TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
================
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC
GIA VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC HÌNH
THỨC THỦ ĐOẠN CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA
QUỐC GIA Ở CÁC NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ
Sinh viên thực hiện:
Hán Thu Thảo 12 1111 0594 STT: 113
Lê Thị Phương Nhung 12 1111 0507 STT: 92
Trần Thị Giang Thu 12 1111 0635 STT: 116
Lớp: Pháp 3 - K51 – KTĐN
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và cách mạng khoa học-
công nghệ, hoạt động của các Công ty đa quốc gia – MNCs (Multinational Coporations)
hay MNEs (Multinational enterprises) đã, đang và sẽ là lực lượng chủ đạo thúc đẩy quá
trình toàn cầu hoá, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội trên toàn thế
giới. Chúng là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học công nghệ và kĩ thuật tiên
tiến, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và cũng là hình mẫucủa các tổ chức sản xuất hàng hoá
hiện đại. Vì vậy, các công ty đa quốc gia đang càng ngày càng thâm nhập một cách mạnh
mẽ vào tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế đang và kém phát
triển.
Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự phát triển và phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh
tế giữa các quốc gia, đồng thời dẫn đến những thay đổi sâu sắc và lớn lao trong nhiều lĩnh
vực của nền kinh tế thế giới. Các công ty đa quốc gia đã ngày càng phát huy được vai trò
to lớn của mình trong nền kinh tế thế giới. Các công ty lớn mạnh có nguồn tài chính dồi
dào để phục vụ cho quan hệ công chúng và vận động hành lang chính trị, có các nhà
chính trị đại diện cho nêncũng có thể có ảnh hưởng lớn đến quan hệ quốc tế và nền kinh
gia mà nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự hình thành và phát triển của các luồng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Với các câu hỏi đặt ra như: Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia tác
động tới nền kinh tế các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam như thế nào? Chúng
ta cần có giải pháp gì để hạn chế những tác động tiêu cực và khai thác có hiệu quả tác
động tích cực từ các công ty đa quốc gia?Các hình thức và thủ đoạn “chuyển giá” mà các
công ty đa quốc gia áp dụng vào các nước nhận đầu tư? Làm rõ được những nội dung này
thực sựlà vấn đề quan trọng và cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.Chính vì lí
do đó, nhóm em đã chọn đề tài: ”Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào
các nước đang phát triển và các hình thức thủ đoạn “chuyển giá” của các công ty đa
quốc gia ở các nước nhận đầu tư” làm tiểu luận môn Tài chính tiền tệ.
Bài tiểu luận bao gồm ba chương: chương I khái quát, đưa ra những nhận định
chung nhất về công ty đa quốc gia, để từ đó hiểu được và có cái nhìn tổng thể về các
chiến lược thâm nhập vào các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá của chúng sẽ
được giới thiệu trong chương II và III, với những tác động tích cực cũng như những hệ
lụy mà chúng mang lại cho nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế các quốc gia mà
3
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
chúng có trụ sở.
4
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
MỤC LỤC
I. Tổng quan về công ty Đa quốc gia
1.Khái quát về công ty đa quốc gia: 7
1.1.Nguyên nhân ra đời của Công ty đa quốc gia: 7
1.2.Khái niệm công ty đa quốc gia: 8
1.3.Các loại hình công ty đa quốc gia (cấu trúc): 8
2.Đặc điểm của công ty đa quốc gia: 8
2.1.Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động lớn 8
2.2.Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành, tức là hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực:. .9
6.2.Tác động đối với các quốc gia có liên quan: 39
Tác động đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư: 39
Tác động đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư: 41
7.Các phương pháp chống chuyển giá: 42
7.1.Phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở giá tự do có thể so sánh được (Comparable
Uncontrolled Price - CUP): 42
7.2.Phương pháp giá bán lại (Resales Price Method): 43
7.3.Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method or Mark Up Method): 44
7.4.Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method): 46
7.5.Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao (Transaction Net Margin Method -
TNMM): 47
8.Liên hệ thực tế tại Việt Nam: 47
6
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Phần I
Tổng quan về công ty đa quốc gia
1. Khái quát về công ty đa quốc gia:
1.1. Nguyên nhân ra đời của Công ty đa quốc gia:
Tiền thân của các công ty đa quốc gia là công ty quốc gia. Công ty quốc gia này
mang quốc tịch của một nước và vốn đầu tư vào công ty này thuộc quyền sở hữu của
các nhà tư bản nước sở tại.Việc kinh doanh của họ ngày càng phát triển, hàng hóa và
dịch vụ được sản xuất ra ngày càng nhiều và chất lượng cao hơn. Từ thập niên 80, cùng
với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các công ty quốc gia tiến hành sáp nhập
với nhau tạo thành công ty đa quốc gia, nhằm mục đích:
Phục vụ mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa giá trị tài sản Công ty nhờ việc khai thác các
tiềm năng tại chỗ như: không ngừng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu và nhân công với
giá cả so sánh, tìm kiếm những ưu đãi về thuế, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ
hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do mở rộng khu
vực sản xuất.
