Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu hệ thống câu hỏi trong phân môn tập đọc ở tiểu học - Pdf 30


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thống kê và số liệu
trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào.
Những thông tin tham khảo trong khóa luận đều được trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng.
Quảng Bình, tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận

TRẦN THỊ LOAN

tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy.
Môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học gồm có các phân môn: Học vần, Tập
viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện. Trong đó thì phân
môn Tập đọc có vị trí đặc biệt, mục tiêu của dạy Tập đọc là hình thành và rèn luyện kĩ
năng đọc cho học sinh, bước đầu giúp học sinh tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật và
hình thành ở học sinh năng lực cảm thụ. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối
với người học. Trước hết là trẻ phải học đọc, sau đó là đọc để hiểu. Đọc giúp các em
chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc không chỉ là sự
“đánh vần” theo đúng kí hiệu các chữ viết mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình
nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu
sâu sắc, thấu đáo các văn bản thì các em mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri
thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản và kiến thức của các
môn học khác của nhà trường. Mặt khác, chính biết cách đọc hiểu văn bản mà học sinh
dần dần có khả năng đọc rộng để tự học, tự bồi dưỡng kiến thức về cuộc sống từ đó
hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, với việc tự học thường xuyên.
Như vậy, đọc thông và đọc hiểu là hai nhiệm vụ của phân môn Tập đọc nhằm
“giúp học sinh củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm, đọc lướt để chọn thông
tin và bước đầu biết đọc diễn cảm, đọc hiểu để nắm được nội dung bài, phát hiện ra
những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của bài” [6, tr.51]. Đọc đúng là tiền đề
của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không
hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh. Có đọc tốt thì mới hiểu đúng, hay
chính nhờ hiểu đúng thì mới đọc tốt. Vì vậy, trong giờ tập đọc ở Tiểu học, hai nhiệm
vụ đó luôn song hành, không tách rời nhau. Để giải quyết và thực hiện tốt hai nhiệm
vụ đó thì hệ thống câu hỏi qua mỗi bài tập đọc là không thể thiếu được trong phân môn
Tập đọc của môn Tiếng Việt Tiểu học. Chính vì thế, vấn đề sử dụng hệ thống câu hỏi
trong phân môn Tập đọc cho học sinh tiểu học là nhiệm vụ thiết yếu nhất cần đặt ra
của người giáo viên, đòi hỏi người giáo viên trực tiếp giảng dạy phải luôn quan tâm và
dành nhiều thời gian cho phân môn Tập đọc. Từ những lí do nói trên, chúng tôi đã
quan tâm và lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu hệ thống câu hỏi trong phân môn
Tập đọc ở Tiểu học”.

- Trong công trình “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” của Nguyễn Thị Hạnh đã đề
cập vấn đề sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập trong dạy học đọc hiểu, xem đó là
phương tiện chủ chốt để thực hiện quan điểm dạy học mới – Quan điểm dạy học
hướng vào người học.
- “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” của Lê Phương Nga, Đặng Kim
Nga phân tích kĩ năng đọc hiểu được hình thành qua việc thực hiện một hệ thống câu
hỏi. Theo đó, các tác giả đã phân hệ thống câu hỏi thành ba nhóm lớn: nhóm câu hỏi
có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản; nhóm câu hỏi làm rõ nghĩa
3

