Khóa Luận Tốt nghiệp
“Tìm hiểu văn hóa thưởng trà của
người Hà Nội”
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
1.1 Thưởng trà - nét ẩm thực độc đáo của văn hoá Việt 3
1.2 Thưởng trà – tinh hoa ẩm thực đất Hà thành 4
1.3 Thưởng trà - những giá trị văn hoá truyền thống của Hà Nội cần được bảo tồn. .5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3. Đối tượng nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6.1 Nguồn tài liệu 9
6.2 Phương pháp nghiên cứu 9
7. Đóng góp của khóa luận 10
8. Bố cục của khóa luận 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 12
VĂN HÓA THƯỞNG TRÀ CỦA NGƯỜI HÀ NỘI XƯA 12
1.1 Quá trình chuẩn bị 14
1.1.1 Chuẩn bị nguyên liệu 15
1.1.2 Chuẩn bị trà cụ 19
1.1.3 Chuẩn bị không gian và tâm thế thưởng trà 23
1.2 Tiến hành pha chế 25
1.2.1 Trà, nước, trà cụ 25
1.2.2 Pha trà 26
1.2.3 Rót trà 27
3.2.2 Thưởng trà để kết nối tâm giao 64
3.2.2 Thưởng trà để sống với thế giới tâm linh, chiêm nghiệm về cuộc sống nhân
sinh 67
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ 3 lý do sau mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu:
1.1 Thưởng trà - nét ẩm thực độc đáo của văn hoá Việt
Trà là quốc thủy của người Việt, là tinh chất của nền văn minh lúa
nước, trà đi vào tâm hồn Việt một cách tự nhiên, tĩnh lặng. Văn hóa trà Việt
không chỉ thể hiện là một thứ thức uống phổ biến trong đời sống sinh hoạt của
con người mà còn trở thành một thứ quan trọng và thiêng liêng trong phong
tục tập quán, là thú vui thanh cao, niềm tự hào của người Việt.
Người Việt Nam đã có thói quen dùng trà tự bao đời nay, không một
gia đình nào dù ở nông thôn hay thành thị, dù giàu có hay bần hàn mà lại
không có trong nhà một bộ ấm chén pha trà. Một thói quen không biết có từ
bao giờ và đã tạo thành một nếp sống văn hóa của gia đình người Việt, mỗi
3
khi nhà có khách đến chơi bao giờ việc đầu tiên cũng là pha một ấm trà mới,
mời khách rồi sau đó vừa uống trà vừa bàn chuyện. Trà đã là một thứ thức
uống quen thuộc, góp phần tạo nên điểm nhấn “vị ẩm” trong nghệ thuật ẩm
thực của người Việt, một thứ nghệ thuật chất chứa tính triết lý và nhân sinh
sâu sắc.
1.2 Thưởng trà – tinh hoa ẩm thực đất Hà thành
Hà Nội là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là nơi tụ hội của nhân tài cả
nước, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của toàn dân tộc. Văn hóa
thưởng trà của người Hà Nội là hội tụ đỉnh cao của nền văn hóa trà Việt. Đặt
trong nhịp sống hiện đại ngày hôm nay, văn hóa thưởng trà của người Hà Nội
huy vẻ đẹp truyền thống của một Hà Nội hào hoa, phong nhã.
5
Tất cả những lí do trên cùng sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn
Thắng, tôi đã mạnh dạn lựa chọn vấn đề: “Tìm hiểu văn hóa thưởng trà của
người Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa thưởng trà là một bộ phận cấu thành nên văn hóa ẩm thực.
Vấn đề này đã được rất nhiều người đề cập đến. Trong kho tàng văn hóa trà
thế giới có rất nhiều những chuyên luận viết và ngợi ca về trà.
