Chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam ( Vinamilk). - Pdf 31

Công ty cổ phần sữa
Việt Nam
Văn phòng Công ty Cần ThơĐà Nẵng Chi nhánh Hà Nội
NM
sữa
Dielac
Xí nghiệp kho vận
NM
sữa
Sài Gòn
NM
sữa
Bình Định
NM
sữa
Nghệ An
NM
sữa
Trường Thọ
NM
sữa
Cần Thơ
NM
sữa
Hà Nội
NM
sữa
Thống Nhất
Tổng giám đốcBan kiểm soát
Phòng
khám đa khoa

Đây là một chủ đề vừa rất cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của Công
ty Vinamilk vừa bức thiết đối với cuộc sống của người tiêu dùng trong và
ngoài nước. Đối với Vinamilk, nâng cao chất lượng sản phẩm là điều kiện
tiên quyết để duy trì và củng cố vị thế ở trong nước, xâm nhập và phát triển
thị trường ở nước ngoài khi mà thị trường trên thế giới cạnh tranh ngày càng
gay gắt.
1
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1. Chất lượng và vai trò của chất lượng sản phẩm
1.1. Quan niệm về chất lượng và chất lượng sản phẩm
Chất lượng là một khái niệm rất rộng và phức tạp nó thể hiện mức độ
ưu việt của những sự vật, hiện tượng mà chúng ta xem xét nghiên cứu. Là
khái niệm rất rộng nên nó được sử dụng rất thông dụng trong cuộc sống hàng
ngày từ những vấn đề vi mô như: chất lượng sản phẩm, sản xuất kinh doanh,
chất lượng quá trình sản xuất… đến những vấn đề vĩ mô: chất lượng cuộc
sống của xã hội, chất lượng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ những vấn đề
cụ thể đến những vấn đề trừu tượng. Thuật ngữ chất lượng được nhắc đến
xuất hiện với tần suất khá cao. Do phạm trù của nó quá rộng nên trong mỗi
lĩnh vực, phạm vi, góc độ nghiên cứu… khác nhau người ta đưa ra những khái
niệm , quan niệm, cách tiếp cận khác nhau.
ở đây, chúng ta tập trung nghiên cứu khái niệm chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm bao gồm hàng hóa và dịch vụ được hiểu là kết quả của một hoạt
động hoặc một quá trình. Chất lượng sản phẩm , là một phạm trù rộng, phản
ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật kinh tế và xã hội. Do vậy, hiện nay có rất
nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Mỗi khái niệm đề có
những cơ sở khoa học khác nhau đáp ứng các nhiệm vụ, mục tiêu thực tế.
Cũng như chất lượng nói chung, chất lượng sản phẩm cũng tùy vào mục tiêu
nhiệm vụ về chất lượng xuất phát từ nhà sản xuất, người tiêu dùng, từ sản
phẩm hay thị trường.

sự phù hợp với mục đích sử dụng, nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng.
Trong cuốn "chất lượng là thứ cho không" Crosby định nghĩa: "chất lượng là
sự phù hợp với các yêu cầu". Yêu cầu ở đây vừa là yêu cầu của người tiêu
dùng vừa là yêu cầu của nhà sản xuất.
Theo Deming thì: "chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng"…
3
Xuất phát từ giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng được đo bằng tỉ
số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra đó có lợi ích
đó:
Chất lượng = Lợi ích/chi phí
Nếu tỉ số này nhỏ hơn 1 được xem là không đạt chất lượng và nếu lớn
hơn 1 là đạt chất lượng tuy nhiên tỷ số này càng lớn thì chất lượng càng cao.
Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm, chất lượng là một vũ khí
mang lại sự khác biệt độc đáo của sản phẩm doanh nghiệp so với các đối thủ
cạnh tranh từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Những quan niệm hướng theo thị trường này được đa số các chuyên
gia, doanh nhân tán thành vì nó phản ánh đúng nhu cầu đích thực của người
tiêu dùng, giúp doanh nghiệp thỏa mãn khách hàng tốt hơn, từ đó củng cố vị
thế và phát triển lâu dài trên thương trường.
Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng "trong các doanh nghiệp
được thống nhất, dễ dàng. Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO: International
Organiration for Standaration) đã định nghĩa: "chất lượng là mức độ thỏa mãn
của các thuộc tính đối với các yêu cầu". Yêu cầu gồm yêu cầu nêu ra và yêu
cầu tiềm ẩn của khách hàng. Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các
thuộc tính hiện tại khách quan của sản phẩm với việc đáp ứng nhu cầu chủ
quan của khách hàng. Do vậy nó có tính thực tế cao, tính tổng hợp, bao quát
cao và có thể áp dụng khả thi nếu nó được chấp nhận rộng rãi trong hoạt động
kinh doanh.
1.2. Các thuộc tính chất lượng sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều cấu thành với rất nhiều thuộc tính, có giá trị sử dụng