ngôn ngữ của văn bản và nhóm câu hỏi bình giá về nội dung văn bản. Có thể nói,
những nội dung mà công trình này đề cập sẽ gợi mở các vấn đề về phương pháp luận
cho chúng tôi khi tìm hiểu về việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong môn Tập đọc.
Ngoài những tài liệu trên, chúng tôi còn thu thập được một số bài báo đã được
công bố trên các tạp chí giáo dục và chuyên ngành. Chúng tôi xin đề cập đến một số
bài tiêu biểu như sau:
- “Thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học Tập đọc chương trình Tiếng Việt
Tiểu học” của Ngô Vũ Thu Hằng [10, tr.17-18] cho rằng kĩ năng sử dụng câu hỏi là
một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình dạy học. Từ đó, tác giả đã đưa ra
các yêu cầu về thiết kế và sử dụng câu hỏi để giúp học sinh lĩnh hội bài học. Ngoài ra,
tác giả này cũng đã đề cập một bài viết có liên quan “Khai thác ngữ liệu tập đọc lớp 5
nhằm nâng cao kĩ năng đọc hiểu cho học sinh” [11, tr.38-40]. Bài viết này chỉ ra
những khả năng có thể khai thác triệt để những giá trị tích cực mà các bài Tập đọc lớp
5 mang lại trong việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng đọc hiểu cho học sinh.
- Tác giả Phạm Thành Công với bài viết “Khai thác và sử dụng hợp lí hệ thống
câu hỏi phân môn Tập đọc sách Tiếng Việt 5” [6, tr.51-55] đã đi sâu vào phân tích một
số cách khai thác hệ thống câu hỏi trong các bài Tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt 5
nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
- “Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài trong phân môn Tập đọc” của Trần Thị Xuân
Mai [13, tr.35-39] đã đề cập phương pháp tìm hiểu bài bằng việc hướng dẫn học sinh giải

- Đề tài đưa ra điều chỉnh về một số câu hỏi chưa phù hợp nhằm giúp sự tiếp thu
bài của học sinh được dễ đàng hơn.
- Đế tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên nghiên cứu.
6. Cấu trúc khóa luận
Gồm 3 phần:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Vấn đề hệ thống câu hỏi trong phân môn Tập đọc ở sách giáo khoa
Tiếng Việt Tiểu học
Chương 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi trong phân môn tập đọc.
Ngoài ra, khóa luận còn có Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục.

5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận.
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài.
1.1.1.1. Định nghĩa câu hỏi
Trong cuộc sống, khi không biết điều gì và có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề đó,
chúng ta thường xuyên phải đặt câu hỏi. Đồng thời, chúng ta cũng thường xuyên gặp
và phải giải quyết những câu hỏi mà người khác đưa ra.
Có nhiều định nghĩa về câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng, nhưng chúng tôi lựa
chọn giới thiệu định nghĩa về câu hỏi của hai tác giả điển hình sau đây: Trong một
nghiên cứu về câu hỏi dựa theo lý thuyết về hành động ngôn ngữ trong giao tiếp,

bao nhiêu em được đứng dậy đọc. Ngược lại, có người lại quan niệm đọc chỉ là để hiểu
những nghĩa lý, tức là tìm hiểu bài. Vì vậy, thầy - trò sa vào hỏi đáp về văn bản, sa vào
bình giá mà không chịu đọc chính văn bản đó. Có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định
nghĩa thường nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau. Trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ
phương pháp dạy học tiếng Nga” (1988), Viện sỹ M.R.Lơvôp đã định nghĩa: “Đọc là
một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có
âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển
trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc
thầm)”. Đây là một định nghĩa rất phù hợp với dạy học Tập đọc ở tiểu học. Định nghĩa
này thể hiện một quan điểm đầy đủ về đọc, xem đó là một quá trình giải mã bậc hai :
chữ viết → âm thanh và chữ viết (âm thanh) → nghĩa. Như vậy, đọc không chỉ là
“đánh vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá
trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Đó chính là một sự tổng
hợp của cả hai quá trình này.
2. Ý nghĩa của dạy học Tập đọc ở tiểu học
Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu
tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên, trẻ em phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học.
Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập, là một
công cụ để học tập các môn học. Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh
thần học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh.
Chính vì vậy, trường tiểu học có nhiệm vụ dạy đọc cho học sinh một cách có kế hoạch và
hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu này - đó là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
3. Nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở tiểu học
3.1. Tập đọc là một phân môn thực hành.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đó được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của
7

đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội

ảnh…Dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng, đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Như vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.