Từ những công trình đã nghiên cứu, chúng tôi xin có cái nhìn tổng
quan mang tính khái lược nhóm thành những vấn đề nghiên cứu theo các
hướng sau:
Đề cập đến nền văn hóa trà Trung Hoa. Trước hết, là cuốn “Trà kinh”
của Lục Vũ, đây là cuốn chuyên khảo đầu tiên về trà trên thế giới. Đây được
coi là cuốn bách khoa thư về trà lâu đời nhất đời Nhà Đường và có ảnh hưởng
sâu rộng nhất đến các đời sau này. Một số tác giả như Vũ Thế Ngọc với cuốn
“Trà Kinh – nghệ thuật thưởng trà trong lịch sử và văn hóa phương Đông”.
Đây là một cuốn sách cũng có thể coi là vô cùng giá trị. Ông đã có một cách
nhìn hết sức tinh tế, trên cơ sở kế thừa những kiến thức trong cuốn “Trà
Kinh” của Lục Vũ, Vũ Thế Ngọc đã phát triển nghiên cứu về lịch sử cây chè,
nghệ thuật thưởng trà và văn hóa phương Đông. Trong đó có một chương bàn
về “Trà Việt” tương đối hay. Nói chung, đó là sự tổng hợp những kiến thức về
văn hóa trà phương Đông có giá trị to lớn đối với những người có mong muốn
tìm hiểu về văn hóa trà. Ngoài ra còn công trình “Trà văn hóa đặc sắc Trung
Hoa” của Đông A Sáng, đây cũng là kết quả kế thừa từ “Trà Kinh” của Lục
Vũ. Cuốn sách ca ngợi nền văn hóa trà Trung Hoa, từ việc nói về lịch sử cây
chè, mạn đàm về danh trà, trà cụ, nước, trà và những vai trò của trà trong cuộc
sống người Trung Hoa.
Đề cập đến nghệ thuật trà đạo Nhật Bản. Đầu tiên là cuốn Trà Thư
của Kakuro Okakura viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 1906 tại
người Hà Nội”. Báo cáo có đề cập đến trà Hà Nội xưa và nay, nêu ra được
thực trạng và một số giải pháp. Tuy nhiên, báo cáo chưa thật sự nghiên cứu
đúng hướng và sâu sắc theo tên của đề tài đưa ra, không tạo thành một hệ
thống kiến thức khiến người đọc không nắm bắt được ý tưởng của tác giả.
Ngoài ra, phải kể đến báo cáo khoa học năm 2008, Khoa Việt Nam học của
tác giả Trần Thị Kim Hoa với đề tài “Trà Hà Nội dưới góc nhìn văn hóa”.
Báo cáo đã nêu ra được quá trình phát triển của văn hóa trà Hà Nội từ truyền
thống đến hiện đại, có sự khảo sát thực tế tại một số quán trà trên địa bàn Hà
Nội, và đặt địa điểm nghiên cứu sâu là Lư Trà quán. Để từ đó thấy được thực
trạng phát triển của trà Hà Nội hiện nay và đề ra những giải pháp cho quá
trình phát triển trà Hà Nội.
Tuy nhiên, những tác phẩm và các công trình nghiên cứu trên phần thì
thiên về nghiên cứu các nền văn hóa trà lớn trên thế giới như Nhật Bản, Trung
Hoa. Còn những chuyên khảo về Trà Việt vẫn đang là một câu bỏ ngỏ. Một số
báo cáo nghiên cứu về văn hóa trà Hà Nội thì chưa thật sự nghiên cứu thành
một hệ thống rõ ràng, hoặc có nghiên cứu thì chỉ mới trên phương diện cảm
tính, chưa có những số liệu cụ thể để minh chứng cho tình hình phát triển văn
hóa thưởng trà của người Hà Nội. Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có một
tác giả nào nghiên cứu vấn đề về văn hóa thưởng trà của người Hà Nội theo
một quá trình xuyên suốt từ xưa đến nay, để thấy được hệ giá trị đặc sắc của
nó. Vì vậy mà quá trình tìm hiểu về văn hóa thưởng trà của người Hà Nội cần
được nghiên cứu thành một hệ thống kiến thức để thấy được quá trình phát
triển, bước chuyển mình của văn hóa thưởng trà của người Hà Nội từ xưa đến
nay, đồng thời rút ra được những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc sắc
nhất còn được bảo lưu, và phát triển thêm mới trong xã hội hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu rõ, đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là
văn hóa thưởng trà của người Hà Nội.
