TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
BÀI THẢO LUẬN
MÔN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN
ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu về công nghệ nhận dạng tần số sóng vô tuyến RFID (Radio Frequency
Identification) và ứng dụng công nghệ này hiện nay trên thế giới và Việt Nam.Lời
mở đầu
‘Mọi điều đều bắt đầu từ suy nghĩ của chúng ta”.
Ngày nay , với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật,nhiều công nghệ
mới ra đời với mục đích thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của con người trong mọi
lĩnh vực. Những phát minh khoa học làm cho mọi việc trở nên đơn giản và tiện lợi hơn.
Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là một bước đột phá vĩ đại đưa chúng ta đến một kỉ
nguyên mới –kỉ nguyên của văn minh hiện đại. Nó đã mang đến cho nhân loại những tiến
bộ phi thường và những thành tựu đáng nhớ. Sự đa dạng về các sản phẩm công nghệ hiện
nay là kết quả hoạt động sáng tạo không ngừng của con người. Từ những máy móc cồng
kềnh với đường dây kết nối để hoạt động thì công nghệ mới ngày nay càng hướng đến
khả năng không dây giúp con người được giải phóng và thoải mái hơn. Nhận dạng tự
động là một trong những công nghệ được phát minh để đáp ứng nhu cầu đó. Nhận dạng tự
động giúp các máy nhận dạng các đối tượng mà không cần nhập dữ liệu vào bằng nhân
công. Các công nghệ nhận dạng tự động như: các mã vạch ( Bar codes), thẻ thông minh,
công nghệ sinh trắc học, nhận dạng tần số song vô tuyến RFID,… Trong đó RFID hiện
nay được coi là cuộc cách mạng của hệ thống nhúng và môi trường tương tác. Công nghệ
này đã và đang được phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới với những ứng dụng rất
đa dạng của nó như: sản xuất kinh doanh, an ninh, y tế,…
Các bạn đã từng nghe về công nghệ RFID – đó là viết tắt của cụm từ Radio
Frequency Indentification, nhận dạng tần số sóng vô tuyến. Công nghệ RFID đã được
nghiên cứu và ứng dụng từ khá sớm, nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây công nghệ này
mới thực sự được phát triển mạnh mẽ.Công nghệ này dần trở nên cần thiết cho sự phát
triển của thế giới do đó nhiều quốc gia đang tập chung xúc tiến các công tác triển khai
động bằng cách sử dụng năng lượng nhận từ tín hiệu được gửi bởi reader.
2. Lịch sử phát triển
Giai đoạn đổi mới và phát triển mà trong đó nền công nghiệp hóa, tự động hóa ngày
càng được ứng dụng nhiều .Đặc biệt nền công nghệ tự động hóa nhận dạng (Auto-ID)
đang trở nên phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp dịch vụ, công nghiệp thương mại
và trong nhiều nhà máy sản xuất. Công nghệ nhận dạng tồn tại giúp cho chúng ta có thể
nhận được các thông tin về đối tượng nhận dạng: con người, tài sản, vật nuôi, …Công
nghệ mã vạch (Barcode) đã mang lại sự thay đổi đáng kể, nhưng nó mới chỉ là bước đầu
của một ngành công nghệ và còn có nhiều thiếu sót khi số lượng đối tượng cần nhận dạng
ngày một tăng lên. Ưu điểm của công nghệ mã vạch là giá thành thấp, khuyết điểm là khả
năng lưu trữ thấp, không có khả năng lập trình lại.Các thiết bị mang dữ liệu điện tử phổ
biến nhất trong cuộc sống hàng ngày là loại thẻ thông minh dựa trên một môi trường tiếp
xúc (ví dụ: thẻ điện thoại, thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng …). Tuy nhiên thiết bị tiếp xúc với
thẻ thông minh thường không linh hoạt. Hệ thống RFID ( RFID : Radio Frequency
Identification) ra đời đã khắc phục những nhược điểm trên. Sự truyền dữ liệu không cần
phải tiếp xúc giữa thiết bị mang dữ liệu và đầu đọc của nó trong hệ thống RFID sẽ linh
hoạt hơn.
Lịch sử của RFID (Radio Frequency Identification) công nghệ có lược sử chiến
tranh thế giới II. Đức, Nhật Bản, Mỹ và Anh đều sử dụng radar để phát hiện các máy bay.