8

1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1.Chương trình môn tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.
CHƯƠNG TRÌNH TẬP ĐỌC
TUẦN

LỚP 1 LỚP 2 LỚP 3 LỚP 4 LỚP 5
TẬP ĐỌC TẬP ĐỌC TẬP ĐỌC TẬP ĐỌC
1
- Có công mài
sắt, có ngày nên
kim.
- Tự thuật.
(- Ngày hôm qua
đâu rồi?)
- Cậu bé thông
minh.

- Hai bàn tay em.
(- Đơn xin vào
Đội.)
- Dế Mèn bênh
vực kẻ yếu.

- Mẹ ốm.

- Gọi bạn.
(- Danh sách học
sinh tổ 1, lớp
2A.)
- Chiếc áo len.
- Quạt cho bà ngủ.
(- Chú sẻ và bông
hoa bằng lăng.)
- Thư thăm
bạn.

- Người ăn
xin.
- Lòng dân.

- Lòng dân (tt).
4
- Bím tóc đuôi
sam.
- Trên chiếc bè.
(- Mít làm thơ –
tt)
- Người mẹ.

- Ông ngoại.
(- Mẹ vắng nhà
ngày bão.)
- Một người
chính trực.



- Ngôi trường
mới.
(- Mua kính.)

- Nhớ lại buổi đầu
đi học.
(- Ngày khai
trường.)
của An-đrây-
ca.

- Chị em tôi.
chế độ a-pác-
thai.

- Tác phẩm của
Sile và tên phát
xít.
7
- Người thầy cũ.
- Thời khóa biểu.
(- Cô giáo lớp
em.)
- Trận bóng dưới
lòng đường.

- Bận.
(- Lừa và ngựa.)
- Trung thu

xanh.

- Trước cổng
trời.
9
- Thưa chuyện
với mẹ.

- Điều ước của
vua Mi-đát.
- Cái gì quý
nhất?

- Đất Cà Mau.
10
- Sáng kiến của
bé Hà.
- Bưu thiếp.
(- Thương ông.)
- Giọng quê
hương.
- Thư gửi bà.
(- Quê hương.)

11
- Bà cháu.

- Cây xoài của
ông em.
(- Đi chợ.)


- Vẽ trứng.
bầy ong.
13
- Bông hoa Niềm
Vui.
- Quà của bố.
(- Há miệng chờ
sung.)
- Người con của
Tây Nguyên.

- Cửa Tùng.
(- Vàm Cỏ Đông.)
- Người tìm
đường lên các
vì sao.

- Văn hay chữ
tốt.
- Người gác
rừng tí hon.

- Trồng rừng
ngập mặn.
14
- Câu chuyện bó
đũa.
- Nhắn tin.
(- Tiếng võng

- Tuổi ngựa.
- Buôn Chư
Lênh đón cô
giáo.

- Về ngôi nhà
đang xây.
16
- Con chó nhà
hàng xóm.
- Thời gian biểu.
(- Đàn gà mới
nở.)
- Đôi bạn.

- Về quê ngoại.
(- Ba điều ước.)
- Kéo co.

- Trong quán
ăn “Ba cá
bống”.
- Thầy thuốc
như mẹ hiền.

- Thầy cúng đí
bệnh viện.
17
- Tìm ngọc.
- Gà “tỉ tê” với

địa chỉ.)
- Báo cáo kết quả
tháng thi đua Noi
gương chú bộ đội.
(- Bộ đội về làng.)
- Chuyện cổ
tích về loài
người.

- Người công
dân số Một (tt).
20
- Ông Mạnh
thắng Thần Gió.

- Mùa xuân đến.
(- Mùa nước nổi.)

- Ở lại với chiến
khu.
- Chú ở bên Bác
Hồ.
(- Trên đường mòn
Hồ Chí Minh.)
- Bốn anh tài
(tt).
- Trống đồng
Đông Sơn.
- Thái sư Trần
Thủ Độ.

khôn.

