệm chỉ phản ánh sự chủ quan của nhà sản xuất.
Để đánh giá chất lượng người ta so sánh các tiêu chí thực tế với thiết kế,
trong thực tế có thể các tiêu chuẩn thiết kế không cần phù hợp, hoặc không
thực sự theo yêu cầu khách hàng. Điều này dẫn tới có những sản phẩm được
doanh nghiệp đánh giá là chất lượng cao nhưng khách hàng vẫn không hài

gia, doanh nhân tán thành vì nó phản ánh đúng nhu cầu đích thực của người
tiêu dùng, giúp doanh nghiệp thỏa mãn khách hàng tốt hơn, từ đó củng cố vị
thế và phát triển lâu dài trên thương trường.
Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng "trong các doanh nghiệp
được thống nhất, dễ dàng. Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO: International
Organiration for Standaration) đã định nghĩa: "chất lượng là mức độ thỏa mãn
của các thuộc tính đối với các yêu cầu". Yêu cầu gồm yêu cầu nêu ra và yêu
cầu tiềm ẩn của khách hàng. Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các
thuộc tính hiện tại khách quan của sản phẩm với việc đáp ứng nhu cầu chủ
quan của khách hàng. Do vậy nó có tính thực tế cao, tính tổng hợp, bao quát
cao và có thể áp dụng khả thi nếu nó được chấp nhận rộng rãi trong hoạt động
kinh doanh.
1.2. Các thuộc tính chất lượng sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều cấu thành với rất nhiều thuộc tính, có giá trị sử dụng
khác nhau đối với nhu cầu của khách hàng. Chất lượng các thuộc tính phản
ánh mức độ đạt được của chất lượng sản phẩm: các thuộc tính được thể hiện
thông qua các thông số kinh tế - kỹ thuật… Tuy nhiên chủng loại sản phẩm có
Đề án môn học

5
những yêu cầu khác nhau về thuộc tính chất lượng nhưng chúng ta có thể
quay về các thuộc tính chung phản ánh chất lượng sản phẩm bao gồm:
- Các thuộc tính kỹ thuật: phản ánh công dụng chức năng của sản phẩm
chúng được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và
đặc tính lý, hóa… của sản phẩm. Các yếu tố này được thiết kế theo những tổ
hợp khác nhau tạo ra chức năng đặc trưng cho hoạt động sản xuất và hiệu quả
của quá trình sử dụng sản phẩm. Ví dụ: Nếu sản phẩm là máy móc thiết bị
người ta quan tâm thành phần cấu tạo hợp kim làm ra nó, các đặc tính vật lý,
cơ học là chủ yếu, tuy nhiên đối với sản phẩm sữa thì yếu tố kỹ thuật là đặc
tính hóa sinh: thành phần dinh dưỡng….

xem là một trong 3 chất lượng cạnh tranh của doanh nghiệp. Và chất lượng
này ngày càng hết sức quan trọng và có ý nghĩa trong việc nâng cao năng lực
cạnh tranh khi mà môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Khách ngày càng
"khó tính" với chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua từ
đó tăng khối lượng tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận
Thứ ba, chất lượng sản phẩm tạo ra biểu tượng tốt, tạo niềm tin của
khách vào doanh nghiệp. Vì vậy, vị thế doanh nghiệp được nâng cao.
Thứ tư, trong nhiều trường hợp nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tăng
năng suất lao động, chất lượng được nâng cao, số sản phẩm sai hỏng sẽ giảm,
tỉ lệ thành phẩm tăng trong khi các yếu tố đầu vào được sử dụng hợp lý và tiết
kiệm hơn do vậy năng suất và hiệu quả cao hơn.
Đối với người tiêu dùng chất lượng sản phẩm có những vai trò và tác
dụng sau:
Thứ nhất, tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu, mong muốn hay tăng tính
hữu ích của sản phẩm đối với quá trình sử dụng của khách.
Thứ hai, giúp người tiêu dùng sử dụng tiết kiệm thời gian và sức lực
khi sản xuất sản phẩm do các doanh nghiệp cung cấp.
Thứ ba, hiệu quả tiêu dùng tăng hơn khi sản phẩm có chất lượng cao
lợi ích tiêu dùng sẽ tăng (U); chi phí cho mua sản phẩm có thể tăng (C)
Đề án môn học

