Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu xu thế thôn tính và sáp nhập (ma) trong lĩnh vực tài chính ở châu âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay bài học đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính - Pdf 16

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU XU THẾ THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A) TRONG
LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH HIỆN NAY – BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Mai Hà Linh
Lớp : Anh 15
Khóa : K45E
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Trần Trung Dũng
Hà Nội - 05/2010 MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

hướng thôn tính và sáp nhập trên thị trường tài chính ngân hàng châu Âu37
2. Xu hướng thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở
Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay 38
2.1. Nhận xét chung 38
2.2. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các ngân hàng 42
2.3. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty bảo hiểm 52
2.4. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh
vực quản trị tài sản 58
2.5. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh
vực chứng khoán 61
3. Nhận định về hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) của các doanh
nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính
hiện nay 66
CHƢƠNG III: BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT
ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM69
1. Tình hình hoạt động thị trường thôn tính và sáp nhập (M&A) đối với các
doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Việt Nam trong hai năm 2008 – 2009 69
1.1. Diễn biến các hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) ở các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam 70
1.2. Nguyên nhân của những diễn biến hoạt động thôn tính và sáp nhập
của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt
Nam trong hai năm 2008 và 2009 80
2. Bài học cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng ở Việt Nam 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
I. Tài liệu tiếng Việt 97
II. Tài liệu nước ngoài 98
Đồ thị 3.4. Tỷ lệ lạm phát Việt Nam thời kỳ 2003 – 2009 (%) 83
Đồ thị 3.5. Chỉ số VNIndex thời kỳ 1/2006 – 7/2009 84

1 LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) là hoạt động không thể thiếu
trong lịch sử hình thành và quá trình phát triển của bất cứ một tập đoàn lớn
nào trên thế giới và là một hoạt động rất quan trọng trong bất cứ một thị
trường nào đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế với những doanh nghiệp
lớn mạnh.
Ngành tài chính ngân hàng với cơ cấu phức tạp, nơi mà các nhà đầu tư
có thể thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ, đồng thời cũng phải đối mặt
với khá nhiều rủi ro mỗi khi có biến động kinh tế vĩ mô, luôn là nơi hoạt động
thôn tính sáp nhập (M&A) diễn ra sôi động. Thị trường tài chính ngân hàng
châu Âu là một trong những thị trường tài chính sôi động trên thế giới. Cuộc
khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ nhưng đã có ảnh hưởng không nhỏ đến
hoạt động các công ty và tác động đến xu thế thôn tính và sáp nhập ở đây.
Ở Việt Nam, hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) mới được quan
tâm kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời và trở nên đặc biệt sôi động
trong thời gian gần đây. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng ở Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng
hoảng tài chính như các doanh nghiệp cùng ngành ở châu Âu, nhưng cũng đã
gặp không ít khó khăn khi nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại, lạm phát
cao và chính phủ đưa ra một số quy định về vốn của các tổ chức tài chính.
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu xu hướng thôn tính và sáp
nhập của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng trên thị trường châu Âu để từ
đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam là một
đòi hỏi cấp thiết. Nhận thiết được đòi hỏi cấp thiết này đối với hoạt động của


3

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm thôn tính và sáp nhập (M&A)
1.1. Định nghĩa M&A
Theo Cẩm nang Thôn tính và sáp nhập, mạng Thôn tính và sáp nhập
Việt Nam (www.manetwork.vn):
Thôn tính và sáp nhập (M&A) là hoạt động giành quyền kiểm soát một
doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần
hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó.
Theo Andrew J. Sherman và Milledge A. Hart trong sách Thôn tính và
sáp nhập, từ A đến Z:
- Mua lại (Acquisition): Việc mua một tài sản như một nhà máy, một bộ
phận của công ty, hoặc cả công ty.
- Sáp nhập (Merger): Sự kết hợp của hai hay nhiều công ty sao cho tài
sản và vốn của công ty bán sẽ thuộc về công ty mua. Sau thương vụ mua bán
này, cho dù sẽ có những thay đổi nhất định về phía công ty mua, công ty này
vẫn giữ nguyên tên.
Trong luật Doanh Nghiệp Việt Nam 2005, có những quy định về những
hoạt động liên quan đến việc thôn tính và sáp nhập doanh nghiệp như sau:
- Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi
là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là
công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các
công ty bị hợp nhất. (Điều 152,khoản 1)