- Cò và Cuốc.
(- Chim rừng Tây
Nguyên.)
- Nhà bác học và
bà cụ.

- Cái cầu.
(- Chiếc máy
bơm.)
- Sầu riêng.

- Chợ Tết.
- Lập làng giữ
biển.

- Cao Bằng.
23
- Bác sĩ Sói.
- Nội qui Đảo
Khỉ.
(- Sư Tử xuất
quân.)
- Nhà ảo thuật.

- Chương trình
xiếc đặc sắc.
(- Em vẽ Bác Hồ.)
- Hoa học trò.

25 - Trường em. - Sơn Tinh, Thủy - Hội vật. - Khuất phục - Phong cảnh
12
- Tặng cháu.
- Cái nhãn vở.
Tinh.
- Bé nhìn biển.
(- Dự báo thời
tiết.)

- Hội đua vơi ở
Tây Nguyên.
(- Ngày hội rừng
xanh.)
tên cướp biển.

- Bài thơ về
tiểu đội xe
không kính.
đền Hùng.

- Cửa sông.
26
- Bàn tay mẹ.
- Cái Bống.

- Tôm Càng và
cá con.
- Sông Hương.
(- Cá sấu sợ cá
mập.)

- Vì bây giờ
mẹ mới về.
- Kho báu.

- Cây dừa.
(- Bạn có biết?)
- Cuộc chạy đua
trong rừng.

- Cùng vui chơi.
(- Tin thể thao.)

29
- Đầm sen.
- Mời vào.
- Chú công.
- Những quả đào.
- Cây đa quê
hương.
(- Cậu bé và cây
si già.)
- Buổi học thể dục.- Lời kêu gọi toàn
dân tập thể dục.
(- Bé thành phi
công.)
- Đường đi
SaPa.

nghìn ngày
vòng quanh
trái đất.

- Dòng sông
mặc áo.
- Thuần phục sư
tử.

- Tà áo dài Việt
Nam.
13
31
- Ngưỡng cửa
- Kể cho bé
nghe.
- Hai chị em.
- Chiếc rễ đa
tròn.

- Cây và hoa bên
Lăng Bác.
(- Bảo vệ như thế
là rất tốt.)
- Bác sĩ Y-éc-
xanh.

- Bài hát trồng
cây.
(- Con cò.)

- Út Vịnh.

- Những cánh
buồm.
33
- Cây bàng.
- Đi học.
- Nói dối hại
thân.
- Bóp nát quả
cam.

- Lượm.
(- Lá cờ.)
- Cóc kiện trời.

- Mặt trời xanh
của tôi.
(- Quà của đồng
nội.)
- Vương quốc
vắng nụ cười
(tt).

- Con chim
chiền chiện.
- Luật Bảo vệ,
chăm sóc và
giáo dục trẻ em.


- Anh hùng
biển cả
- Ò… ó… o 1.2.2.Thực tiễn vận dụng hệ thống câu hỏi để dạy tập đọc ở một số trường tiểu học
Việc sử dụng hết các câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa khi thực hiện tiết dạy
của phân môn Tập đọc là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên. Nhưng
sử dụng như thế nào các câu hỏi đó giúp cho học sinh nắm vững nội dung và hiểu một
cách sâu sắc về ý nghĩa giáo dục trong bài thì lại phụ thuộc vào khả năng sử dụng và
phương pháp dạy học cũng như hình thức tổ chức dạy học của giáo viên. Chúng tôi đã
tiến hành điều tra 30 giáo viên về việc sử dụng câu hỏi trong dạy Tập đọc của 2 trường
14
Tiểu học đó là trường Tiểu học Quảng Phong và trường Tiểu học số 1 Ba Đồn ở Thị
xã Ba Đồn – Tỉnh Quảng Bình. Nội dung điều tra gồm các câu hỏi:
1. Anh (chị) có sử dụng hết các câu hỏi trong sách giáo khoa không?
2. Anh (chị) có sử dụng thêm câu hỏi nào không?
3. Theo anh (chị) có câu hỏi nào chưa phù hợp không?
4. Học sinh có trả lời hết các câu hỏi trong bài Tập đọc không?
Kết quả thu được như sau:
Trường Tiểu học số 1 Ba Đồn:
Câu hỏi