chuyển - bảo quản,dễ sử dụng của sản phẩm và tính hấp dẫn.
- Tính kinh tế của sản phẩm. Đây là yếu tố quan trọng đối với những
sản phẩm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng.
5
- Các thuộc tính vô hình: hình ảnh,nhãn mác sản phẩm , vị thế của
doanh nghiệp trên thị trường…
1.3.Vai trò của chất lượng sản phẩm
Đối với nhà sản xuất, chất lượng sản phẩm và việc nâng cao chất lượng
sản phẩm có những vai trò, tác dụng sau:
Thứ nhất, chất lượng sản phẩm tạo nên sự khác biệt hóa, độc đáo và
thỏa mãn tốt khách hàng từ đó làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm để tạo sự khác biệt hóa được
Michael E.Porter (giáo sư Trường Kinh doanh Harvard, Đại học Harvard)
xem là một trong 3 chất lượng cạnh tranh của doanh nghiệp. Và chất lượng
này ngày càng hết sức quan trọng và có ý nghĩa trong việc nâng cao năng lực
cạnh tranh khi mà môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Khách ngày càng
"khó tính" với chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua từ
đó tăng khối lượng tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận
Thứ ba, chất lượng sản phẩm tạo ra biểu tượng tốt, tạo niềm tin của
khách vào doanh nghiệp. Vì vậy, vị thế doanh nghiệp được nâng cao.
Thứ tư, trong nhiều trường hợp nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tăng
năng suất lao động, chất lượng được nâng cao, số sản phẩm sai hỏng sẽ giảm,
tỉ lệ thành phẩm tăng trong khi các yếu tố đầu vào được sử dụng hợp lý và tiết
kiệm hơn do vậy năng suất và hiệu quả cao hơn.
Đối với người tiêu dùng chất lượng sản phẩm có những vai trò và tác
dụng sau:
Thứ nhất, tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu, mong muốn hay tăng tính
hữu ích của sản phẩm đối với quá trình sử dụng của khách.
Thứ hai, giúp người tiêu dùng sử dụng tiết kiệm thời gian và sức lực

không thể vượt quá giới hạn khả năng tiến bộ khoa học và công nghệ. Chất
lượng sản phẩm trước tiên thể hiện những đặc trưng về trình độ kỹ thuật tạo
ra sản phẩm đó. Tiến bộ công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm. Tác động của khoa học công nghệ là không có giới hạn
7
nhờ đó mà sản phẩm sản xuất ra luôn có các đặc tính chất lượng với chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, mức thỏa mãn tiêu dùng tốt ơn.
- Cơ chế chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước, chính sách và pháp
luật của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Nó được
thể hiện thông qua hệ thống tiêu chuẩn quốc gia mà Nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận; tạo môi tường thuận lợi cho việc nghiên cứu nhu cầu và thiết kế
sản phẩm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh từ đó buộc các doanh nghiệp
phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
- Văn hóa và xã hội.
Chúng ta đều biết chất lượng là mức độ thỏa mãn của tập hợp các thuộc
tính đối với các yêu cầu. Yêu cầu là cách mà khách đưa nhu cầu và mong
muốn của mình cho doanh nghiệp để doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của họ.
Nhưng những nhu cầu của khách được biểu hiện thông qua mong muốn phụ
thuộc rất lớn vào văn hóa và xã hội, phong tục tập quán… Do vậy việc đảm
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm chịu ảnh hởng không nhỏ của yếu tố
văn hóa xã hội.
2.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
- Lao động
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn kinh
nghiệm, ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác và trạng thái tâm lý làm việc
của công nhân viên. Do vậy lao động là một trong những yếu tố đặc biệt quan
trọng đối với chất lượng sản phẩm.
- Máy móc thiết bị và công nghệ hiện có
Các yếu tố đầu vào chỉ có thể biến đổi thành những sản phẩm đầu ra
khi có yếu tố máy móc thiết bị và sự điều khiển của con người. Trình độ hiện