Sự liên kết giữa các công ty quốc gia nhằm tăng khả năng bảo vệ trước những rủi ro.
• Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại
hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).
• Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số
nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước
khác (ví dụ: Adidas).
• Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác
nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)
2. Đặc điểm của công ty đa quốc gia:
2.1. Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động lớn
Sở hữu của các công ty đa quốc gia là sở hữu có tính chất đa chủ và đa quốc tịch
thể hiện ở sự tham gia của nhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tài sản của
8
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
công ty được phân bổ trên phạm vi toàn cầu. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong
công ty đa quốc gia nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về
vốn phục vụ kinh doanh. Vì vậy sau khi thành lập công ty đa quốc gia, các công
tythành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ
đó tổng tài sản cũng tăng lên đáng kể.
Các công ty đa quốc gia thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết định đối
với quy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị và mạng
lưới hoạt động toàn cầu. Do đó, tạo khả năng sinh lợi rất lớn và mang tính tiên phong
nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ. Các công ty đa quốc gia cũng
thường thu hút một lượng lớn lao động ở chính quốc và các quốc gia khác.
2.2. Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành, tức là hoạt động trong nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực:
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm, nghiên cứu ứng dụng về khoa học công nghệ… là xu hướng có tính quy luật
cùng với sự phát triển của các công ty đa quốc gia. Ví dụ, Mitsubishi ban đầu chỉ hoạt
động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng nay đã hoạt động trong các lĩnh vực như khai
khoáng, luyện kim, hóa chất, luyện kim, ngân hàng,…
rộng phạm vi thế lực, tăng sức cạnh tranh phù hợp với bước phát triển mới của kinh tế
và kĩ thuật, cùng với chiến lược sáp nhập, các công ty đa quốc gia lớn còn đẩy mạnh
hoạt động liên hợp. Đó là sự thiết lập quan hệ hợp tác giữa hai hoặc nhiều công ty đa
quốc gia ngang sức cùng hoặc khác quốc tịch nhằm thực hiện mục tiêu nào đó.
Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mới của mỗi
công ty đa quốc gia: Các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản phầm hoặc
thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm cơ hội kinh
doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhu cầu thị trường
giảm sút. Một số khác lại “ thu hẹp chiến tuyến”, loại bỏ các hoạt động sản xuất “ngoại
vi”, dốc toàn lực phát huy thế mạnh chuyên môn của mình.
10
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
3. Vai trò của các công ty đa quốc gia:
3.1. Vai trò tích cực của các công ty đa quốc gia:
• Thúc đẩy Thương mại quốc tế phát triển:
Một trong những vai trò nổi bật của công ty đa quốc gia là thúc đẩy thương mại
quốc tế phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới. Công ty
đa quốc gia chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu
thông xuyên quốc gia của mình. Một đặc điểm nữa là trao đổi giữa các chi nhánh trong
nội bộ công ty đa quốc gia của các nước ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng giá trị thương mại nhiều nước. Trong những năm gần đây, với chiến lược đa
quốc gia và tạo ra các liên kết giữa thương mại và đầu tư giữa các nước với nhau.