Cụ thể rằng vào năm 1935 bởi nhà vật lý Scotland Sir Robert Alexander Watson- Watt- đã
báo cáo là tiếp cận máy bay khi khoảng cách giữa các bên là vài dặm, vấn đề là không có
cách nào để xác định được máy bay nào là của ta hay của địch.
Ứng dụng RFID đầu tiên ở đâu? Người Đức phát hiện ra rằng nếu phi công của họ
khi trở về căn cứ, họ sẽ thay đổi các tín hiệu vô tuyến phản xạ trở lại. Phương pháp thô sơ
này cảnh báo phi hành đoàn radar trên mặt đất rằng đây là những máy bay Đức và Đồng
Minh chứ không phải là máy bay của địch (điều cơ bản này đã giúp phát triển hệ thống
RFID thụ động đầu tiên )
Lịch sử RFID phát triển kể từ đó, khả năng của Radio Frequency Identification đã
mở rộng theo cấp số nhân. Công nghệ RFID đã được phát triển đến điểm mà nó có thể
Phần cứng:
a . Thẻ RFID (RFID tag)
Thẻ RFID (là một thành phần bắt buộc với mọi hệ thống RFID) được cấu tạo mềm
mỏng có chứa chíp vi xử lí và anten (đối với loại thẻ không năng). Nó có thể đọc, ghi dữ
liệu, và thậm chí có chứa cả thông tin về bảo mật. Thẻ này có thể dán vào các vật cần
quản lý như sách, hàng hóa, động vật v.v…
b. Máy đọc (Reader)
Máy đọc (cùng với thẻ nó cũng là thành phần không thể thiếu trong hệ thống RFID) có
nhiệm vụ chuyển dữ liệu giải mã dữ liệu được từ thẻ tới phần mềm trung gian và phần
mềm ứng dụng để xử lý. Thông thường máy đọc tích hợp với anten. Máy đọc thường
được đặt tại bàn mượn/trả, các điểm mượn/trả tự động, trong kho và máy phân loại tự
động, tại lối ra của thư viện
c. Máy chủ (host)
Máy chủ: là máy vi tính được dùng để chạy các phần mềm trung gian và phần mềm ứng
dụng.
d. Anten
Là thành phần bắt buộc làm nhiệm vụ bức xạ, thu sóng điện từ và xử lý tín hiệu. Một vài
đầu đọc mới hiện nay đã có sẵn anten.
e. Mạch điều khiển (controller) cho phép cá c thành phần bên ngoài giao tiếp điều
khiển chức năng của đầu đọc và các thành phần khác. Hiện nay mạch điều khiển thường
được tích hợp sẵn trong đầu đọc.
Ngoài ra hệ thống còn một số thành phần hỗ trợ nhập xuất như: Cảm biến (sensor), bảng
tín hiệu điện báo (annunciator),…
Phần mềm
a. Phần mềm trung gian (Middleware )
Phần mềm trung gian là các phần mềm được sử dụng để nhận và xử lý các dữ liệu thô
nhận được từ các máy đọc để chuyển tới các phần mềm quản trị thư viện. Đây là một
thành phần không thể thiếu trong hệ thống RFID. Phần mềm này thường được xây dựng
và cung cấp bởi các nhà cung cấp thiết bị RFID.
b. Phần mềm ứng dụng (Application software)
các ứng dụng trong tương lai. Các thẻ có thể được cấp nguồn bởi một bộ pin thu nhỏ
trong thẻ (các thẻ tích cực ) hoặc bởi đầu đọc mà nó đánh thức thẻ để yêu cầu trả lời khi
thẻ đang trong phạm vi ( thẻ thụ động )
Đầu đọc gồm một anten liên lạc với thẻ và một đơn vị đo điện từ học đã được nối
mạng với máy chủ. Đơn vị đo tiếp sóng với máy chủ và tất cả các thẻ trong phạm vi đọc
của anten, cho phép một đầu đọc liên lạc với hàng trăm thẻ. Nó cũng thực thi các chức
năng bảo mật như mã hóa/ giải mã, và xác thực người dùng. Đầu đọc có thể phát hiện
thẻ ngay cả khi không nhìn thấy chúng.