7
nhưng chậm hơn từ đó lợi ích trên một đồng chi phí sẽ cao hơn, so với các sản
phẩm khác.
Đối với xã hội, chất lượng sản phẩm có các vai trò sau:
Trước tiên nếu hầu hết sản phẩm đều có chất lượng sẽ thỏa mãn tiêu
dùng xã hội cao hơn, từ đó làm tăng phúc lợi xã hội.
Thứ hai, các doanh nghiệp sẽ kinh doanh tốt hơn, từ đó tạo ra nguồn
của cải cho xã hội nhiều hơn.

thừa nhận; tạo môi tường thuận lợi cho việc nghiên cứu nhu cầu và thiết kế
sản phẩm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh từ đó buộc các doanh nghiệp
phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
- Văn hóa và xã hội.
Chúng ta đều biết chất lượng là mức độ thỏa mãn của tập hợp các thuộc
tính đối với các yêu cầu. Yêu cầu là cách mà khách đưa nhu cầu và mong
muốn của mình cho doanh nghiệp để doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của họ.
Nhưng những nhu cầu của khách được biểu hiện thông qua mong muốn phụ
thuộc rất lớn vào văn hóa và xã hội, phong tục tập quán… Do vậy việc đảm
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm chịu ảnh hởng không nhỏ của yếu tố
văn hóa xã hội.
2.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
- Lao động
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn kinh
nghiệm, ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác và trạng thái tâm lý làm việc
của công nhân viên. Do vậy lao động là một trong những yếu tố đặc biệt quan
trọng đối với chất lượng sản phẩm.
- Máy móc thiết bị và công nghệ hiện có
Các yếu tố đầu vào chỉ có thể biến đổi thành những sản phẩm đầu ra
khi có yếu tố máy móc thiết bị và sự điều khiển của con người. Trình độ hiện
đại của máy móc thiết bị càng cao thì chất lượng sản phẩm càng cao và ngược
lại máy móc thiết bị càng hiện đại, sản phẩm làm ra càng đa dạng về mẫu mã.
- Nguyên vật liệu
Đề án môn học

9
Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào trực tiếp cấu thành nên sản phẩm. Do
đó nó là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến những thuộc tính
chất lượng sản phẩm. Nguyên vật liệu có chất lượng bảo đảm và ổn định, hệ
thống cung ứng tốt là điều kiện quan trọng cho quá trình sản xuất ổn định và