4

- Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây

chiến lược kinh doanh của các bên tham gia. Ví dụ, một công ty mua lại một
công ty khác, giành quyền kiểm soát và xóa sổ công ty bị mua. Nếu doanh
nghiệp mua quyết định chấm dứt hoạt động của công ty bị mua trên giấy tờ,
thì đây sẽ được coi là một vụ sáp nhập (theo định nghĩa luật Cạnh tranh Việt
Nam 2004). Ngược lại, đây có thể được tuyên bố là một vụ mua lại (theo định
nghĩa luật Cạnh tranh Việt Nam 2004).
Như vậy, chúng ta cần chú ý là hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A)
liên quan đến vấn đề sở hữu cũng như thực hiện quyền sở hữu để tạo ra những
giá trị mới cho cổ đông. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thôn tính và sáp
nhập (M&A) là phải tạo ra những giá trị mới cho cổ đông mà việc duy trì tình
trạng cũ không đạt được.
Thuật ngữ thôn tính và sáp nhập (M&A) được sử dụng xuyên suốt
trong bài này sẽ bao quát tất cả các hình thức của M&A được nêu trong định
nghĩa của Andrew J. Sherman và Milledge A. Hart, hay nói cách khác tương
ứng với những định nghĩa về sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp
được nêu trong luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 vừa được nêu ở trên.
1.2. Một số trƣờng hợp không đƣợc coi là thôn tính và sáp nhập
(M&A)
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) không chỉ làm thay đổi tình
trạng sở hữu của doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay
đổi hoạt động quản trị doanh nghiệp, hay nói cách khác để được coi là một
thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A), thì sau khi thương vụ mua bán xảy
ra, doanh nghiệp mua cần có quyền kiểm soát và quản trị đối với doanh

6

nghiệp hoặc phần tài sản được bán của doanh nghiệp bán. Chính vì vậy,
những hoạt động dưới đây không được coi là hoạt động thôn tính và sáp nhập
(M&A)
- Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác, tuy vậy, số

hệ nào với nhau.
 Sáp nhập bành trướng về địa lý: Hai công ty kinh doanh ở trên hai
thị trường hoàn toàn cách biệt về mặt địa lý.
 Sáp nhập đa dạng hóa sản phẩm: Hai công ty sản xuất hai loại sản
phẩm khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc
tiếp thị gần giống nhau.
2.2. Phân loại theo tính chất thân thiện và thù địch của thƣơng vụ
thôn tính và sáp nhập (M&A)
- Thôn tính và sáp nhập thân thiện (friendly M&A): thương vụ được tiến
hành dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên.
- Thôn tính và sáp nhập thù định (hostile M&A): hội đồng quản trị của
công ty bị mua không được biết trước về thương vụ này, và không có ý định
thực hiện thương vụ. Cổ đông của công ty bị sáp nhập và mua lại có thể được
trả tiền để bán lại cổ phiếu của mình và mất hoàn toàn quyền kiểm soát đối
với công ty. Công ty bị bán có thể chấm dứt sự tồn tại cả về đăng ký và tổ
chức. Trường hợp này có thể xảy ra khi bên mua và bên bán là đối thủ cạnh
tranh. Bên mua thực hiện thương vụ có thể chỉ để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh
của mình trên thị trường. Trong rất nhiều trường hợp của những thương vụ
thôn tính và sáp nhập mang tính chất thù địch, ban giám đốc của công ty mục
tiêu sẽ bị thay thế sau thương vụ.

8

3. Các bên tham gia một thƣơng vụ thôn tính và sáp nhập (M&A)
3.1. Bên mua
a. Bên mua chiến lược (strategic buyer)
Khi nhắc đến bên mua chiến lược chúng ta hiểu rằng đó là công ty thực
hiện mua lại công ty khác để phát triển công việc làm ăn hiện tại của công ty
mình. Thông thường sau khi mua lại doanh nghiệp khác hoặc một phần tài sản
của công ty khác, công ty với vai trò là người mua chiến lược sẽ củng cố, thực