8
4. Phạm vi nghiên cứu
học cần thiết.
Phương pháp dân tộc học
Phương pháp dân tộc học bao gồm các phương pháp nghiên cứu như
phân tích – tổng hợp, thống kê, bảng biểu giúp tác giả tổng hợp được những
kiến thức liên ngành để hoàn thiện khóa luận. Nghiên cứu so sánh được tác
giả áp dụng để so sánh giữa nguyên liệu trà, trà cụ, cách thức pha chế, quá
trình thưởng thức của người Hà Nội so với một số quốc gia khác trên thế giới
như Nga, Ấn Độ, Nhật Bản,… Ngoài ra còn có cách thức mô tả để diễn tả
bằng ngôn từ toàn bộ quá trình chuẩn bị nguyên liệu, cách thức pha chế cũng
như cách thức thưởng thức các thức trà. Từ đó thấy được phong cách độc đáo,
tinh tế, phong nhã và hết sức lịch lãm của người Hà Thành.
Phương pháp điền dã
Đây là phương pháp được tác giả thực hiện một cách triệt để nhất. Vì
để có được những kết quả cụ thể, có những cách nhìn khách quan về tình hình
thưởng trà ở Hà Nội hiện nay.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa tại phần lớn các quán trà nổi
tiếng tại Hà Thành với nhiều phong cách khác nhau. Từ đó, đi đến quyết định
lựa chọn Hiên Trà Trường Xuân làm địa điểm nghiên cứu chuyên sâu.
7. Đóng góp của khóa luận
Đề tài được thực hiện sẽ có những đóng góp sau:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu
về văn hoá thưởng trà Hà Nội trong cái nhìn lịch đại theo mạch vận động của
thời gian từ truyền thống đến hiện nay.
Khẳng định nét tinh hoa đã tạo thành giá trị văn hoá ẩm thực đặc sắc
trong văn hoá thưởng trà của người Hà Nội.
10
Chỉ ra những nét văn hoá mới đang được hình thành, từ đó cho thấy
bức tranh văn hoá thưởng trà của người Hà Nội đang được tô thêm màu sắc
mới.
Góp phần khẳng định chất thanh lịch của người Tràng An thông qua
Người Hà Nội tài hoa, thanh lịch trong từng cử chỉ và lời nói. Nét tinh
tế được thể hiện trong lối sống, trong từng sản phẩm làm ra. Những thức quà
Hà Nội dù nhỏ bé, đơn giản, mộc mạc đấy nhưng chất chứa rất nhiều tâm
huyết cũng như bí quyết độc đáo để không thể trộn lẫn, không nơi nào có thể
sánh được.
Hà Nội không phải là mảnh đất trồng chè nhưng lại là nơi đánh dấu, là
điểm nhấn để khẳng định sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa trà Việt. Nơi
12
đây là địa điểm giao thương và buôn bán những sản vật quý của từng địa
phương, là nơi hội tụ những mặt hàng có giá trị và tinh tế nhất. Và trà cũng là
một trong những sản phẩm được người Hà Nội xưa vô cùng ưa chuộng, nâng
niu.
Theo sử sách ghi lại, hình thức uống trà được khởi nguồn từ các chùa
chiền. Như vậy cũng đồng nghĩa với việc thưởng trà gắn liền với đạo Phật của
người Việt, và hình thức thưởng trà này được gọi là Thiền Trà. Các nhà sư
thường thưởng trà vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn để giữ lòng thanh
tịnh. Hình thức thưởng trà này đã được nâng lên thành nghi lễ Thiền Trà.
