Thông tin chung về sáng kiến
1.Tên sáng kiến:
Một số kinh nghiệm nâng cao chất lợng dạy chính tả ở Tiểu học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Tiểu học.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 8 năm 2009
4. Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Vân
Năm sinh: 25 tháng 5 năm 1974
Nơi thờng trú: Tân Khánh, Vụ Bản, Nam Định.
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng S phạm Tiểu học.
Chức vụ công tác: Giáo viên.
Nơi làm việc: Trờng Tiểu học B Minh Thuận.
Địa chỉ liên hệ: Trờng Tiểu học B Minh Thuận , Vụ Bản, Nam Định.
Điện thoại: 012 949 88267.
5. Đồng tác giả: Không.
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trờng Tiểu học B Minh Thuận.
Địa chỉ: Minh Thuận, Vụ Bản, Nam Định.
Điện thoại: 03503980570
1
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Chúng ta đều biết rằng: Nhân cách của con ngời chỉ có thể đợc hình thành
thông qua hoạt động giao tiếp. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp đợc
thuận lợi, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là
một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng
ngày của chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà ngôn
ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của
các quốc gia nói chung. Yêu cầu đầu tiên và tối quan trọng của ngôn ngữ viết là
phải viết đúng chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo
hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ . Hay
nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết đợc thừa nhận
trong văn bản bộc lộ nền tảng văn hoá dân tộc. Mục tiêu cần đạt của chữ viết là
suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trờng cũng nh suốt cả cuộc đời.
Chính tả có tầm quan trọng nh vậy nên môn học này cần phải đợc coi trọng
ở các trờng Tiểu học. Nhng trên thực tế ở một số vùng miền núi, vùng nông thôn
(các em ít đợc giao lu, va chạm với thế giới bên ngoài) hiện tợng học sinh viết sai
chính tả là khá phổ biến. Cụ thể trên địa bàn trờng tôi đang giảng dạy, hiện tợng
học sinh viết sai chính tả nhất là những âm dễ lẫn lộn nh : l - n, s x, tr ch, r
d gi, dấu sắc và dấu ngã. Vấn đề này có thể do học sinh phát âm sai (tiếng
địa phơng) dẫn đến hiểu sai và viết sai chính tả. Bên cạnh đó hệ thống sách giáo
khoa, bài tập chính tả cha xây dựng theo vùng, miền. nên việc dạy và học chính tả
còn gặp nhiều khó khăn.
Trớc tình hình nh vậy, việc nhìn nhận lại thực trạng về việc dạy chính tả để từ
đó tìm ra một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lợng học chính tả cho
hoc sinh vung phng ng la hờt sc cõn thiờt v mang tớnh cp bỏch. Mun lm
c iu ny viờc nm luõt chinh ta, phụ biờn luõt chinh ta cho hoc sinh la iờu
cõn thiờt. Muụn võy mụi giao viờn cõn nm vng luõt chinh ta va c biờt la cai
tiờn cach day chinh ta sao cho khoa hoc, hiờu qua hn. Coi trong phng phap
3
dạy chính tả có ý thức để việc viết đúng chính tả trở thành kỹ năng, kỹ xảo cho
học sinh ngay từ lớp đầu cấp.
Xuất phát từ những quan điểm trên, bản thân lại là một giáo viên dạy học ở
vùng có nhiều đối tượng học sinh có vấn đề về chính tả, tôi mạnh dạn tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Chính tả ở
Tiểu học” để góp phần nâng cao chất lượng dạy – học phân môn chính tả ở nhà
trường Tiểu học. Rất mong quý vị đọc, cảm nhận và có ý kiến đóng góp để đề tài
thêm phong phú, mang tính thực thi hơn.
II. THỰC TRẠNG
1. Cơ sở về ngữ âm học
1.1. Mối quan hệ giữa âm chữ và nghĩa
- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ
yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện
nhất, một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ.
c (con cuốc)
/k/ k (kim chỉ)
q (tổ quốc)
Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng đặc biệt.