trường, các chủ thể kinh tế luôn cạnh tranh với nhau vì lợi ích riêng của mình.
Ở đây "cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế
nhằm giành lợi thế tối đa cho mình". Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của nền kinh
tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh có những vai trò sau:
- Cạnh tranh tạo cơ chế điều chỉnh sản xuất xã hội và do đó phân bố các
nguồn lực kinh tế sao cho tối ưu mục đích cao nhất của các doanh nghiệp là
lợi nhuận cao, trong các ngành sẽ có sự dịch chuyển đầu tư từ ngành có tỷ
suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Do vậy mà nguồn lực
được điều tiết thay đổi.
- Cạnh tranh kích thích tiến bộ khoa học và công nghệ. Cạnh tranh gây
áp lực với các nhà sản xuất buộc họ phải áp dụng công nghệ mới nhằm tăng
năng suất chất lượng, giảm chi phí… để từ đó tăng nguồn lực cạnh tranh.
- Cạnh tranh góp phần tạo cơ sở cho sự phân bố thu nhập lần đầu. Nhà
sản xuất nào có năng suất, chất lượng hiệu quả cao sẽ có thu nhập cao, đồng
thời thông qua cạnh tranh nhu cầu người tiêu dùng được đáp ứng.
Đối với một doanh nghiệp cụ thể thì nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ có
những vai trò sau:
- Tăng quyền lực thị trường cho doanh nghiệp. Với tư cách là người
mua, doanh nghiệp gây áp lực với các nhà cung ứng điều đó có thể dẫn tới
doanh nghiệp mua với mức giá thấp nguồn nguyên vật liệu ổn định, chất
lượng… và nhà cung ứng trung thành. Với tư cách là người bán doanh nghiệp
có quyền lực có tính độc quyền của người bán có thể bán với giá và sản lượng
cao hơn ĐTCT từ đó tăng lợi nhuận… .
- Tăng uy thế của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác trong
ngành đặc biệt là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Với năng lực cạnh tranh
cao, doanh nghiệp hoặc sẽ chiến thắng trong cạnh tranh hoặc sẽ được các đối
thủ nhường chỗ những phần thị trường nhất định do sự uy thế doanh nghiệp.
Đề án môn học

11

Đề án môn học

12

điều kiện lợi thế, điểm mạnh mà doanh nghiệp có và dùng nó để gây áp lực
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác (đối thủ cạnh tranh).
3.3. Chất lượng sản phẩm lao động là một vũ khí cạnh tranh độc đáo
Sản phẩm có chất lượng cao được xem như thỏa mãn cao mười thuộc
tính của nó. Và như thế độ bền chức năng công dụng, tính hiệu quả khi sử
dụng… của sản phẩm luôn ở mức cao làm hài lòng khách hàng và vượt trội so
với đối thủ cạnh tranh. Mặt khác kiểu mẫu đa dạng và luôn độc đáo của sản
phẩm càng làm tăng sự hấp dẫn khách hàng. Tất cả các yếu tố đó làm cho sản
phẩm của doanh nghiệp có sự khác biệt hóa với sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh. Đây là một trong ba loại vũ khí cạnh tranh chiến lược mà M.B.Porter
phân tích sâu sắc trong cuốn Chiến lược cạnh tranh nổi tiếng của ông. Ba
chiến lược cạnh tranh của Porter là: Dẫn dắt bởi chi phí; khác biệt hóa sản
phẩm; và trọng tâm hóa. Ngày nay khi mà thu nhập của người dân được nâng
cao yêu cầu và chất lượng ngày càng cao dần đặc biệt là các sản phẩm thực
phẩm, dược phẩm thì hai chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và trọng tâm hoá
trở nên rất quan trọng Vinamilk là một doanh nghiệp thủ lĩnh trong ngành
sữa. Việc vận dụng và khai thác có hiệu quả chiến lược khác biệt hóa là vấn
đề quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.
II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH
1. Tổng quan về Vinamilk
1.1. Giới thiệu chung về Công ty
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập trên cơ sở quyết định số
155/2003 QĐ - BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công
nghiệp về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công

1.2. Lịch sử hình thành
Năm 1976, Công ty sữa - cà phê Miền Nam được thành lập, trực thuộc
Tổng cục Thực phẩm, và bao gồm 4 nhà máy chế biến thực phẩm:
- Nhà máy sữa Thống Nhất;
- Nhà máy Sữa Trường Thọ;
- Nhà máy sữa Dielac;
Đề án môn học