• Thúc đẩy đầu tư nước ngoài: thông qua việc các công ty đa quốc gia đầu tư
vốn vào các nước đang phát triển:
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh
đẩu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia thúc đẩy nhanh
quá trình tự do hóa đầu tư nước ngoài thông qua tham gia sâu rộng vào quá trình quốc
tế hóa sản xuất. Các cản trở về đẩy mạnh tự do hóa đầu tư đã được tháo bỏ, để các
nước trên thế giới cùng được tham gia vào quá trình tự do hóa kinh tế quốc tế. Với lợi
thế của mình về nhiều vốn, kỹ thuật hiện đại, quản lý tiên tiến và mạng lưới thị trường
quốc gia thường có những phương thức và những kênh riêng để thực hiện hoạt động
chuyển giao công nghệ của mình. Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ
tiên tiến của thế giới các công ty đa quốc gia còn biết cách sử dụng và khai thác các
công nghệ đó một cách có hiệu quả nhất nhằm duy trì vị trí độc quyền trên thị trường,
mở rộng phạm vi ảnh hưởng và khả năng lũng đoạn thị trường.
Thông qua hoạt động sản xuất, thương mại các công ty đa quốc gia đã không
ngừng có những phát minh, sáng chế và phổ biến những kinh nghiệm về quản lý, các ý
tưởng mới, và các sáng tạo khác trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói tính sáng tạo là đặc
trưng riêng của các công ty đa quốc gia mà không tổ chức nào có được. Tuy nhiên, quá
trình chuyển giao công nghệ thường đi kèm với quá trình độc quyền hoá. Do đó, các
nước đang phát triển trong quá trình tiếp nhận công nghệ cần nhận thức rõ vai trò của
các công ty đa quốc gia đồng thời có những đối sách thích hợp để vừa phát huy tối đa
12
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
tác dụng tích cực của công ty này đối với nền kinh tế vừa hạn chế sự kìm hãm của
chúng.
3.2. Ảnh hưởng tiêu cực:
Tác động tiêu cực từ nguồn vốn đầu tư của các công ty đa quốc gia đối với các nước
đang phát triển được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, các công ty đa quốc gia gặt hái nhiều lợi nhuận ở các nước đang phát triển
nhờ vị trí siêu độc quyền của họ trong các nền kinh tế này. Tuy nhiên phần lớn các khoản
lợi nhuận này được chuyển ra nước ngoài cho công ty mẹ chứ không được tái đầu tư ở
nước chủ nhà.
Thứ hai, các Công ty đa quốc gia còn tính giá phí quá cao khi chuyển giao công nghệ
cho công ty con. Các công ty con phải phụ thuộc nhiều vào máy móc, thiết bị, linh phụ
kiện hơn so với các công ty trong nước. Các công ty đa quốc gia làm tăng sự phụ thuộc
của nền kinh tế các nước đang phát triển vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa
của các công ty này. Các công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư, lập nhiều khu công nghiệp,
các nhà máy chế tạo sản phẩm. Các quy trình đều do các công ty mẹ nắm giữ và được
chuyển giao dần dần cho các nước đang phát triển. Đồng thời các công ty đa quốc gia
một tác đông tiêu cực cần phải nhắc tới ở đây. Thường tiền lương của nhân công, lao
đông làm trong các công ty liên doang bao giờ cũng cao hơn mức trung bình ở địa
phương.
Thứ bảy, một tác động tiêu cực khác của các công ty đa quốc gia là can thiệp vào nền
chính trị của các nước nhận đầu tư thông qua một số cách khác nhau. Tuy vậy, thường thì
các công ty đa quốc gia đánh giá cao sự ổn định chính trị của một nước, như vậy họ có thể
yên tâm đặt lòng tin và đầu tư vào nước đó. Ngoài ra các công ty đa quốc gia còn có ảnh
hưởng tới cơ cấu xã hội của nước nhận đầu tư. Khi các công ty đa quốc gia đầu tư vào
một nước thì sẽ tạo ra việc làm, thu nhập cho số đông người dân nước đó, những người đó
có thu nhập và địa vị ổn định trong xã hội, còn lại một phần lớn những người không hòa
nhập vào xã hội công nghiệp và do đó tạo ra sự phân cấp trong xã hội khá rõ rệt.
14
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Phần II
Chiến lược thâm nhập thị trường của Công ty đa quốc gia
Trong những thập kỷ vừa qua các Công ty đa quốc gia (MNCs) đã đầu tư hàng tỷ
USD ra nước ngoài theo hình thức đầu tư song phương: Hoa Kỳ đầu tư vào Cộng đồng
kinh tế Châu Âu và ngược lại; Nhật Bản đầu tư vào Hoa Kỳ và ngược lại; Canada đầu tư
trực tiếp vào Hoa Kỳ và ngược lại,….