Khi thẻ đi vào vùng sóng điện từ nó sẽ phát hiện tín hiệu kích hoạt từ đầu đọc và nó
sẽ phát thông tin nhận dạng đến đầu đọc. Đầu đọc giãi mã dữ liệu được mã hóa trong
chip (sóng vô tuyến phản xạ từ thẻ ) và đưa vào máy chủ để xử lý.
Hầu hết các mạng RFID gồm nhiều thẻ và nhiều đầu đọc được nối mạng với nhau
bởi một máy tính trung tâm (máychủ ), hầu như thường là một trạm làm việc gọn để bàn.
Máy chủ xử lý dữ liệu mà các đầu đọc thu thập từ các thẻ và dịch nó giữa mạng RFID và
các hệ thống công nghệ thông tin lớn hơn, mà nơi đó quản lý dây chuyền hoặc cơ sở dữ
liệu quản lý có thể thực thi. Middleware là phần mềm nối hệ thống RFID với một hệ
thống IT quản lý luồng dữ liệu
Chương II: Các thành phần cơ bản của hệ thống
Một hệ thống RFID không thể thiếu hai thành phần quan trọng:
1. Thẻ (Transponder / Tag)
Thẻ RFID - thành phần luôn gắn lên đối tượng cần nhận dạng là một thiết bị lưu trữ và
truyền dữ liệu đến một đầu đọc trong một môi trường không tiếp xúc bằng sóng vô tuyến.
Thẻ RFID mang dữ liệu về một vật, một sản phẩm nào đó và được gắn lên chính sản
phẩm đó. Nó gồm một angten kết nối với đầu đọc và một vi mạch điện tử (con chip) để
lưu trữ dữ liệu. Dữ liệu được đọc ghi thông qua một đầu đọc thẻ (đầu đọc RFID) mà
không phụ thuộc vào hướng hay vị trí chỉ cần thẻ RFID nằm trong vùng phủ sóng (phạm
vi của đầu đọc) Khi thẻ RFID không nằm trong phạm vi dò tìm của đầu đọc thì nó không
hoạt động. Đây là một số dạng tiêu biểu của thẻ RFID:
.
Vài thẻ RFID giống như những nhãn giấy , được ứng dụng để bỏ vào hộp và đóng gói.
• Thẻ thụ động ( Passive tag)
Không có nguồn điện bên trong. Sóng vô tuyến phát ra từ đầu đọc sẽ truyền
một dòng điện nhỏ đủ để kích hoạt hệ thống mạch điện trong thẻ giúp nó
gửi lại tín hiệu hồi đáp. Có thể truyền mã số nhận dạng và lưu trữ một số
thông tin về đối tượng được nhận dạng.
Kích thước rất nhỏ và mỏng hơn tờ giấy, do đó có thể được cấy vào da
Có tuổi thọ cao vì không dùng pin
Phạm vi hoạt động : từ 10cm đến vài mét, tùy vào tần số sử dụng.
Lượng dữ liệu lưu trữ có giới hạn ( thường khoảng 128bytes).
• Thẻ tích cực (Active tag).
Được tích hợp một nguồn giúp nó tự gửi tín hiệu dến đầu đọc. Cường độ tín
hiệu mạnh hơn thẻ thụ động nên hoạt động hiệu quả hơn trong môi trường
nước ( đặc biệt trong cơ thể người hay động vật) hay trong kim loại.
Một số thẻ còn được tích hợp các bộ cảm biến để đo độ ẩm, độ rung, độ
phóng xạ, ánh sang, nhiệt độ…
Tuổi thọ lên 5- 10 năm.
Phạm vi hoạt động : vài trăm mét (tùy theo tần số sử dụng)
Có thể lưu trữ lượng dữ liệu lớn hơn thẻ thụ động.
• Thẻ bán thụ động ( Semi-passive tag).