14

- Nhà máy Cà phê Biên Hòa
Năm 1982 Công ty Sữa - Cà phê Miền Nam được chuyển giao về Bộ
Công nghiệp Thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp liên hiệp Sữa - Cà phê -
Bánh kẹo I. Lúc này có thêm 2 nhà máy trực thuộc
- Nhà máy bánh kẹo Lubico
- Nhà máy Bột dinh dưỡng Bích Chi (Đồng Tháp).
Năm 1989 xí nghiệp liên hiệp Sữa - Cà phê - Bánh kẹo I chỉ còn 3 nhà
máy trực thuộc:
- Nhà máy sữa Thống Nhất;
- Nhà máy Sữa Trường Thọ;
- Nhà máy sữa Dielac;
Tháng 3/1992 xí nghiệp liên hiệp sữa - cà phê - bánh kẹo I chính thức
đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam trực thuộc Bộ Công nghiệp Nhẹ, chuyên
sản xuất chế biến sữa và sản phẩm từ sữa.
Năm 1994, công ty Sữa Việt Nam đã xây dựng thêm một nhà máy sữa
ở Hà Nội để phát triển thị trường tại miền Bắc, nâng tổng số nhà máy trực
thuộc lên 4 nhà máy.
Năm 1996, xí nghiệp Liên doanh sữa Bình Định ra đời góp phần thuận
lợi đưa sản phẩm Vinamilk phục vụ rộng khắp đến người tiêu dùng khu vực
miền Trung.

chính sách giá cả, đề xuất các biện pháp về chiến lược sản phẩm.
- Phòng Marketing: Hoạch định chiến lược xây dựng thương hiệu, nhãn
hiệu cho các sản phẩm và nhóm sản phẩm, xây dựng chiến lược về giá cả, sản
phẩm, phân phối, khuyến mại… xây dựng và thực hiện các hoạt động
marketing hỗ trợ nhằm phát triển thương hiệu; phân tích và xác định nhu cầu
thị trường để cải tiến và phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị
trường.
- Phòng nhân sự: Quản lý các hoạt động hành chính và nhân sự của
toàn công ty. Thiết lập và đề ra các kế hoạch và chiến lược để phát triển
nguồn nhân lực; tư vấn cho ban giám đốc các hoạt động hành chính nhân sự.
Làm việc chặt chẽ với bộ phận hành chính và nhân sự của các chi nhánh, nhà
máy nhằm hỗ trợ cho các vấn đề hành chính và nhân sự tốt nhất. Xây dựng
Đề án môn học

16

nội quy, chính sách về hành chính và nhân sự. Tổ chức, giám sát thực hiện và
tư vấn về các vấn đề liên quan đến nhân sự.
- Phòng tài chính kế toán: Quản lý toàn bộ hoạt động tài chính và kế
toán; tư vấn cho Ban Tổng giám đốc về chiến lược tài chính; lập báo cáo tài
chính; lập dự toán ngân sách, phân bổ, kiểm soát ngân sách; quản lý và sử
dụng vốn.
- Phòng dự án: Lập, thẩm định, quản trị dự án. Xây dựng ban hành
giám sát định mức kinh tế - kỹ thuật. Quản lý các vấn đề về kỹ thuật.
- Phòng cung ứng điều vận xây dựng chiến lược, chính sách, quy trình
cung ứng và điều vận. Thực hiện mua sắm, cung cấp quản lý vật tư; công tác
xuất nhập khẩu
- Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và phát triển
- Phòng khám đa khoa
Đề án môn học

Thố
ng
Nhất

NM
sữa
Trườ
ng
Thọ
NM
sữa
Sài
Gòn

NM
sữa
Hà Nộ
i
NM
sữa
Dielac
NM
sữa
Cần
Thơ

NM
sữa
Nghệ
An

nhân sự

Ph
ò
ng

dự án

Phòng

cung
ứng
Đ
V

Ph
ò
ng

R & D
Ph
ò
ng

Mar
Ph
ò
ng

khám

- Thiết bị kỹ thuật nguyên vật liệu với vấn đề chất lượng
+ Công ty luôn chú trọng đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ ở tất cả các
khâu: nguyên liệu, chế biến, thành phẩm bảo quản và vận chuyển…
+ Các thiết bị cũ, lạc hậu đã được thay thế bằng thiết bị tiên tiến, hiện
đại như thiết bị sản xuất sữa LIHT, sữa đặc, sữa chua…
Đề án môn học