như một công ty hoạt động riên biệt, tăng cường hiệu quả hoạt động của nó,
và sau đó bán lại các công ty này để thu lợi nhuận khổng lồ.
Về cơ bản, những công ty thực hiện việc mua lại các công ty khác vì
mục đích tài chính sẽ vấp phải hai khó khăn sau. Thứ nhất, công ty và nhà đầu
tư khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập như vậy thường mong đợi
những khoản lợi nhuận khổng lồ. Điều này có nghĩa là khoản lợi nhuận đó
phải lớn hơn hẳn khoản đầu tư tương đương mà công ty hoặc nhà đầu tư có
thể thực hiện trên thị trường. Thứ hai, lời đề nghị mua lại của công ty có thể
sẽ bị đánh giá thấp hơn lời đề nghị mua lại từ những công ty mua chiến lược,
những công ty mà sẽ tích hợp hoạt động của công ty mục tiêu vào hoạt động
kinh doanh hiện tại của họ.
Có những loại công ty mua vì mục đích tài chính sau:
- Công ty vốn cổ phần tư nhân: Đây là những công ty thu thập một lượng
lớn vốn từ những nhà đầu tư tư nhân và tổ chức, sau đó thực hiện việc đầu tư
vào một danh mục công ty.
- Những người mua quản trị: Trong một số trường hợp, công ty vốn cổ
phần tư nhân sẽ kết hợp với một đội ngũ những nhà quản trị để thực hiện việc
mua lại công ty khác. Công ty mục tiêu trong những trường hợp này có thể là

10

một công ty đại chúng (công ty đã phát hành cổ phiếu ra công chúng) hoặc
công ty tư nhân. Trong những trường hợp này, khác với những thương vụ
thôn tính và sáp nhập được thực hiện bởi chỉ riêng công ty vốn cổ phần tư
nhân khi mà đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được rất ít lợi nhuận từ thương
vụ, ở đây, đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn.
3.2. Bên bán
a. Bên bán một phần công ty (partial sellers)
Đây là những công ty bán một phần hoạt động kinh doanh của mình
cho công ty khác. Trong một số trường hợp, đây là thương vụ đầu tiên trong

thôn tính và sáp nhập, và ngược lại các thương vụ thôn tính và sáp nhập càng
khiến cuộc cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt hơn. Khi tiến hành thôn
tính và sáp nhập, không những các công ty khiến mình trở nên mạnh hơn nhờ
quy mô công ty lớn hơn, mà còn thông qua việc giảm bớt một đối thủ cạnh
tranh trên thị trường (sáp nhập ngang), hoặc gây khó cho đối thủ cạnh tranh
trong việc tìm nguồn cung ứng đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm đầu ra (sáp
nhập dọc).
b. Môi trường kinh doanh thay đổi
Khi môi trường kinh doanh thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra một
cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh nghiệp bị đẩy vào tình trạng thiếu
thanh khoản, vỡ nợ, sụt giảm giá trị tài sản, và buộc bị đẩy vào tình trạng bị
thâu tóm. Trong những trường hợp như vậy, dù cho bên bán không có chủ

12

động muốn bán, nhưng bên thâu tóm (bên mua) thì lại có rất nhiều động cơ để
thâu tóm để mở rộng, bành trướng sự ảnh hưởng và quyền lực trên thị trường.
Ngoài ra, môi trường kinh doanh thay đổi cũng sẽ tác động đến quá
trình định giá tài sản. Nếu môi trường kinh doanh hiện tại khó khăn, tài sản có
thể sẽ bị đánh giá thấp hơn, một phần vì bên bán có thể rất cần khoản tiền thu
được từ thương vụ, một phần nữa vì bên mua có thể kỳ vọng môi trường kinh
doanh tiếp tục xấu, do vậy, tài sản mua về sẽ có thể không tạo ra nhiều giá trị
cho bên mua.
4.2. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên mua
a. Cân nhắc chi phí lợi ích giữa việc tự xây dựng và mua lại
Không phải trong tất cả mọi trường hợp, doanh nghiệp đều cân nhắc
giữa việc mua lại và xây dựng khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập.
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng, trong tất cả các vụ mua lại, bên mua đều
có một sự lựa chọn thay thế, đó là quyết định xây dựng bộ phận kinh doanh /
tài sản đó mới từ đầu. Trong một số trường hợp, khi cần cân nhắc giữa việc