Số GV
Kết quả
Có Không
1 15 15 0
2 15 15 0
3 15 15 0
4 15 1 14

Có nhiều cách phân loại hệ thống câu hỏi, nhưng trong công trình này, chúng tôi
sử dụng cách phân loại câu hỏi của tác giả Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga trong
giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Theo đó, chúng tôi xin đưa ra
cách phân loại câu hỏi như sau:
2.1.1. Nhóm câu hỏi có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản
a. Câu hỏi tái hiện một phần hoặc toàn bộ văn bản
- Cách tạo dựng câu hỏi: Nhóm câu hỏi này yêu cầu tính làm việc độc lập của học
sinh chưa cao. Học sinh chỉ cần nhận diện, ghi nhớ, phát hiện ra các từ ngữ, câu, đoạn,
hình ảnh, chi tiết của văn bản.
- Tác dụng: Những câu hỏi thuộc nhóm này sẽ luyện cho học sinh về trí nhớ.
- Ví dụ:
+ Học thuộc lòng bài thơ.
(Gọi bạn – TV 2 tập 1)
+ Kể lại cuộc chiến đấu giữa hai vị thần.
(Sơn Tinh, Thủy Tinh – TV 2 tập 2)
+ Kể lại những thay đổi của bầu trời và mọi vật khi mùa xuân đến.
(Mùa xuân đến – TV 2 tập 2)
+ Học thuộc lòng một đoạn văn em thích.
(Nhớ lại buổi đầu đi học – TV 3 tập 1)
+ Học thuộc lòng khổ thơ em thích.
(Cái cầu – TV 3 tập 2)
+ Phân vai đọc các đoạn kịch trên.
(Ở Vương quốc Tương Lai – TV 4 tập 1)
b. Câu hỏi yêu cầu học sinh xác định đề tài và nhân vật của bài
- Cách tạo dựng câu hỏi: Vì đặc điểm của loại câu hỏi này chỉ dừng ở mức độ
thấp, chỉ yêu cầu học sinh trả lời dựa trên từ ngữ có sẵn trong văn bản nên câu hỏi xác
định đề tài của văn bản thường có dạng hỏi trực tiếp: “Câu chuyện này nói về ai?”,
“Câu chuyện này nói về cái gì?”.
16
- Tác dụng: Loại câu hỏi này rèn cho học sinh có kĩ năng nhận ra đề tài văn bản,

triển. Ngoài ra, loại câu hỏi này còn giúp học sinh được rèn luyện về trí nhớ, nhớ lại
những nội dung, chi tiết liên quan càng nhiều, càng chính xác càng tốt.
- Ví dụ:
+ Sẻ làm gì khi Mèo đặt nó xuống đất?
(Mưu chú Sẻ – TV 1 tập 2)

