Nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn - Pdf 11

Chơng II
Thực trạng cạnh tranh của hàng nông sản
Việt Nam trên thị trờng
1. Tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt Nam.
Việt Nam với đặc trng là một nớc nông nghiệp, điều kiện khí hậu, thổ
nhỡng đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng nông sản phát
triển. Một số mặt hàng nông sản đã là thế mạnh của Việt Nam trong thời gian
qua nh: cà phê, cao su, hạt điều...
Thứ nhất, mặt hàng cà phê đợc phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam trên
nhiều tỉnh trung du, cao nguyên và miền núi. Trớc kia cà phê đợc trồng gồm
3 loại: cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Exceta).
Nay chỉ còn cà phê chè và cà phê vối đợc trồng ở những vùng sinh thái khác
nhau. Do chú trọng đầu t thâm canh nên cà phê Việt Nam đã cho năng suất
và sản lợng cao. Liên tục nhiều năm năng suất tăng rõ rệt từ 600-700kg nhân/
ha, nay đạt bình quân 1,4 tấn nhân/ha, cá biệt có nơi từ 4-4,5 tấn nhân/ha.
World bank đánh giá năm 1996 năng suất cà phê vối (Robusta) của Việt
Nam 1,48 tấn/ha xếp thứ nhì thế giới, sau Contatica (1,5 tấn/ha), xếp trên
Thái Lan (0,99 tấn/ha).Cùng với năng suất, diện tích và sản lợng cà phê của
Việt Nam cũng đang tăng ở mức rất cao, có xu hớng tiếp tục tăng và đến năm
1999 - 2000 vẫn ở vị trí thứ 2 sau Brazil.
Thứ hai, mặt hàng hạt điều.
Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu thì hạt điều chiếm một vị trí
quan trọng, kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 100 triệu USD, xếp thứ ba
trên thế giới về sản lợng và đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu. Kế hoạch của
ngành điều đến năm 2005 là nâng sản lợng điều thô lên 230 nghìn tấn, xuất
khẩu 45.000 tấn hạt điều nhân, kim ngạch 220 triệu USD năm.
1
Trong một thời gian dài, nghề hạt điều phát triển một cách tự phát, lại
không đợc quy hoạch. Sản lợng điều thu hoạch niên vụ 1998 vào khoảng
100.000 tấn, niênvụ 1999 chỉ còn 70.000 tấn đáp ứng cha đợc 30% nhu cầu
của các nhà máy chế biến. Vụ điều năm 2000 sản lợng đã lên đến 160.000

cạnh tranh trên thị trờng.
2. Thực trạng công nghệ chế biến nông sản ở Việt Nam.
Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với các quốc gia khác,
hàng nông sản của ta có mặt hầu hết trên tất cả các thị trờng của thế giới
nhng lợng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản vẫn còn rất khiêm tốn do giá
xuất khẩu các mặt hàng nông sản nh gạo, cà phê, cao su, hạt điều...đều bán
thấp hơn giá thế giới từ 20 - 40USD, thậm chí còn thấp hơn. Công nghệ và
các cơ sở chế biến nông sản của Việt Nam trong thời gian dài ít đợc quan
tâm đầy đủ, một phần do khó khăn về nguồn vốn đầu t nên trình độ công
nghệ thấp và chậm đợc đổi mới, tổn thất sau thu hoạch còn rất lớn. Cơ sở
chế biến hàng nông sản xuất khẩu còn ít nh ngành cà phê mới chỉ có
khoảng 20 cơ sở hcế biến công nghiệp hoàn chỉnh, chủ yếu là sơ chế đảm
bảo chiếm khoảng 30% sản lợng cà phê/năm. Mặt hàng hạt điều tuy đã phát
triển nhanh và chuyển từ xuất khẩu điều thô sang xuất khẩu nhân hạt điều
nhng mức độ cơ giới hóa trong quy hoạch quy trình công nghệ chế biến
điều còn thấp, các nhà máy mới chỉ thu đựoc sản phẩm chính để xuất khẩu
là nhân điều, cha áp dụng đợc quy trình "chế biến không phế liệu" để thu
hoạch các sản phẩm chính và các sản phẩm phụ, nên đã đạt hiệu quả kinh tế
thấp. Vì vậy các nhà máy chế biến cha thể nâng cao đợc giá thu mua các
mặt hàng nông sản thô từ nông dân, một yếu tố để kích thích nông dân tích
cực gieo trồng hàng nông sản.
Đa số công nghệ của ta còn giản đơn, thô sơ, lạc hậu, mang nặng tính
kinh nghiệm, thậm chí những điều kiện tối thiểu sân phơi, máy sấy, kho bảo
quản cũng không đủ. Do đó vấn đề cần giải quyết là nhà nớc cần phải có kế
3
hoạch cân đối lại giữa công suất chế biến và nguồn nguyên liệu, mở rọng
hoạt động điều phối giữa các xí nghiệp chế biến hàng nông sản thông qua
Hội nông dân Việt Nam.
3. Tình hình tiêu thụ hàng nông sản trong thị trờng nội địa.
Hàng nông sản là sản phẩm thiết yếu của mọi ngời dân nh gạo, chè, cà