19

+ Trong quá trình đầu tư, công ty luôn hướng tới tính hiện đại, đồng
bộ…
+ Công ty coi trọng yếu tố chuyển giao công nghệ và coi đó là bí quyết
của sự thành công.
- Công ty luôn đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng cao được khách hàng
tin cậy. Đứng đầu Topten hàng Việt Nam chất lượng cao 9 năm liền 1997 -
2005 (Báo Sài gòn tiếp thị). Topten hàng Việt Nam yêu thích nhất (báo Đại
Đoàn kết). Hiện nay công ty đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001 : 2000 và HACCP. Điều này đảm bảo rằng công ty luôn đề cao chất
lượng quản lý, quy trình bởi một hệ thống quản lý tốt quy trình tốt sẽ sản xuất
ra những sản phẩm chất lượng cao, sẵn sàng thỏa mãn mọi nhu cầu của khách
hàng trong và ngoài nước và giữ vị trí dẫn đầu trong ngành công nghiệp chế
biến sữa tại Việt Nam.
Nguồn nhân lực về quản lý chất lượng và quy trình đảm bảo chịu trách
nhiệm quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất gồm: phòng quản lý chất
lượng tại công ty; các phòng kiểm tra chất lượng tại các nhà máy, phòng quản
lý chất lượng có trách nhiệm đề ra các yêu cầu kỹ thuật của nguyên vật liệu và
thành phẩm; công bố chất lượng các loại sản phẩm theo luật định; quản lý và
theo dõi hồ sơ về chất lượng; tư vấn cho ban lãnh đạo về chiến lược mục tiêu
và chính sách chất lượng… . Tóm lại đây là bộ phận phận quản lý chức năng
về chất lượng ở cấp công ty.

+ Nhóm sữa đặc: Được sản xuất dựa trên nhu cầu bổ sung dinh dưỡng
của con người. Hàm lượng protein cao, lượng đường cần cung cấp nhiều năng
lượng đảm bảo nhiều dinh dưỡng cho con người. Ngoài ra còn chứa nhiều
chất vi lượng cần thiết và quý giá khác: Canxi, sắt, đồng, kẽm… giúp xương
chắc khỏe, cơ thể dẻo Đài THVN, phát triển trí nhớ và theo nhiều nhà nghiên
cứu uống sữa còn giúp tăng tuổi thọ con người.
+ Nhóm sữa tươi, sữa chua: khách hàng chủ yếu của nhóm này là thanh
thiếu niên đặc biệt là nữ giới. Ngoài cung cấp nhiều năng lượng và dinh
dưỡng cơ bản cần thiết. Các sản phẩm sữa này còn cung cấp nhiều vitamin và
khoáng chất giúp cân bằng cuộc sống, sảng khoái năng động và một nước da
mịn màng tươi tỉnh… .
Đề án môn học

21

+ Nhóm sữa bột dinh dưỡng: người trực tiếp tiêu dùng các sản phẩm
này là trẻ nhỏ. Do vậy thành phần dinh dưỡng được sản xuất dựa trên sữa mẹ
là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển trí tuệ và thể trạng của trẻ. Đặc
biệt quan trọng và cần thiết là những bà mẹ yếu, thiếu sữa nuôi con thì đây là
nguồn dinh dưỡng không thể thiếu mà Vinamilk mang lại cho các bà mẹ và
trẻ nhỏ.
+ Nhóm nước giải khát được pha chế độc đáo thêm mát, nhiều vitamin,
khoáng chất và bổ sung nhiều năng lượng cung cấp nhu cầu nước và các chất
dinh dưỡng tốt cho cơ thể mọi người.
+ Thực phẩm: các loại bánh quy dinh dưỡng thơm ngon
+ Cà phê: thỏa mãn các nhu cầu của giới trẻ với mùi vị độc đáo.
- Về tính thẩm mỹ: Các loại sản phẩm của Vinamilk luôn được bao gói
cẩn thận, hình khối màu sắc kết hợp hài hòa thích hợp với từng đối tượng
khách hàng.
- Tuổi thọ của sản phẩm: hạn sử dụng của các sản phẩm thường lâu dài