Có một nguồn năng lượng bên trong (ví dụ như bộ pin) và điện tử học bên
trong để thực thi những nhiệm vụ chuyên dụng. Nguồn bên trong cung cấp
năng lượng cho thẻ hoạt động. Tuy nhiên khi hoạt động thẻ bán thụ động
cũng sử dụng nguồn từ bộ đọc (reader). Thẻ bán thụ động (bán tích cực)
được gọi là thẻ có hỗ trợ pin(battery-assisted tag)
Quá trình truyền giữa thẻ bán thụ động và reader thì reader luôn truyền
trước rồi tới thẻ. Thẻ bán thụ động sử dụng ưu việt hơn thẻ thụ động do nó
không sử dụng tín hiệu của reader như thẻ thụ động mà nó tự kích hoạt, nó
có thể đọc ở khoảng cách xa hơn thẻ thụ động. Thẻ bán thụ động không cần
thời gian tiếp năng lượng mà có thể nằm trong phạm vi đọc của reader ít
hơn quy định. Do đó nếu đối tượng gắn thẻ đang di chuyển với tốc độ cao,
Thẻ RFIDmang dữ liệu được gắn lên sản phẩm có nhiều hình dạng và kích thước khác
nhau, đặt trong những môi trường làm việc khác nhau. Càng ngày hình dạng của thẻ càng
phong phú , đa dạng hơn, kích thước được thu nhỏ tiện lợi cho các mục đích sử dụng. Ví
dụ như:
• Thẻ hình cúc áo hoặc đĩa làm bằng PVC, nhựa thông, thường có một lỗ đẻ móc. Thẻ này
bền và có thể sử dụng lại được
• Thẻ nhỏ gắn vào các sản phẩm như: quần áo, đồng hồ, đồ trang sức… Loại này thường có
hình dạng chìa khóa, chuỗi khóa.
Thẻ dạng nút và dạng khóa
• Thẻ RFID có hình dạng như thẻ tín dụng còn gọi là các thẻ thông minh không tiếp xúc
• Thẻ trong hộp thủy tinh có thể hoạt động trong các môi trường ăn mòn hoặc trong chất
lỏng
• Thẻ có dạng nhãn dán được có thể được dán lên quần áo, sách (thư viện),hành lý…
• Các dạng thẻ được cấy trên cơ thể con người, động vật
2. Đầu đọc
Đầu đọc RFID (hay còn gọi là interrogator) là thiết bị kết nối không dây với thẻ để nhận
dạng đối tượng được gắn thẻ. Nó là một thiết bị đọc và ghi dữ liệu lên thẻ RFID tương
thích. Thời gian mà đầu đọc có thể phát năng lượng RF đẻ đọc thẻ được gọi là chu kỳ làm
việc của đầu đọc.
Đầu đọc có nhiệm vụ kích hoạt thẻ, truyền nhận dữ liệu bằng sóng vô tuyến với thẻ, thực
hiện giải điều chế và giải mã tín hiệu cần thiết để truyền về máy chủ, đồng thời cũng
nhận lệnh từ máy chủ đẻ thực hiện các yêu cầu truy vấn hay đọc/ ghi thẻ.
Đầu đọc là hệ thần kinh trung ương của toàn hệ thống phần cứng RFID thiết lập việc
truyền với thành phần này và điều khiển nó, là thao tác quan trọng nhất của bất kỳ thực
thể nào muốn liên kết với thực thể phần cứng này.
Thẻ thụ động (pasive tag) được kích thích nguồn năng lượng bằng quad trình truyền
sóng radio và bộ phận thu sẽ lắng nghe quá trình truyền này. Các thẻ tích cực cũng cần
có giao tiếp với bộ phận thu đượ gắn vào hệ thống. Trong quy trình RFID, điểm . cuối của
thiết bị truyền/ hệ thống được gọi là đầu đọc. Đầu đọc được đặt giữa thẻ, tạo ra các sự
kiện mức năng lượng thấp từ quá trình đọc và gửi những sự kiện này đến bộ lọc sự kiện.
đầu đọc hoạt động như thiết bị mạng. tuy nhiên, chức năng giám sát SNMP (Simple
Network Protocol) chỉ sẵn có đối với một vài loại đầu đọc hệ thống. Vì vậy, đa số đầu đọc
loại này không thể được giám sát như các thiết bị mạng chuẩn.