chọn lọc và quá trình chọn lọc dẫn đến sự tiến hóa các loài sinh vật.
Trong lịch sử xã hội loài người các bộ lạc, quốc gia cũng tranh chấp
lãnh địa nhau, khống chế nhau và trong nhiều trường hợp thôn tính lẫn nhau
với mục đích chủ yếu vẫn là mở mang bờ cõi tìm kiếm các nguồn lợi ích.
9
Cũng như trong cuộc sống tự nhiên và trong xã hội trong nền kinh tế thị
trường, các chủ thể kinh tế luôn cạnh tranh với nhau vì lợi ích riêng của mình.
Ở đây "cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế
nhằm giành lợi thế tối đa cho mình". Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của nền kinh
tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh có những vai trò sau:
- Cạnh tranh tạo cơ chế điều chỉnh sản xuất xã hội và do đó phân bố các
nguồn lực kinh tế sao cho tối ưu mục đích cao nhất của các doanh nghiệp là
lợi nhuận cao, trong các ngành sẽ có sự dịch chuyển đầu tư từ ngành có tỷ
suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Do vậy mà nguồn lực
được điều tiết thay đổi.
- Cạnh tranh kích thích tiến bộ khoa học và công nghệ. Cạnh tranh gây
áp lực với các nhà sản xuất buộc họ phải áp dụng công nghệ mới nhằm tăng
năng suất chất lượng, giảm chi phí… để từ đó tăng nguồn lực cạnh tranh.
- Cạnh tranh góp phần tạo cơ sở cho sự phân bố thu nhập lần đầu. Nhà
sản xuất nào có năng suất, chất lượng hiệu quả cao sẽ có thu nhập cao, đồng
thời thông qua cạnh tranh nhu cầu người tiêu dùng được đáp ứng.
Đối với một doanh nghiệp cụ thể thì nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ có
những vai trò sau:
- Tăng quyền lực thị trường cho doanh nghiệp. Với tư cách là người
mua, doanh nghiệp gây áp lực với các nhà cung ứng điều đó có thể dẫn tới
doanh nghiệp mua với mức giá thấp nguồn nguyên vật liệu ổn định, chất
lượng… và nhà cung ứng trung thành. Với tư cách là người bán doanh nghiệp
có quyền lực có tính độc quyền của người bán có thể bán với giá và sản lượng
cao hơn ĐTCT từ đó tăng lợi nhuận… .
- Tăng uy thế của doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác trong

để đạt mục đích khi tương tác với chủ thể khác.
Ngày nay, thuật ngữ "vũ khí" được kết hợp với thuật ngữ "cạnh tranh"
thành vũ khí cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực chính
trị, ngoại giao và kinh doanh. Trong kinh doanh, vũ khí cạnh tranh là những
11
điều kiện lợi thế, điểm mạnh mà doanh nghiệp có và dùng nó để gây áp lực
cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác (đối thủ cạnh tranh).
3.3. Chất lượng sản phẩm lao động là một vũ khí cạnh tranh độc đáo
Sản phẩm có chất lượng cao được xem như thỏa mãn cao mười thuộc
tính của nó. Và như thế độ bền chức năng công dụng, tính hiệu quả khi sử
dụng… của sản phẩm luôn ở mức cao làm hài lòng khách hàng và vượt trội so
với đối thủ cạnh tranh. Mặt khác kiểu mẫu đa dạng và luôn độc đáo của sản
phẩm càng làm tăng sự hấp dẫn khách hàng. Tất cả các yếu tố đó làm cho sản
phẩm của doanh nghiệp có sự khác biệt hóa với sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh. Đây là một trong ba loại vũ khí cạnh tranh chiến lược mà M.B.Porter
phân tích sâu sắc trong cuốn Chiến lược cạnh tranh nổi tiếng của ông. Ba
chiến lược cạnh tranh của Porter là: Dẫn dắt bởi chi phí; khác biệt hóa sản
phẩm; và trọng tâm hóa. Ngày nay khi mà thu nhập của người dân được nâng
cao yêu cầu và chất lượng ngày càng cao dần đặc biệt là các sản phẩm thực
phẩm, dược phẩm thì hai chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và trọng tâm hoá
trở nên rất quan trọng Vinamilk là một doanh nghiệp thủ lĩnh trong ngành
sữa. Việc vận dụng và khai thác có hiệu quả chiến lược khác biệt hóa là vấn
đề quyết định sự tồn tại và phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.
II. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH
1. Tổng quan về Vinamilk
1.1. Giới thiệu chung về Công ty
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập trên cơ sở quyết định số
155/2003 QĐ - BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công
nghiệp về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status