Hình thức Thiền Trà ngày nay cũng đã phai nhạt đi rất nhiều, tuy nhiên tại
miền nam hình thức thiền trà tại các chùa còn tồn tại nhiều hơn so với các
chùa ở miền Bắc. Tại Hà Nội tới thời điểm hiện tại chỉ có chùa Vân Trì (Phú
Diễn – Từ Liêm) là tiến hành nghi lễ Thiền Trà định kỳ, ngoài ra chùa Đình
Quán (Phú Diễn – Từ Liêm) cũng có tổ chức nghi lễ này trong những dịp
quan trọng nhưng không đều đặn. Từ chùa chiền, hình thức thưởng trà nhanh
chóng được ưa chuộng trong chốn cung đình. Chỉ có những người thuộc tầng
lớp vua quan, quý tộc quyền quý mới thưởng thức trà với những hình thức hết
sức cầu kì, còn người dân bình thường chỉ uống chè tươi.
Trong suốt thời kỳ phong kiến, thưởng trà là cái thú chỉ có vua, quan lại
hoặc những gia đình quý tộc mới có. Và cách thức thưởng thức của họ vô
cùng cầu kỳ, tinh tế. Vào thế kỷ XVIII, trà đã trở thành một thức quý giá và
được trân trọng “Các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý
Người Hà Nội xưa để chuẩn bị cho mỗi buổi thưởng trà thường rất cầu
kỳ và cẩn trọng. Từ việc chuẩn bị nguyên liệu, trà cụ cho tới không gian và
tâm thế thưởng trà tất cả đều được chuẩn bị một cách chu đáo. Cho dù đó là
việc pha trà mời khách hay chỉ là pha trà cho riêng bản thân mình thưởng
thức.
14
1.1.1 Chuẩn bị nguyên liệu
“Nhất nước, nhì trà, tam pha, tứ ấm” đấy là kinh nghiệm của các bậc
tiền nhân sành trà để lại cho hậu thế. Nhưng nước, trà, ấm và cách thức pha
chế như thế nào để đạt được một ấm trà ngon, thỏa nguyện những người
thưởng trà thì đó lại là một nghệ thuật. Những gia đình nho sỹ Hà thành xưa
luôn giữ cho mình một thói quen thưởng trà hết sức phong lưu, lịch lãm và
trân trọng chén trà.
Nước
Xét về mức độ quan trọng quyết định đến chất lượng của ấm trà ngon
hay không ngon thì yếu tố “nước” được đặt lên hàng đầu trong danh mục
nước, trà, pha chế và bộ ấm pha trà. Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, tất cả
những người sành trà trên bốn bể đều khẳng định “nước” là vấn đề căn bản
thứ nhất. Các cụ ta vẫn gọi nước là “trà hữu”, là bạn thiết của trà là vì lẽ đó.
Lục Vũ người được xưng tụng là “Trà Thánh” của nền văn hóa trà Trung Hoa
đã khẳng định một câu nói đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho trà
nhân cả ngàn năm nay: “Nước suối núi hạng nhất, nhì đến nước sông, ba đến
nước giếng” (Sơn thủy thượng, giang thủy trung, tỉnh thủy hạ). Tuy nhiên
nước suối không phải bạ đâu lấy đó. Nước từ trên cao đổ xuống cũng không
được, nước suối ở những khúc chảy lờ đờ qua đất cát cũng không được. Nước
suối tốt nhất phải lấy ở khúc suối chảy trên sỏi, chảy vào hồ đá. Nước sông,
đây phải là sông ngày xưa chưa bị nhiễm độc như bây giờ. Đương nhiên cũng
phải lấy ở thượng nguồn, lấy giữa dòng sông, nơi sông không chảy siết như
sắp đến đập đến thác, nơi sông phải xa nơi người ở .v.v…Về nước giếng, thì
những giếng thượng hạng thường là giếng của chùa, chùa ở trên núi hoặc ít
tượng, không gian và mục đích buổi thưởng trà.