Ưu điểm của đầu đọc hệ thống là không phụ thuộc vào chiều dài tối đa cảu cáp kết nối
đầu đọc với máy tính. Sử dụng ít máy chủ hơn so với đầu đọc nối tiếp. thêm nữa là phần
mềm hệ thống của đầu đọc có thể được cập nhật từ xaqua mạng. Do đó có thể giảm nhẹ
khâu bảo dưỡng và chi phí sở hữu hệ thống RFID loại này sẽ thấp hơn.
Nhược điểm cảu đầu đọc hệ thống là việc truyền không đáng tin cậy bằng đầu đọc nối
tiếp. khi việc truyền bị rớt, chương trình phụ trợ không thể được xử lý. Vì vậy hệ thống
RFID có thể ngừng lại hoàn toàn. Nói chung đầu đọc co bộ nhớ trong lưu trữ các lần đọc
thẻ. Chức năng này có thể làm cho việc chết mạng trong thời gian ngắn đỡ hơn một ít.
*Phân loại dựa trên tính chuyển động của đầu đọc:
Đầu đọc cố định:
Hình ảnh về đầu lọc cố định
Loại này được lắp trên tường, trên cổng hoặc vài nơi thích hợp nằm trong phạm vi dọc.
những nơi lắp đặt là chỗ cố định. Chẳng hạn, có một số đầu đọc cố định được gắn trên
thang máy, hoặc bên trong xe chở hàng. Tráu ngược với thẻ, đầu đọc không chịu được
môi trường khắc nghiệt. Vì vậy, nếu đặt đầu đọc ngoài cửa hoặc ở những đối tượng
chuyển động, phải gắn đúng cách. Đầu đọc cố định thường cần anten bên ngoài để đọc
thẻ. Đầu đọc có thể cung cấp đến 4 cổng anten bên ngoài.
Chi phí cho đầu đọc cố định thường ít hơn đầu đọc cầm tay. Đầu đọc cố định là loại phổ
biến nhất hiện nay
Resder cầm tay:
Hình ảnh về một số đầu đọc cầm tay
Đầu đọc cầm tay là dạng đầu đọc di động thường có anten bên trong. Mặc dù những đầu
đọc này đắt nhất (và có ít) nhưng những cải tiến hiện nay trong kĩ thuật đầu đọc cho phép
các đầu đọc cầm tay phức tạp có giá thấp hơn.
Chương III: Ứng dụng của công nghệ RFID
1. Ứng dụng trên thế giới
RFID được ứng dụng trong các lĩnh vực: quản lý đối tượng, nhân sự; quản lý hàng hóa
thời tiết khắc nghiệt nên thích hợp để định danh các vật chứa, lưu giữ sản phẩm lâu dài
như container, cần cNu, xe kéo v.v… Một mặt, các thẻ RFID cho phép xác định sản
phNm mà nó được gắn vào (Ví dụ: part number, serial number, trong hệ thống đọc/ghi,
hướng dẫn quy trình lắp ráp xử lý sản phẩm). Mặt khác, thông tin đầu vào được nhập
bằng tay (hoặc bằng các đầu đọc mã vạch) cho phép hệ thống điều khiển/kiểm soát. Sau
đó những thông tin này có thể được truy xuất bởi các đầu đọc RFID.
Trong kinh doanh bán lẻ, RFID có thể thay thế kỹ thuật mã vạch hiện nay, vì nó
không chỉ có khả năng xác định nguồn gốc sản phNm mà còn cho phép nhà cung cấp và
đại lý bán lẻ biết chính xác mặt hàng trên quầy và trong kho của họ. Một số siêu thị lớn đã
sử dụng các thẻ RFID mỏng dán lên hàng hóa thay cho mã vạch, giúp việc thanh toán
nhanh chóng, dễ dàng hơn. Nếu hàng hóa nào chưa thanh toán tiền đi qua cửa, máy nhận
dạng vô tuyếnRFID sẽ phát hiện ra và báo cho nhân viên an ninh. Ngoài ra, các công ty
bách hóa không còn phải lo kiểm kho, không sợ giao nhầm hàng và thống kê số đầu sản
phẩm đang kinh doanh của cả tổ hợp cửa hàng. Hơn nữa họ còn có thể biết chính xác bên
trong túi khách hàng vào, ra có những gì.