Nó vừa sử dụng độc lập làm đại diện cho phụ âm /h/ thể hiện bằng con chữ
“h”, vừa được sử dụng theo cách ghép với các con chữ khác làm đại diện cho 7
5
âm nữa đó là: ch, gh, kh, nh, ngh, ph ,th. Do vậy khi sử dụng cần chú ý không nên
lầm tưởng là trong Tiếng Việt có phụ âm kép. Dù “h” đứng một mình hay “h”
đứng sau các chữ khác (c, g, k, n, ng, p, t) thì ch, gh, kh, nh, ngh, ph, th đều có giá
trị như nhau. Mỗi hình thức trong 7 hình thức đó đều chỉ thay thế cho 1 âm mà
thôi. Do vậy có quan niệm “gờ đơn”, “gờ kép”, “ngờ đơn”, “ngờ kép” là bất hợp
lý. Cách nhận biết tốt nhất về “ng” và “ngh” là dựa vào khả năng kết hợp chung
với nguyên âm.
Trước những bất hợp lý trên, việc xác định những trọng điểm chính tả cần
dạy cho học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng những biến thể phát
âm địa phương, đồng thời phải nghĩa để sử dụng vào các văn cảnh cụ thể để ghi
nhớ cho học sinh cách phân biệt chính tả.
Do vậy hai nhiệm vụ chủ yếu của việc đề cao nguyên tắc dạy học chính tả
có ý thức là: giải quyết những vấn đề tồn tại của chữ quốc ngữ. Tôn trọng nguyên
tắc dạy chính tả theo khu vực, phải chú ý cách phát âm của địa phương.
2. Cơ sở thực tế
Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nhận thức hiện thức khách quan mang đậm màu
sắc cảm tính. Cảm giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong nhận thức sự
vật, cho nên trực quan cụ thể là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo
nên nhận thức và tư duy của học sinh Tiểu học. “Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng” câu nói nổi tiếng của Lê-nin khi người giải thích quy luật nhận
thức hiện đại, đặc biệt được thể hiện ở học sinh tiểu học. Khi dạy chính tả cho học
sinh tiểu học cần vận dụng triệt để đặc điểm, nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi này.
dụng qui trình soạn giáo án theo hướng đổi mới, giúp học sinh nắm bắt các mẹo
luật chính tả cũng hết sức cần thiết để giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong
7
phạm vi nghiên cứu đề tài, tôi xin được thống kê số liệu học sinh mắc lỗi chính tả
ở khối 5 thu được đầu năm như sau.
Lớp Tổng số học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l – n; ~/. d/gi/r;tr/ch;s/x;g/gh Vần và dấu thanh
5B 24 10 em 7 em 7 em
Thực tế về chất lượng giảng dạy chính tả của giáo viên Tiểu học trước hết
phải nói đến trình độ đã được đào tạo của giáo viên không đồng đều và việc tổ
chức dạy và học môn chính tả Tiếng Việt chưa được khoa học. Hai là trong các
nhà trường sư phạm việc dạy phương pháp môn Tiếng Việt nói chung, phương
pháp dạy chính tả nói riêng còn coi nhẹ.
Do đó nhiều giáo viên ra trường còn gặp nhiều lúng túng về nội dung và
phương pháp và cách rèn kỹ năng cho học sinh. Những tồn tại trên dẫn đến chất
lượng học chính tả của học sinh còn nhiều hạn chế. Đặc biệt với những vùng
phương ngữ thì đây là một thiệt thòi rất lớn vì các em không có điều kiện để đạt
tới một chuẩn mực chính tả như mong muốn. Để khắc phục tình trạng này thì
trước hết cần phải chuẩn hóa giáo viên để giáo viên có đủ kinh nghiệm, trình độ
giúp học sinh nắm được quy tắc chính tả, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả, bỏ
được thói quen phát âm sai, viết sai.
2. Về chương trình sách giáo khoa (SGK)
Trước hết phải khẳng định rằng môn Tiếng Việt ở Tiểu học SGK đã xác
định được những trọng điểm chính tả cơ bản cần dạy cho học sinh. Các bài tập
trong SGK cũng khá đa dạng, phù hợp với từng khối lớp và cấu trúc đi từ dễ đến
khó.
Tuy nhiên về hạn chế SGK còn đánh đồng nội dung dạy học trong cả nước
cho nên có thể nói nội dung dạy chính tả trong SGK Tiếng Việt vừa thừa lại vừa
thiếu do chưa sử lý được việc dạy chính tả theo khu vực. Thừa ở các em vừa phải
VD: Khi oc tiờng cuục nờu khụng t no trong mụi quan hờ, cum t, cõu
thi rõt kho xac inh nghia ờ viờt ung. Nhng nờu t no trong cõu: Me em vac
cuục ra ụng hoc trong t Tụ quục thi hoc sinh dờ dang viờt ung.