Sản lợng xuất khẩu (1000 tấn) Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
Gạo Cà phê Cao su Chè Gạo Cà phê Cao su Chè
1 1990 1624 89,6 75,9 10,8 305 76,16 75,3 12,96
2 1991 1033 93,8 62,9 10,5 235 74 50 14
3 1992 1940 116,2 81,9 1,3 418 92 66,9 16
4 1993 1722 122,6 96,7 20,6 362 110,6 74,7 26
5 1994 1983 177 135,5 21,2 424 328,2 135,4 26,5
6 1995 2058 248,1 138,1 18,8 530 595,5 193,5 26,5
7 1996 3047 281,4 194,5 21 868 420 163,3 29
8 1997 3682 391,6 192 32,3 801 497,5 194,6 48
9 1998 3800 382 197 33,2 1100 593,8 127,5 50,5
10 1999 4500 487,5 265 37 1080 592 145 46
11 2000 3500 694 280 44,7 840 842,76 153,2 56
Nguồn: Tạp chí Kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 - 2001.
Qua những số liệu trong bảng trên cho thấy các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam đều tăng do đó kéo theo nguồn thu ngoại tệ cũng
tăng lên góp phần làm tăng cán cân thơng mại và nguồn ngoại tệ của quốc
gia, số liệu trên cũng cho thấy mặt hàng gạo và cà phê là có mức chênh lệch
nhất trong 4 mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Sau đây ta đi phân tích cụ thể mặt hàng cà phê - là mặt hàng có nguồn
thu ngoại tệ lớn nhất so với các mặt hàng nông sản khác:
Có thể nói cà phê là thức uống mà đợc nhiều ngời a thích, là mặt hàng
xuất khẩu ở nhiều thị trờng và đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.
Phân chia xuất khẩu theo thị trờng.
Trớc kia thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là các nớc
thuộc khu vực I. Liên Xô là thị trờng chính, khối lợng xuất của Việt Nam
sang thị trờng này là 55 - 56%. Từ cuối năm 1985 trở đi Việt Nam bắt đầu
xuất sang các nớc thuộc khu vực II. Thời kỳ này, Việt Nam cha gia nhập
Hiệp hội cà phê Quốc tế (ICO) nên việc xuất khẩu chỉ là xuất thử hoặc xuất
5

Lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đợc thể hiện qua bảng dới
đây.
6
Bảng 3. Lợng xuất khẩu cà phê Việt Nam
Niên vụ
Sản lợng cà phê
thu hoạch (tấn)
Lợng cà phê xuất
khẩu (tấn)
Tỷ lệ xuất khẩu
(%)
1990 - 1991 82.500 67.774 82,15
1991 - 1992 131.400 79.070 60,18
1992 - 1993 145.200 130.529 89,90
1993 - 1994 179.000 169.190 92,28
1994 - 1995 212.450 192.088 90,42
1995 - 1996 235.000 220.755 93,94
1996 - 1997 362.000 324.318 89,58
1997 - 1998 400.000 390.279 97,56
1998 - 1999 420.000 396.893 94,45
1999 - 2000 600.000 546.000 90,83
2000 - 2001 (ớc) 750.000 683.400 91,12
Nguồn: Tạp chí Phát triển kinh tế số 125 thán 3/2001.
Qua bảng số liệu trên cho thấy mời năm trở lại đây lợng cà phê xuất
khẩu tăng nhiều và có xu hớng tiếp tục tăng từ 67,774 tấn (niên vụ 1990 -
1991) lên 545.000 tấn (niên vụ 1999 - 2000) tăng lên 8 lần. Hàng năm tỷ lệ
xuất khẩu so với sản lợng khá ổn định và giữ ở mức cao, đa số từ 90% trở lên.
Con số này đã phản ánh chủ trơng đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt
Nam.
Theo giá cả.