17
+ Bạn nhỏ thấy gì khi mở quyển vở?
(Quyển vở của em – TV 1 tập 2)
+ Từ ngữ nào cho biết Mai mong được viết bút mực?
(Chiếc bút mực – TV 2 tập 1)
+ Hình ảnh nào chứng tỏ Thần Gió phải bó tay?
(Ông Mạnh thắng Thần Gió – TV 2 tập 2)
+ Tìm những chi tiết cho thấy Quang rất ân hận trước tai nạn do mình gây ra.
(Trận bóng dưới lòng đường – TV 3 tập 1)
+ Tìm những chi tiết nói lên nỗi vất vả của đoàn quân vượt dốc.
(Trên đường mòn Hồ Chí Minh – TV 3 tập 2)
+ Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt.
(Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – TV 4 tập 1)
+ Tìm những hình ảnh đẹp nói lên tình yêu thương và niềm hi vọng của người
mẹ đối với con.
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – TV 4 tập 2)
+ Những chi tiết nào về thời tiết và con người đã làm cho bức tranh làng quê
thêm đẹp và sinh động?
(Quang cảnh làng mạc ngày mùa – TV 5 tập 1)
+ Chi tiết nào trong truyện gây bất ngờ cho người đọc?
(Tiếng rao đêm – TV 5 tập 2)
d. Câu hỏi yêu cầu học sinh phát hiện ra những câu quan trọng của bài
- Cách tạo dựng câu hỏi: Hình thức của loại câu hỏi này thường là hãy tìm câu
văn, câu thơ cho thấy tầm quan trọng của văn bản, hoặc tìm những câu văn, câu thơ

dạng: Bài này gồm mấy đoạn? Mỗi đoạn từ đâu đến đâu? Hoặc cụ thể hơn như: Mỗi ý
sau được nói đến trong khổ thơ, đoạn văn nào?
- Tác dụng: Giúp học sinh có kĩ năng nhận biết cấu trúc, bố cục của văn bản, mối
quan hệ giữa các bộ phận trong bài, nhận biết được những phương tiện liên kết văn
bản thành một thể thống nhất. Không những thế, mục đích của những câu hỏi này còn
giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt văn bản, rút ra được ý chính của đoạn văn, khổ thơ.
Với những văn bản nghệ thuật, học sinh biết phân tích đề tài, chủ đề, trả lời được câu
hỏi bài nói về cái gì và người viết muốn đạt đến cái gì với văn bản đó. Đây là một kĩ
năng thiết yếu phải hình thành khi dạy học nhằm giúp học sinh biết vận dụng vào phân
môn Tập làm văn, nhất là các lớp 3, 4, 5.
- Ví dụ:
+ Tìm đoạn văn tương ứng với từng nội dung sau:
19
a) Tả ngôi trường từ xa
b) Tả lớp học
c) Tả cảm xúc của học sinh dưới mái trường mới.
(Ngôi trường mới – TV 2 tập 1)
+ Tìm đoạn mở bài, thân bài, kết bài của truyện.
(Văn hay chữ tốt – TV 4 tập 1)
+ Bài văn trên có mấy đoạn? Em hãy đặt tên cho từng đoạn văn.
(Đất Cà Mau – TV 5 tập 1)
2.1.2. Nhóm câu hỏi làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản
Đây chính là nhóm câu hỏi yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa của từ ngữ, câu,
đoạn, bài, hình ảnh, chi tiết. Những câu hỏi này yêu cầu học sinh phải có thao tác cắt
nghĩa, biết khái quát hóa và suy ý để rút ra được các ý nghĩa của các đơn vị trong văn
bản (hoặc tác phẩm).
Trong nhóm này có những kiểu câu hỏi sau:
a. Câu hỏi yêu cầu giải nghĩa từ, ngữ
- Cách tạo dựng câu hỏi: Câu hỏi này có dạng: Em hiểu nghĩa của từ đó nói gì?,
so sánh nghĩa các từ, đặt câu để phân biệt nghĩa của từ,… hoặc: Hãy giải thích ý nghĩa