Bờn canh o muụn hoc sinh viờt ung giao viờn phai nm c mụt sụ
cac quy luõt sau:
1. Quy luõt phõn bụ õm õu trong cac kiờu õm tiờt Tiờng Viờt- trong chữ viết
- Cac õm õu c phõn bụ rụng rai trong cac kiờu õm tiờt tiờng Viờt ngoai
tr cac trng hp c biờt sau:
+ Cac phu õm mụi (m, b, v, p) khụng xuõt hiờn trong õm tiờt co õm ờm
(uõ, u, oa, o, uờ, uy).
+ Ph õm n, r ớt xut hin trong õm tit cú õm m .Do ú da v o quy luật này
ta có thể phân biệt đợc l/ n ;r/d/gi vì:
.Đi với âm đầu l/d là các bộ phận: uâ, uơ, oa, oă, oe, uy.
.Nh vậy các âm n, r, gi sẽ không xuất hiện trong các tiếng có các bộ phận nói trên.
+ | v | chỉ kết hợp với các âm không tròn môi, không kết hợp với các nguyên âm
tròn môi.
2. Sự thể hiện của âm chính trong âm tiết tiếng Việt trong chữ viết:
Cơ bản các âm chính khi đọc và viết có sự thống nhất, song một số trờng hợp
sau ta cần lu ý.
a.Với nguyên âm đơn:
/i/ Đợc viết là y khi đứng trớc sau âm đệm hoặc khi đứng một mình trong âm
tiết.
Ví dụ : quý , ý ,
| i | Đợc viết là i trong các trơng hợp còn lại
| ă | Đợc viết là a trong các vần có ay, au.
/ ă / Đợc viết là ă trong các trờng hợp còn lại
b.Với nguyên âm đôi:
- / iê / khi viết có các trờng hợp sau:
10
+ Viết là iê trong âm tiết có âm đầu, không có âm điệm, có âm cuối.
+ Âm đệm không xuất hiện trớc các nguyên âm hàng sau tròn môi.
5. Quy luật phân bố thanh điệu trong các kiểu âm tiết Tiếng Việt trong chữ viết.
+ Những âm tiết có âm cuối là phụ âm tắc( p, t, c, ch) thì chỉ xuất hiện hai
thanh điệu sắc và nặng.
+ Những kiểu âm tiết khác xuất hiện trong cả 6 thanh.
+ Trong các từ láy đôi tiếng Việt thanh điệu của hai âm tiết đợc phân theo
quy tắc cùng âm vực (cùng trầm hoặc cùng bổng)
Ví dụ: đo đỏ, nhỏ nhắn, bẽ bàng, sừng sững, nằng nặng
Chú ý: Có khoảng 20 trờng hợp ngoại lệ (không nhiều) dấu thanh không theo quy
tắc trên, rất mong các giáo viên hớng dẫn đúng để học sinh không mắc phải lỗi
này.
Ví dụ: khè khẽ
6. Các mẹo chính tả cần thiết:
Một điều rất quan trọng trong dạy chính tả cho học sinh vùng phơng ngữ là dạy
cho các em biết đợc một số luật chính tả. Mẹo đợc hiểu nh cách làm độc đáo
giúp học sinh phân biệt, ghi nhớ đợc cách viết đúng những từ ngữ hay nhầm lẫn
trong khi viết chính tả. Sự tìm ra các mẹo chính tả dựa vào các cơ sở sau:
+ Sự kết hợp trong cấu trúc âm tiết.
+ Sự láy âm, điệp âm.
+ Mẹo từ Hán Việt.
+ Mẹo nghĩa của từ.
+ Mẹo phân biệt l / n.
Cụ thể nh :
+ Các con chữ phụ âm kết hợp với các con chữ nguyên âm để tạo nên phụ
âm đơn nh gi, qu. Con chữ phụ âm đi trớc, con chữ nguyên âm đi sau. trong
12
thực tế chính tả, khi xuất hiện q thì nhất thiết có u đi kề liền. Đây là luật
chính tả mà học sinh cần nắm vững.
+ Các con chữ kết hợp vớp nhau để tạo nên phụ âm đơn.
Ví dụ: ngh, ng, gh, tr Trong tiếng Việt dùng 9 kí hiệu phụ âm
ch láy với l: cheo leo,
- Mẹo 5: Những chữ không biết đợc l hay n nhng đồng nghĩa với một từ
khác viết với nh thì chữ ấy là l.