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, MNCs đã chuyển hướng đầu tư vào các nước
đang phát triển và những nước đang chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị
trường. Ví dụ trong giai đoạn 1991-1995, Công ty Volkswagen đã đầu tư 6 tỷ USD vào
nhà sản xuất ô tô Skoda của Cộng Hoà Czech; hoặc Opel (Đức) đã đầu tư xây dựng một
nhà máy sản xuất ô tô trị giá 680 triệu USD tại Đông Đức. Sự chuyển hướng đầu tư này
bắt nguồn từ một số lý do như sau: triển vọng sinh lời tại những thị trường này cao dù
rằng những rủi ro về kinh tế và chính trị còn lớn; các chương trình tư nhân hóa được tiến
hành rộng khắp tại các nước Nam Mỹ và đây là một cơ hội cho MNCs thâm nhập vào khu
vực này; mặt khác, sự tăng trưởng mạnh mẽ và đầy triển vọng của Nhật Bản trong thập
niên 80 của thế kỷ 20 đã dẫn đến việc đầu tư vốn của Nhật ra thị trường nước ngoài. Với
sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, cách mạng khoa học - công nghệ, hoạt
quốc kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ cũng đã nói lên một điều tương tự. Cụ thể, năm
1990 có khoảng 640 công ty tại Hoa Kỳ thuộc sở hữu hoàn toàn, hoặc một phần bởi người
Nhật, và những công ty này đã sử dụng khoảng 160.000 công nhân là người Mỹ, và hơn
100 liên doanh Nhật – Mỹ cũng đã thiết lập trong năm 1990. Đến cuối thế kỷ thứ 20, có
trên 800.000 nhân công Hoa Kỳ làm việc tại các công ty Nhật Bản. Nếu xét tổng quát thì
các công ty có nguồn gốc nước ngoài cho đến năm 1989 đã sử dụng khoảng 3 triệu nhân
công người Mỹ. Cũng trong năm 1989, số lượng công việc được tạo ra bởi các công ty
sản xuất có nguồn gốc nước ngoài đã cao hơn số lượng công việc được tạo ra bởi các
công ty có nguồn gốc Hoa Kỳ.
16
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Đôi khi một số dự án kinh doanh quốc tế lại sử dụng nhân công từ hàng loạt nước
khác. Ví dụ, một loại xe hơi thể thao của Mazda, loại MX – 5 Miata, được thiết kế tại
California, nhưng chi tiết được tạo ra tại Anh, lắp ráp tại Michigan và Mehico, loại xe hơi
này lại sử dụng các bộ phận điện tử được sáng chế tại New Jersey và được chế tạo tại
Nhật Bản. Tương tự như vậy, loại xe ăn khách của Chevrolet – Geo Metro – được thiết kế
tại Nhật Bản, và chế tạo tại Canada bởi một nhà máy do công ty Suzuki sở hữu. Hoặc
trong trường hợp của Boeing thì loại máy bay này được thiết kế tại bang Washington và
Nhật Bản, nhưng lắp ráp tại Seatle với chóp đuôi làm từ Canada, một số chi tiết phần đuôi
lại được sản xuất tại Trung Quốc và Italy, và đầu máy thì được làm từ Anh. Nói cách
khác, MNC tiến hành các hoạt động và thoả thuận sao cho nó có lợi nhất, thậm chí điều
này sẽ dẫn đến sự hợp tác của nhiều công ty thuộc từ 3 cho đến 4 quốc gia khác nhau.
Điều này là một thực tế hiển nhiên được tiến hành bởi MNCs bất kể quy mô của nó là lớn
hay nhỏ.
17
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
2. Các hình thức thâm nhập thị trường:
Quá trình này thường thể hiện qua một trong 6 hình thức sau: xuất khẩu; dự án trao
tay (turnkey project), nhượng quyền (licencing); chuyển nhượng kèm theo bí quyết kinh
doanh (franchising); liên doanh; doanh nghiệp hoàn toàn sở hữu nước ngoài (100% vốn
thực hiện theo các mức độ từ phi chính thức cho đến cùng tham gia cổ phần.