16
Trà
Chúng tôi đã đọc được ở đâu đó câu nói: “Trà không có cái cao ngạo
của rượu nho, chất cá nhân tự thức của cà phê, hay cái vẻ thơ ngây mời mọc
của ca cao”. Theo chúng tôi nghĩ Trà là một thức uống hết sức bình dị của
nhiều dân tộc trên thế giới. Nhưng để thưởng thức được một ấm trà ngon thì
đòi hỏi người thưởng trà phải thực sự hiểu về trà, đặt trọn tâm huyết mình với
chén trà cùng với một nghệ thuật thưởng trà tinh tế đến từng chi tiết.
Ca dao Hà Nội xưa từng ca ngợi cách thưởng trà mạn qua câu ca dao:
“Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều”
Nhưng xưa ở Hà Thành có ba nhà buôn trà lớn: Chính Thái, Sinh Thái,
Ninh Thái (nhưng lâu đời nhất là hiệu Chính Thái), nên người ta đã sửa câu ca
dao thành:
“Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Chính Thái, xem nôm Thúy Kiều”
Nghệ nhân Viên Trân cho biết: cây chè, văn hóa uống trà xuất phát từ
nền văn minh lúa nước phương Nam sau đó mới du nhập vào nền văn minh
du mục của các bộ tộc bờ Bắc sông Dương Tử, trung tâm của nền văn minh
Hoa Hạ, để rồi lan khắp năm châu bốn biển như ngày nay.
Người sành trà Hà Nội xưa thường chỉ ưa chuộng loại trà mộc, tức là
loại trà không tẩm ướp bất kì thứ hương hoa nào. Trong bài “Kệ uống trà” của
Cao Bá Quát: “Chọn bạn chọn bề ngoài/ không thấy điều hẳn hoi/Uống chè
có ướp hương/Biến mất hương chè rồi”. Cao Chu Thần làm bài kệ này chủ
trương uống trà chỉ thuần túy với mùi trà, không chấp nhận các loại trà ướp
hương hoa. Đây cũng là chủ trương của phần lớn các vị trà nhân.
Muốn có chén trà ngon, nhiều người đã lên tận những vùng trồng chè
nổi tiếng như Suối Giàng, Thái Nguyên, Phú Thọ chọn những loại chè ngon
nhất để tự tay sao chế bằng những phương pháp hết sức công phu. Trà móc
Nước pha trà đã được người Hà Thành xưa lựa chọn rất cẩn trọng thì
không có lí do gì mà họ lại cẩu thả với chất đốt để đun nước, vì chất đốt sẽ
quyết định đến mùi vị của thứ nước được đun sôi. Không thể sử dụng thứ củi
ướt, củi tạp để đun nước vì như vậy sẽ khiến cho nước có mùi khói ảnh hưởng
đến hương vị của ấm trà. Than hoa là thứ mà những “chân trà nhân” lựa chọn,
vì than hoa giữ được nhiệt tốt, không có khói làm hỏng vị nước. Than phải
chắc để đượm lửa, ít phải cho than mới vào gây khói ám vào nước (Xin xem
hình 25 phần phụ lục ảnh). Than cây nhãn dùng rất tốt nhưng người Việt thời
trước còn có loại than đặc biệt: trái ổi xanh phơi khô dùng để đun. Người
Quảng Đông lại thích dùng quả ô-liu để làm chất đốt khi pha trà. Người Hàn
Quốc lại sử dụng nguyên liệu đun nước là củi.
Trong truyện “Chén trà sương”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun
nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một hình ảnh rất nghệ thuật:
“Những hòn than tàu cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn
quanh. Không khí mỗi lúc giao động càng nâng cao thêm những lưỡi ngọn
lửa xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong
suốt như thỏi vàng thổi chảy”.