+ Vì sao quạ không thể uống nước trong lọ?
(Con quạ thông minh – TV 1 tập 2)
+ Vì sao mẹ hỏi: “Con vẽ con gì đây?”
(Thêm sừng cho ngựa – TV 2 tập 1)
+ Vì sao nói sông Hương là một đặc ân của thiên nhiên dành cho thành phố Huế?
(Sông Hương – TV 2 tập 2)
+ Đoạn cuối bức thư cho thấy tình cảm của Đức với bà như thế nào?
(Thư gửi bà – TV 3 tập 1)
+ Em hiểu câu nói của ba bạn Nga như thế nào?
(Chú ở bên Bác Hồ - TV 3 tập 2)
+ Cậu bé không có gì cho ông lão, nhưng ông lão lại nói: “Như vậy là cháu đã
cho lão rồi”. Em hiểu cậu bé đã cho ông lão cái gì?
(Người ăn xin – TV 4 tập 1)
c. Câu hỏi tìm đại ý, nội dung chính của bài
- Cách tạo dựng câu hỏi: Thông qua nội dung bài tập đọc sẽ có các câu hỏi đánh
giá, khái quát nội dung bài bằng những câu hỏi tổng quát nêu lên ý chính hay đại ý của
bài. Cấu trúc của câu hỏi này có dạng hỏi trực tiếp: “Bài thơ, câu chuyện này nói lên
điều gì?” Hay “Ý nghĩa của câu chuyện này là gì?”.
- Tác dụng: Đây chính là việc tìm chủ đề – vấn đề cơ bản của văn bản. Nhờ đó,
học sinh hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản, bồi dưỡng nhân sinh quan cho các
em (đặc biệt là qua các câu chuyện kể).

21
- Ví dụ:
+ Bài thơ nói lên tình cảm gì của bạn học sinh với ngôi trường?
(Cái trống trường em – TV 2 tập 1)
+ Câu chuyện muốn khuyên chúng ta điều gì?
(Kho báu – TV 2 tập 2)
+ Các âm thanh trên nói lên điều gì về cuộc sống của thành phố?
(Âm thanh thành phố - TV 3 tập 2)

+ Nếu có ba điều ước, em sẽ ước những gì?
(Ba điều ước – TV 3 tập 1)
+ Theo em, khoa học đem lại lợi ích gì cho con người?
(Nhà bác học và bà cụ - TV 3 tập 2)
+ Em biết những tranh, ảnh, tượng hay bài hát nào về Bác Hồ?
(Em vẽ Bác Hồ - TV 3 tập 2)
+ Em mơ ước đất nước ta mai sau sẽ phát triển như thế nào?
(Trung thu độc lập - TV 4 tập 1)
b. Câu hỏi yêu cầu làm rõ, bình giá về nghệ thuật của văn bản
- Cách tạo dựng câu hỏi: Đây là những câu hỏi yêu cầu học sinh chỉ ra cái hay
của việc dùng từ, giá trị của từ ngữ, biện pháp tu từ, hình ảnh trong những bài thơ, bài
văn miêu tả, những chi tiết, nhân vật, nghệ thuật kể chuyện của văn bản truyện. Câu
hỏi này có dạng: Em thích hình ảnh nào? Vì sao?
- Tác dụng: Giúp học sinh phát hiện ra được những mối liên hệ bên trong của văn
bản để thấy nghĩa hàm ẩn của nó chứ không chỉ có nghĩa hiển hiện. Ngoài ra, dạng câu
hỏi này còn giúp học sinh hiểu các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu nhất, những cách dùng
từ ngữ “bất thường, đắt giá” có tính nghệ thuật cao. Qua đó, học sinh tìm ra được chủ
đề mà tác giả muốn gửi gắm vào bài văn, bài thơ.
- Ví dụ:
+ Em thích nhân vật nào? Vì sao?
(Những quả đào – TV 2 tập 2)
+ Em thích chi tiết nào nhất? Vì sao?
(Bảo vệ như thế là rất tốt – TV 2 tập 2)
+ Những từ ngữ nào được lặp đi lặp lại trong bài thơ? Cách lặp ấy có tác dụng gì?
(Bài hát trồng cây – TV 3 tập 2)
+ Em có thích gọi lá cọ là “mặt trời xanh” không? Vì sao?
(Mặt trời xanh của tôi – TV 3 tập 2)

23
+ Nêu một hình ảnh nhân hóa mà em thích. Cho biết vì sao em thích.

trở nên dễ dàng hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status