• Cơ sở:
Lý do để thực hiện một liên minh chiến lược cũng rất đa dạng: (i) Mong muốn xâm
nhập và mở rộng thị trường: tại Nhật Bản, Motorola đã phối hợp hoạt động với Toshiba
trong việc sản xuất chip điện tử nhằm giành lấy một thị phần lớn hơn; (ii) Nhằm bảo vệ
19
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
thị trường nội địa: Ví dụ, do không có những đơn hàng xây dựng các nhà máy năng lượng
hạt nhân, Bechtel Group đã liên kết với Siemens của Đức để cung cấp các dịch vụ cho các
nhà máy hiện hữu tại Hoa Kỳ; (iii) Chia sẻ các rủi ro trong những nỗ lực sản xuất và
phát triển: Texas Instrument và Hitachi đã thành lập chung một nhóm phát triển những
loại chip bộ nhớ thế hệ mới; (iv) Thực hiện liên minh chiến lược nhằm ngăn chặn và vượt
qua đối thủ cạnh tranh: Ví dụ, Caterpillar đã thiết lập một liên doanh với Mitsubishi trong
việc sản xuất các thiết bị trong công nghiệp nặng để phản công lại đối thủ cạnh tranh chủ
yếu trên toàn cầu của mình là công ty Komatsu ngay trên quê hương của nó.
• Hình thức:
Các hình thức của liên minh chiến lược bao gồm:
- Hợp tác phi chính thức: Theo hình thức này các đối tác sẽ làm việc với nhau
theo một thỏa thuận ràng buộc (có thể diễn ra theo hình thức trao đổi thông
tin về sản phẩm mới, công nghệ, kỹ thuật, trao đổi chuyên gia). Sự hợp tác
theo hình thức này thường thích hợp cho những đối tác thực sự không đe dọa
lẫn nhau tại thị trường của mỗi nước và quy mô của những đối tác này ở dạng
trung bình.
- Hợp tác theo hợp đồng: Theo hình thức này, các đối tác có thể ký các hợp
đồng hợp tác trên lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu và phát triển, marketing…
Thỏa thuận này cho phép cả hai có thể thực hiện được các mục tiêu của cả đôi
bên. Các công ty cũng có thể thực hiện các thỏa thuận hai chiều để mỗi bên
có thể khai thác thị trường lẫn nhau. Ví dụ, AT & T và Olivetti đã có những
thỏa thuận về marketing chéo cho nhau tại cả hai thị trường Hoa Kỳ và Châu
Âu. Trong lĩnh vực dịch vụ, các hãng hàng không đã có những thỏa thuận cho
hơn hoặc xâm nhập thị trường một cách dễ dàng hơn. Hình thức liên doanh cũng cho
phép một công ty nước ngoài có thể thiết lập một mối quan hệ tốt hơn với Nhà nước và
các tổ chức sở tại (ví dụ như công đoàn, hoặc các tổ chức tài chính); đặc biệt nếu một liên
doanh được thiết lập giữa một MNC và đối tác sở tại là một doanh nghiệp thuộc sở hữu
Nhà nước thì liên doanh này càng có những thuận lợi như được hưởng những ưu đãi về
tài chính, sự hỗ trợ của chính phủ. Mối quan hệ giữa một đối tác trong nước với các tổ
chức tài chính địa phương cũng cho phép liên doanh có thể tiếp cận với thị trường tài
chính tại chỗ. Ngoài những thuận lợi nêu trên, hình thức liên doanh còn cho phép MNCs
21
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
có thể chia sẻ rủi ro khi tiến hành kinh doanh tại một thị trường mới.
Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều liên doanh đã bị thất bại. Các nguyên nhân gây ra
thất bại thường là: sự mâu thuẩn về quyền lợi, sự bất đồng trong việc phân phối lợi nhuận,
mối quan hệ truyền thông giữa các đối tác không tốt, tầm nhìn chiến lược khác nhau, sự
mâu thuẩn về phương diện văn hóa… Để tiến hành thiết lập và quản lý một liên doanh
thành công, nhiều nhà quản lý đã đề ra một số khuyến cáo như trong quá trình thương
lượng để lập liên doanh như sau: (i) Phải tìm đúng đối tác để thiếp lập liên doanh; (ii) Xác
định rõ mục tiêu của liên doanh và thời gian kéo dài của nó; (iii) Giải quyết và xác định rõ
ràng vấn đề quyền sở hữu, kiểm soát, và quản lý; (iv) Xác định rõ cấu trúc tài chính và
các chính sách tài chính; (v) Xác định chính sách sử dụng nhân sự và đào tạo; (vi) Xây
dựng nhiệm vụ sản xuất rõ ràng; (vii) Xác định các nội dung, quan điểm của hoạt động
marketing; (viii) Xác định hoạt động chuyển giao công nghệ theo mức độ nào và các ràng
buộc của hoạt động này; (ix) vấn đề hạch toán và kiểm soát; (x) Việc giải quyết các tranh
chấp và bất đồng; (xi) Vấn đề bảo hộ trong ngành và lĩnh vực kinh doanh; (xii) Xác định
rõ các hỗ trợ từ phía Nhà Nước (nếu có).