chúng ta thấy rất "kinh tế".
- Tính vô hình: Với thương hiệu nổi tiếng, hình ảnh về công ty và sản
phẩm của Vinamilk luôn được người tiêu dùng yêu thích và có thiện cảm.
3. Đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty phụ thuộc rất lớn vào
chất lượng sản phẩm
Như đã phân tích, chất lượng sản phẩm làm thỏa mãn tốt hơn các yêu
cầu và mong đợi của khách hàng điều này tạo ra một lợi thế cạnh tranh hay
một vũ khí cạnh tranh độc đáo cho doanh nghiệp. Ngoài chất lượng sản phẩm
là yếu tố đã được phân tích kỹ thì khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp
nói chung phụ thuộc vào hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm
nhân tố nội bộ. Bây giờ ta sẽ phân tích cụ thể đối với Vinamilk.
3.1. Các nhân tố bên ngoài công ty
- Các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế đang phát
triển mạnh và bền vững, thu thập của người dân được nâng cao thì việc chi
tiêu cho thực phẩm và các sản phẩm bồi dưỡng sức khỏe ngày càng tăng. Do
Đề án môn học

23

vậy thị trường sữa nói riêng và thực phẩm nói chung có xu hướng phát triển
và ngày càng hấp dẫn.
- Tiến bộ khoa học công nghệ: khoa học công nghệ nói chung và công
nghệ sinh học nói riêng đang phát triển mạnh đây là một điều kiện thuận lợi
để Vinamilk đổi mới công nghệ sản xuất nâng cao năng suất, đồng thời
nghiên cứu, tạo ra nhiều sản phẩm mới độc đáo.
- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước đang hoàn thiện hệ
thống luật pháp và chính sách thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh. Riêng ngành
chế biến lương thực thực phẩm Nhà nước đang khuyến khích và tạo nhiều
thuận lợi phát triển

Năm 2004: LN/TS = 0,17; LN/VCSH = 0,13
Năm 2005: LN/TS = 0,18; LN/VCSH = 18
Năm 2006: LN/TS = 0,19; LN/VCSH = 32
Và xu hướng tiếp tục tăng cường kích thích đầu tư phát triển
- Năng suất lao động: Vinamilk luôn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tốt
trang thiết bị hiện đại phát triển nguồn nhân lực vì vậy mà năng suất lao động
không ngừng nâng cao.
- Lợi thế chi phí và khả năng hạ thấp chi phí
Là doanh nghiệp thủ lĩnh với 75% thị phần sữa của cả nước, Vinamilk
có quy mô sản xuất rất lớn vì vậy mà có cơ hội hạ thấp chi phí nhờ hiệu quả
theo quy mô; đồng thời với hơn 30 năm xây dựng trưởng thành Vinamilk còn
có lợi thế chi phí nhờ hiệu ứng đường cong kinh nghiệm đó là việc kỹ năng,
kinh nghiệm của đội ngũ lao động không ngừng được nâng cao cùng với sự
tăng lên của tổng sản phẩm được tích lũy. Ngoài ra việc đa dạng hóa sản
phẩm đồng tâm còn giúp Vinamilk tận dụng các nguồn lực dư thừa và điều
này cũng góp phần hạ thấp chi phí sản xuất.
- Vị thế của công ty
Trong những năm qua, mặc dù áp lực cạnh tranh, với các nhãn hiệu
trong và ngoài nước ngày càng tăng song bằng nỗ lực của mình Vinamilk đã
duy trì và cũng có được vai trò chủ đạo của mình ở thị trường trong nước và
cạnh tranh có hiệu quả với các doanh nghiệp nước ngoài, doanh thu nội địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status