doanh nghiệp phải tập trung nhiều nguồn lực vào việc này, ảnh
hưởng đến việc tập trung nguồn lực vào những mục tiêu chính yếu
khác của doanh nghiệp.
- Mua lại:
 Lợi thế: Việc mua lại dường như đơn giản hơn việc tạo dựng mới
một bộ phận / công ty mới. Mua lại đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu
tư ít thời gian hơn so với việc xây mới từ đầu. Mua lại một công ty
khác cũng cho phép công ty mua có được kinh nghiệm, kiến thức
sẵn có của công ty bị mua.
 Bất lợi: Việc mua lại một công ty khác tỏ ra đắt đỏ hơn việc tạo
dựng từ đầu, vì nó đòi hỏi bên mua phải ngay lập tức có sẵn một
khoản tiền lớn. Bên cạnh đó, khi mua một công ty khác, bên mua sẽ

14

đối mặt với vấn đề hòa nhập văn hóa, phương thức kinh doanh của
phần công ty đã mua với phần công ty sẵn có.
b. Thêm khách hàng và gia tăng thị phần
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất khi quyết định mua lại một
công ty khác của bên mua là khách hàng của công ty bán. Công ty mua có thể
mong muốn có thêm nhiều mối quan hệ với khách hàng hơn, hoặc gia tăng
khách hàng ở các vùng địa lý khác nhau, hoặc các thành phần khách hàng
(khách hàng doanh nghiệp và người tiêu dùng).
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, công ty mua sẽ vấp phải sự sụt
giảm số lượng khách hàng của công ty mục tiêu sau khi mua lại công ty này.
Sự sụt giảm này có thể là cả về số lượng và chất lượng khách hàng (khách
hàng trở nên ít trung thành với công ty hơn, sự sẵn sàng tiêu dùng hàng hóa /
dịch vụ của công ty và số tiền sẵn lòng bỏ ra ít hơn).
Có một vài lý do cho việc sụt giảm khách hàng này. Đầu tiên, bất cứ vụ
thôn tính và sáp nhập nào cũng sẽ tạo ra những sự thay đổi trong công ty bị

mới hoặc sản phẩm mới này với những dòng sản phẩm hiện có của công ty,
liệu công ty có thể sử dụng hiệu quả những nguồn lực mình hiện có như đội
ngũ nhân viên bán hàng, thương hiệu của công ty để sử dụng hiệu quả nhất bí
quyết kỹ thuật và sản phẩm mới. Trong một số trường hợp, những dòng sản
phẩm mới cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có khả năng tiếp cận thị
trường mới, khách hàng mới.
Bên mua cũng có thể muốn giành được quyền sử dụng những bí quyết
kỹ thuật có thể áp dụng cho quá trình sản xuất mặt hàng của họ. Việc này
thường xảy ra trong thôn tính và sáp nhập theo chiều dọc. Ví dụ: một công ty
sản xuất điện thoại muốn mua lại công ty sản xuất camera nhỏ để sản xuất

16

điện thoại có thể quay phim; công ty sản xuất ô tô có thể mua lại công ty sản
xuất máy lắp ráp tự động được sử dụng trong dây chuyền của công ty mua.
Việc thôn tính và sáp nhập theo kiểu này cũng có thể được sử dụng để gây
khó khăn cho đối thủ cạnh tranh trong việc tìm kiếm nhà cung cấp công nghệ.
e. Thương hiệu:
Trong một số trường hợp, mục tiêu của bên mua có thể là thương hiệu
của công ty mục tiêu trong sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, sản phẩm. Tuy
nhiên, những sản phẩm, dịch vụ hoặc phương cách làm việc của hai công ty
không thể tích hợp hiệu quả với nhau sau thương vụ, thương hiệu mà bên mua
giành được rất có thể bị ảnh hưởng và phát huy tác dụng ít hơn các bên tính
toán ban đầu.
f. Yếu tố con người
Yếu tố con người là yếu tố được bàn đến trong rất nhiều các mục tiêu
khác của bên mua (xâm nhập khu vực địa lý mới, kỹ thuật, sản phẩm, v.v…).
Khi mua lại được một cong ty có đội ngũ nhân viên hoạt động hiệu quả, bên
mua sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí tuyển dụng, đào tạo. Ở rất nhiều lĩnh
vực chuyên ngành, đôi khi mục tiêu chủ yếu của thương vụ thôn tính và sáp

thị trường lớn hơn cho công ty, bởi bất cứ quyết định nào của công ty cũng sẽ
gây ảnh hưởng lớn hơn tới các đối thủ cạnh tranh, và ngược lại công ty ít chịu
ảnh hưởng bởi quyết định của đối thủ cạnh tranh hơn. Thêm vào đó, với một
vị thế mạnh trên thị trường, công ty sẽ có lợi thế hơn khi làm việc và thương
lượng với các đối tác của mình.