3. Yêu cầu thiết kế chiến lược thâm nhập thị trường của các Công ty đa quốc gia:
- Nhận thức được các dự án đầu tư có khả năng sinh lời
- Lựa chọn mô hình thâm nhập
- Việc kiểm soát, đánh giá hiệu quả của mô hình thâm nhập
- Sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá hợp lý
hội, và có nhiều biện pháp chuyển hướng lớn trong quá trình thu hút đầu tư,
từ ngành sản xuất sử dụng nhiều tài nguyên và lao động sang những ngành có
trình độ khoa học, kỹ thuật cao đòi hỏi có môi trường đầu tư thuận lợi, thị
trường rộng lớn (cả thị trường nước sở tại, lẫn thị trường khu vực)
- Malaixia có sự thích ứng nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của thị trường và xu
hướng thâm nhập của MNCs, được thể hiện qua 5 giai đoạn thực hiện CNH:
CNH thay thế nhập khẩu (1957-1970); CNH hướng vào xuất khẩu (suốt thập
23
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
kỷ 70); Chiến lược thay thế nhập khẩu lần II (1980-1985); đẩy mạnh hướng
vào xuất khẩu (1986-1995); đến nay là chiến lược CNH phát triển bền vững
5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Từ khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay (năm 1978), nền kinh tế Trung Quốc đã
phát triển nhanh chóng, liên tục với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (GDP năm 2006:
10,5%; GDP trung bình mỗi năm trên 9,5%), đưa GDP của Trung Quốc đứng hàng thứ 4
thế giới. Trung Quốc đã trở thành “một hiện tượng kinh tế đầu thế kỷ XXI”1. Sự thành
công này có phần đóng góp rất lớn của MNCs trong nền kinh tế; trong đó có trên 400
công ty xuyên quốc trong 500 công ty lớn nhất thế giới. Trung Quốc coi việc hợp tác với
MNCs là hạt nhân của mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
- Trước hết là đổi mới trong tư duy. Trung Quốc đưa ra quan điểm: “đổi mới tư
duy – thí điểm – và từng bước mở cửa mạnh mẽ hơn”. Kinh nghiệm Trung
Quốc cho thấy để phát triển thì điều quan trọng nhất là để người dân được tự
do suy nghĩ và thực hiện ý tưởng của mình. Chỉ khi người dân được tự do suy
nghĩ thì chính sách tự do hoá thương mại mới được đẩy mạnh.
- Trong chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Trung Quốc vừa
khuyến khích thu hút nguồn vốn vừa và nhỏ, vừa đặt trọng điểm vào thu hút
nguồn vốn lớn đầu tư của MNCs. Trên cơ sở chính sách “Lấy thị trường đổi
lấy kỹ thuật”, Chính phủ cho phép MNCs chiếm lĩnh một phần thị trường
trong nước thông qua các hình thức thâm nhập: liên doanh, mua bán, sáp
nhập…
án, Brunei (4,4 tỷ USD) với 19 dự án.
Các địa phương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất trong năm 2008 là
Ninh Thuận do có dự án liên doanh sản xuất thép với tập đoàn Lion Malaysia với tập
đoàn Vinashin có tổng mức đầu tư đăng ký là 9,79 tỷ USD. Đứng thứ hai là tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu có 4 dự án với tổng mức vốn đăng ký lên đến 9,35 tỷ USD, TP.HCM, Hà Tĩnh
và Thanh Hóa. Như vậy chúng ta có thể thấy cơ cấu các tỉnh thành dẫn đầu trong việc thu
hút vốn đầu tư có thay đổi và các tỉnh Miền Trung đã có những bước tiến đáng chú ý.
Trong đó đáng chú ý là tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu thu hút đến 9,35 tỷ USD (gần bằng cả năm
2006 thu hút vốn đầu tư của cả nước 10,2 tỷ).
25