Ví dụ: lăm le (nhăm nhe)
lỡ làng (nhỡ nhàng)
Mẹo phân biệt ch với tr
- tr không đứng trớc những chữ bắt đầu bằng âm đệm nhng ch thì có.
Ví dụ: Ôm choàng, bị choáng, choang choang,
- tr không bao gờ láy với ch và ngợc lại. Do đó chỉ có những từ láy cùng
âm tr hoặc ch và ngợc lại.
Ví dụ: chăm chỉ, trâng tráo, trân trân
- Với những từ chỉ đồ dùng trong gia đình thì thờng viết là ch.
Ví dụ: chyên, chổi, chõng, chạn, chén
Mẹo phân biệt s với x
- Các từ chỉ thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn hoặc đồ dùng liên
quan đến thức ăn thì viết là x.
Ví dụ: xôi, xào, xong
- Những từ chỉ thiên nhiên hoặc chỉ tên cây cối, các loại quả thì viết là s.
Ví dụ: ngôi sao, cây sen, cây súng, cây si
Trên đây là một số mẹo luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong khi viết
chính tả mà mỗi giáo viên thuộc phơng diện phơng ngữ
Bắc bộ nói chung và giáo viên B Minh Thuận nói riêng cần nắm đợc để hớng dẫn
các em viết chính tả.
7. Một số điểm cần l u ý khi dạy theo quy trình một tiết chính tả theo h ớng đổi
mới.
14
- Bớc câu hỏi gợi ý tìm hiểu nội dung đoạn viết là bớc có hiệu quả chính tả thấp.
Vì nội dung hầu hết các em đã nắm đợc thông qua các bài tập đọc. Bớc này không
nên kéo dài, nếu kéo dài sẽ lãng phí thời gian. Giáo viên nên tăng cờng cho luyện
tập (với những bài chính tả so sánh mà nội dung bài không có trong danh sách tập
ngôn ngữ viết một cách chuẩn mực thì các em có đầy đủ năng lực học tiếp lên các
lớp trên và có khả năng giao tiếp với xã hội một cách tự tin, chững chạc và nó sẽ
góp phần ổn định mặt bằng chung về dân trí trong cả nớc, đem lại những nguồn
lợi vô giá cho đất nớc (đặc biệt là những vùng còn ảnh hởng cục bộ do tiếng địa
phơng).
4.3.Hiệu quả trực tiếp đối với lớp thử nghiệm:
Qua việc tìm hiểu thực tế là: Tìm đợc những trọng điểm chính tả và áp dụng
sáng tạo những luật chính tả, mẹo chính tả, quy luật phân bố các âm, vần trong
tiếng Việt cho học sinh trên xã Minh Thuận. Qua một thời gian thực hiện, kết quả
thu đợc nh sau:
Lớp T.số học
Các lỗi chính tả thờng mắc
l/n; ~/./ tr/ch; s/x; r/d/gi Cấu trúc âm tiết
5B 24 2 em 2 em không
V. Một số đề xuất, kiến nghị để áp dụng sáng kiến.
Để chủ trơng đổi mới phơng pháp dạy học nói chung, việc dạy chính tả cho
học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao hơn tôi có một đề xuất nh sau:
- Đối với công tác quản lý:
Cần có hớng dẫn cụ thể giúp các cấp cán bộ quản lý, giúp giáo viên có nhận
thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về đổi mới phơng pháp dạy học.
Cần biên soạn những tài liệu hớng dẫn về đổi mới phơng pháp dạy học phù
hợp, cụ thể với từng phân môn theo từng khối lớp.
16
Giáo viên sau khi học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ (ở các
lớp học cao đẳng, đại học ) cần có chế độ chính sách rõ ràng, tạo điều kiện cho
họ yên tâm công tác, thúc đẩy ý thức tự học ở mỗi ngời.
- Đối với giáo viên Tiểu học:
Phải kiên trì thực hiện đổi mới phơng pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng
lực học tập của từng đối tợng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. Tự học và tự bồi
dỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần nâng cao chất lợng
phòng giáo dục - đào tạo
(xác nhận, đánh giá xếp loại)
18
c¸c phô lôc kÌm theo s¸ng kiÕn
Danh môc c¸c tµi liÖu tham kh¶o
1. Tõ ®iÓn tiÕng ViÖt.
2. Tõ ®iÓn chÝnh t¶.
3. Gi¸o tr×nh tiÕng ViÖt I
(Dµnh cho häc viªn ngµnh Gi¸o dôc TiÓu häc. Nxb ®¹i häc s ph¹m)
19