Như vậy, riêng cung đoạn chuẩn bị nguyên liệu cho việc pha trà trong
một buổi thưởng trà của các cụ sành trà Tràng An đã lắm công phu, hiểu biết
và nhiều tâm huyết.
1.1.2 Chuẩn bị trà cụ
Trong nghệ thuật thưởng trà của người Hà Nội xưa, trà cụ là thứ vô
cùng quý giá và được sử dụng phù hợp trong những tâm thế cũng như bối
cảnh thưởng trà riêng. Những trà cụ quan trọng không thể thiếu hoặc thay thế
bằng những thứ đồ khác đó là ấm đun nước bằng đồng, hỏa lò, ấm pha trà,
chén thưởng trà…
19
Ấm pha trà
Sự ảnh hưởng không thể phủ nhận được đó là sự xuất hiện và tôn sùng
của dân ta với các loại ấm pha trà của Trung Quốc. Hẳn không người sành trà
thì biết. Nếu muốn thử kĩ nữa, quý khách thả nó vào chậu nước, thấy nó nổi
đều, cân nhau không triềng, thế là đích ấm tàu”. Nhưng thực ra chỉ chừng ấy
thì chưa đủ, vì chỉ là chiếc “ấm Tàu” chứ không phải chiếc ấm pha trà tốt.
Theo các cụ xưa muốn có một ấm pha trà tốt cần phải đạt thêm hai tiêu chuẩn
sau: 1- Vỏ ấm phải cứng, cầm ấm lên gõ nhẹ vào thành ấm nghe boong boong
càng trong càng quý. 2- Nắp ấm phải kín, thử bằng cách đổ ¾ nước vào ấm
rồi đậy nắp lại (tay ghì giữ nắp ấm cho chặt) và nghiêng vòi nếu nước không
chảy ra thì nắp ấm kín. Vỏ càng cứng càng ít thẩm thấu và nắp càng kín càng
ít thoát hơi nước, có như vậy trà mới ấm lâu và ít bay thoát hương vị.
Như vậy, người Hà Nội xưa kia đã rất cầu kỳ, bỏ nhiều công sức cho
việc lựa chọn chiếc ấm pha trà, để thỏa mãn một thú chơi hết sức tinh tế và
nghệ thuật của mình.
Chén thưởng trà
Bên cạnh tầm quan trọng của chiếc ấm pha trà thì những chiếc chén
cũng là những thứ không thể thiếu trong số trà cụ. Người sành trà Hà thành
xưa thường có đầy đủ bộ chén với chén tống (Hình 4), chén quân (Hình 5) và
loại chén phân theo mùa.
Chén trà có hai loại: chén tống (đọc chệch âm từ chữ tướng) và chén
quân. Chén tống dùng chuyên trà từ ấm ra, rồi rót vào chén quân để thưởng
thức. Theo Vương Hồng Sển thì miền Bắc dùng một chén tống và bốn chén
quân, miền Trung trở vào Nam dùng một chén tống và ba chén quân.
21
Bộ chén trà lại chia làm bốn loại để dành dùng cho từng mùa: xuân ẩm,
hạ ẩm, thu ẩm và đông ẩm. Hình dạng bốn bộ chén này cỡ vừa (không lớn
không nhỏ, không dày không mỏng) vào mùa xuân thu gọi là kiểu Xuân ẩm
và Thu ẩm; nhưng kiểu Hạ ẩm (Hình 7) dùng cho mùa hè thì chén nhỏ thành
mỏng, thấp và miệng rộng giúp nước nhanh nguội, kiểu Đông ẩm (Hình 6) thì
chén trà dày hơn và lòng chén sâu giữ cho chén trà lâu nguội. Khác với ấm
pha trà, chén pha trà phải luôn được rửa sạch bóng, không bao giờ được để
vương một ngấn nước đậm màu.
hoặc bằng tre (tránh dùng tay vì sợ ảnh hưởng đến hương trà), tăm thông vòi
ấm pha trà khi bị tắc bã trà, cái kẹp chén. Còn có một số gia đình Hà Nội cổ
luôn có lư trầm để đốt lên khi thưởng trà.
Khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu và trà cụ thì việc chuẩn bị một
không gian và tâm thế thưởng trà cũng được các cụ xưa hết sức để tâm.
1.1.3 Chuẩn bị không gian và tâm thế thưởng trà
Không gian thưởng trà
Không gian thưởng trà chính là địa điểm ngồi thưởng trà. Các vị sành
đất Hà thành xưa thường chọn cho mình một không gian thưởng trà thật hợp
lý. Có khi cả gia đình ngồi thưởng trà quanh bàn trà đặt trong phòng khách
của gia đình. Nhưng khi có những người bạn đồng niên hay hội bạn trà thì họ
có thể ngồi thưởng trà tại một bàn trà đặt tại góc vườn có những chậu cảnh và
những lồng chim cảnh…
Không gian thưởng trà cũng là thứ không liên quan trực tiếp tới trà
nhưng lại là yếu tố tác động mạnh vào tâm lý của người thưởng trà. Để có
một buổi thưởng trà cùng mọi người có thể bình thơ, hay đàm đạo chuyện đời
chủ nhà đã phải chuẩn bị thật chu đáo không gian thưởng trà. Không thể đặt
bàn trà ở một nơi ồn ào tiếng người buôn kẻ bán, cũng không thể đặt ở một
23
nơi khí hậu ẩm mốc, đồ đạc lộn xộn. Trà không thích hợp với nơi ồn ào náo
nhiệt như tiệc rượu cũng không phải là nơi xô bồ như cà phê. Thưởng trà cần
một không gian tĩnh lặng, có vẻ đẹp của thiên nhiên, có sự hòa bình dung dị
của con người, sự hài hòa của đất trời.
Trên bàn trà xưa các cụ thường chuẩn bị một chậu cúc vạn thọ hoặc
chậu thủy tiên để mọi người vừa thưởng trà vừa ngắm hoa. Ngoài ra, một số
gia đình thượng lưu còn có những phòng trà (trà thất), trong phòng trà đó sẽ
có những bức thư pháp treo trên tường tạo nên một phòng trà vừa ấm cúng,
yên tĩnh, không khí trong lành vừa gần gũi mà cũng hết sức thanh cao, sang
trọng.
Nếu so sánh với cách sắp xếp bài trí trà thất của người Nhật thì thấy
lý thật hoàn chỉnh và sâu rộng.
1.2 Tiến hành pha chế
Nhà thơ Lý Chu Lai đời Tống buồn rầu nhận xét: “Trên đời này có ba
điều tồi tệ nhất, ấy là nhìn thấy những thanh niên tuấn tú hư hỏng đi vì một
nền giáo dục sai lầm, những bức tranh tuyệt tác mất giảm hẳn chân giá trị do
quá nhiều lời ngợi khen dung tục, và bao nhiêu thứ trà tuyệt hảo phung phí
bởi những bàn tay pha chế bất tài”. Như vậy để thấy rằng việc pha chế sao
cho đạt được một ấm trà ngon là cả một quá trình đòi hỏi phải tâm huyết và
hiểu biết sâu sắc về từng loại trà.
1.2.1 Trà, nước, trà cụ
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình
cũng là pha mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công
phu đó dần trở thành lễ nghi. Từ việc chọn trà, chọn nước đều được chuẩn bị
một cách kỹ lưỡng. Đối với từng loại trà sẽ có một nhiệt độ sôi khác nhau sao
cho phù hợp. Ví như trà Ô long cần nước trên 90ºC, trà xanh cần nước ở mức
90ºC, trà xanh loại thượng hảo hạng cần để nước sôi nguội bớt xuống còn
25