18

4.3. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên bán
a. Thị trường hoặc ngành đứng trước xu hướng đi xuống
Bất cứ thị trường nào hoặc ngành nào cũng có những thời gian đi lên và
thời gian đi xuống. Nếu một công ty cảm thấy trong thời gian tới, thị trường
mình tham gia hoặc ngành của mình có nhiều dấu hiệu của việc đi xuống, và
trong suốt thời gian như vậy, việc làm ăn kinh doanh của công ty không đem
lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư bằng các cơ hội đầu tư khác, công ty có thể
chọn phương án bán lại công ty cho một công ty khác (bị mua lại/sáp nhập/
hợp nhất với một công ty khác) vào những thời điểm có thể đem lại lợi ích (số
tiền nhận được) lớn nhất cho cổ đông, nhà đầu tư của công ty.
b. Đội ngũ nhân viên, vốn, công nghệ của công ty không thể đáp ứng
được nhu cầu tiếp tục phát triển của công ty
Trường hợp này xảy ra với các công ty ở các thị trường ngách hoặc thị
trường khu vực. Đây là những công ty đã rất thành công ở thị trường ngách
hoặc thị trường khu vực của mình, ví dụ như một công ty chuyên sản xuất
quần áo cho trẻ em, một công ty chuyên cung cấp đồ ăn nhanh cho một khu
vực nào đó. Tuy vậy, công ty không đủ nguồn lực để phát triển, mở rộng công
việc làm ăn của mình sang lĩnh vực, khu vực địa lý lớn hơn, hoặc sang thị
trường chính. Như trong ví dụ trên, công ty sản xuất quần áo trẻ em không đủ
tiền, năng lực và kinh nghiệm để mở rộng việc sản xuất thêm cả quần áo cho
người lớn, công ty cung cấp đồ ăn nhanh không thể phát triển ra phạm vi cả
nước. Trong những trường hợp như vậy, người chủ công ty có thể đồng ý với


20

e. Những lý do liên quan đến nhà đầu tư của doanh nghiệp
Quyết định của nhà đầu tư trong việc giữ lại hay bán đi cổ phần của
mình tại công ty liên quan rất chặt chẽ đến việc doanh nghiệp có thể bị mua
lại hay không.
Thông thường, khi đầu tư vào một công ty, nhà đầu tư sẽ cân nhắc giữa
tỷ lệ lợi nhuận thu được và mức độ rủi ro của khoản đầu tư, và so sánh tỷ lệ
lợi nhuận với những khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường.
Khi khoản đầu tư vào công ty mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi nhuận thấp
hơn một khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường, nhà đầu tư
sẽ bắt đầu cân nhắc đến khả năng rút vốn khỏi công ty bán lại cổ phần của
mình tại công ty.
Quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu
tư giữa tỷ lệ lợi nhuận cao và mức độ an toàn. Khi đầu tư vào những công ty
mới thành lập, nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao cùng với tỷ lệ lợi
nhuận cao hơn. Khi công ty bắt đầu phát triển, mở rộng sản xuất, mức độ rủi
ro của khoản đầu tư sẽ thấp hơn, nhưng tỷ lệ lợi nhuận thu được sẽ thấp hơn.
Như vậy, nếu nhà đầu tư là người thích rủi ro và mong muốn tỷ lệ lợi nhuận
cao hơn là một khoản thu nhập an toàn, nhà đầu tư sẽ tìm cách rút vốn ra khỏi
công ty khi công ty phát triển qua thời kỳ mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi
nhuận cao nhất.
Trong một số trường hợp, quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc
vào tình trạng của danh mục đầu tư mà nhà đầu tư đó đang nắm giữ. Khi danh
mục đầu tư của nhà đầu tư đang hoạt động không tốt, nhà đầu tư có thể quyết
định bán cổ phần của mình ở một công ty đang hoạt động tốt nào đó để bù
đắp lại những khoản lỗ từ những khoản đầu tư không tốt từ danh mục đầu tư
của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status