Hạt điều 17 101,3 5.958,824 30 165 5.500
Nguồn: Tạp chí Thơng nghiệp và thị trờng Việt Nam số 7/2000.
Qua bảng số liệu trên cho thấy qua 2 năm 1999 và 2000 thì giá bình
quân của nông sản nhìn chung là tăng, nhng tình hình thị trờng thế giới diễn
biến không thuận lợi về giá cả, các doanh nghiệp cũng gặp phải khó khăn nh-
ng có thể nói rằng kết quả đạt đợc nh trên là sự cố gắng trong công tác chỉ
đạo, điều hành sản xuất rất linh hoạt. Tình hình xuất khẩu vừa qua cũng cho
thấy kim ngạch xuất khẩu sẽ cao hơn nếu khâu chất lợng xuất khẩu của hàng
hóa cao hơn.
5. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian qua.
Về giá cả
Tăng trởng bình quân xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt 21%/năm
trong suốt 10 năm qua, gạo, cà phê, cao su, chè là 4 mặt hàng chủ lực, năm
1999 đạt 1,8 tỷ USD chiếm 16,63% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
Sự ảnh hởng của chất lợng giá cả nông sản nên lợng xuất khẩu của Việt
Nam thờng có giá thấp hơn một số nớc trên thế giới, có thể nói đây cũng là
một lợi thế của nông sản Việt Nam nhng cũng là bất lợi cho ngời sản xuất vì
giá thành sản xuất ra một đơn vị nông sản còn rất cao, có khi giá bán lại
không bù đắp đợc chi phí sản xuất nên gây thiệt hại lớn cho ngời sản xuất.
Trong thời gian qua, thực tế thì có một số diện tích trồng cây nông sản đã bị
phá bỏ nh: cà phê, cao su để trồng loại cây khác có lợi ích kinh tế hơn.
8
Vấn đề hiện nay là cần phải có những biện pháp lâu dài và trớc mắt để
giảm giá thành sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Về chất lợng.
Có thể nói chất lợng nông sản xuất khẩu đợc cải thiện đáng kể ở hầu hết
các mặt hàng.
Chẳng hạn tỷ lệ gạo chất lợng cao (5-10% tấn) đã tăng từ 1% năm 1989
lên 85% năm 2000, tỷ lệ gạo chất lợng, thấp chỉ còn 22%. Tuy nhiên, đó chỉ

khẩu nông sản của Việt Nam đang thiếu. Có thể thấy rằng bộ phận tham tán
thơng mại của Việt Nam ở nớc ngoài đã không thực hiện tốt việc thu thập và
cung cấp thông tin về thị trờng cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy, nguồn
tin hạn hẹp duy nhất về thị trờng thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có
đợc là nhờ mua của các hãng nớc ngoài. Chính từ nguồn tin này và một số
nguồn tin hạn chế khác, kết hợp với kinh nghiệm và cảm tình kinh doanh của
doanh nghiệp để quyết định nh vậy. Việc mở các văn phòng đại diện ở nớc
ngoài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do chi phí cao. Chính vì vậy công việc thu
thập thông tin nghiên cứu thị trờng của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản
Việt Nam vẫn đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn, dẫn đến khả năng
cạnh tranh hàng nông sản của Việt Nam còn thấp. Vấn đề là phải nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản củng cố và phát triển các mối quan
hệ kinh doanh, tìm kiếm thị trờng, đối tác, khách hàng mới và khuyếch trơng
nhãn hiệu riêng cho sản phẩm nông sản Việt Nam.
Sự hỗ trợ của Chính phủ:
Trong những năm qua, trớc tình hình giá cả nông sản có những biến
động liên tục, gây bất lợi cho cả ngời sản xuất và các đơn vị hoạt động xuất
khẩu, để tháo gỡ khó khăn cho ngời sản xuất và nhà xuất khẩu thì Chính phủ
cũng đã nhiều lần hỗ trợ vốn và lãi suất để dự trữ nhằm giảm áp lực bán ra để
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status