Trong lĩnh vực an ninh, RFID không đòi hỏi tầm nhìn giữa bộ thu phát và máy đọc,
hệ thống này khắc phục được những hạn chế của các phương pháp nhận dạng tự động
khác, ví dụ như mã vạch. Điều này có nghĩa là hệ thống RFID có thể hoạt động hiệu quả
trong các môi trường khắc nghiệt những nơi bụi bẩn, Ẩm ướt quá mức hay có phạm vi
quan sát bị hạn chế. Một trong các lợi ích nổi bật của RFID là khả năng đọc trong các môi
trường khắc nghiệt với tốc độ đáng chú ý: trong hầu hết các trường hợp thời gian phản
ứng dưới 100 mili giây.
Trong công tác quản lý bảo quản tài sản, việc quản lý sách tại thư viện hiện rất vất
vả, việc tìm kiếm sách thủ công làm tốn thời gian và quản lý cũng chưa thực sự hiệu quả.
Nhờ công nghệ RFID , mỗi cuốn sách được gắn với một thẻ lưu thông tin về cuốn sách,
mỗi khi cần tìm một cuốn sách nào đó, thay vì việc dò tìm phân loại từng cuốn sách, thủ
thư chỉ việc dùng một đầu đọc có khả năng đọc các thẻ RFID từ xa có thể giúp định vị
cuốn sách cần tìm rất nhanh chóng, ngoài ra việc thống kế sách cuối ngày càng trở lên
đơn giản. Các hạt giống có giá trị, động vật thí nghiệm liên quan tới các dự án nghiên cứu
lâu dài và chi phí cao, thịt và bơ sữa động vật, thú vật hoang dã và giống động vật quý
soát bãi đỗ xe tự động tại hầm đậu xe tòa nhà The Manor Bộ Khoa học và Công nghệ
Việt Nam và Thái Lan đã thống nhất khai triển “Chương trình xây dựng hệ thống theo
dõi, giám sát truy xuất sản phẩm tôm bằng RFID”.
Ngoài ra, còn có các đề tài đang nghiên cứu như “Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý,
điều hành kho thông minh Smart Warehouse dựa trên công nghệ RFID và hệ thống
nhúng” (Đại học Khoa học Tự nhiên) và “Nghiên cứu công nghệ xác định, nhận dạng sử
dụng RFID trên mạng Internet” (Trung tâm Internet Việt Nam).
( Theo Mạng Thông tin Khoa học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh)
1. Ứng dụng trong thư viện
Ở Việt Nam, hiện nay đã có một vài thư viện bắt đầu ứng dụng công nghệ này bằng việc
dán thẻ RFID lên tài liệu là như: Thư viện ĐH Giao thông Vận tải, Thư viện trung tâm
trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Trong đó, mô hình hệ thống RFID của Thư viện trường ĐH Giao thông vận tải là một mô
hình đầu tiên ở Việt Nam được 3M cung cấp giải pháp toàn diện. Hiện nay, RFID đã được
đưa vào hoạt động và đang khẳng định các tiện ích của mình.
Công nghệ RFID trên các phòng đọc tự chọn từ tầng 5 đến 7, hệ thống cổng an ninh kép
sẽ kiểm soát bạn đọc, không cho tài liệu đem ra ngoài bất hợp pháp. Trung tâm Thông tin
Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải đã ứng dụng công nghệ RFID vào công tác
thư viện từ năm 2005. Nhưng vì một số lý do khách quan mà đặc biệt là việc tích hợp
giữa công nghệ RFID và phần mềm quản lý thư viện Ilib chưa triển khai được cho nên
việc ứng dụng công nghệ này mới chỉ dừng lại ở công tác an ninh cho tài liệu.
Với một trường đầu ngành đào tạo trong ngành giao thông, đại đa số sinh viên là nam
giới, số lượng tài liệu đồ sộ thì việc ứng dụng công nghệ RFID được xem là giải pháp hữu
ích cho nơi đây.
Theo các cán bộ của trung tâm thông tin thư viện sau quá trình sử dụng thì tiện ích nổi
trội của công nghệ RFID là ở cổng an ninh kép. Cổng an ninh hạn chế được vấn đề tài
liệu bị đem ra ngoài bất hợp pháp. Với khả năng phát hiện tài liệu với khoảng cách xa và
trong không gian 3 chiều vì vậy khả năng chống trộm của nó an toàn và đáng tin cậy.
Hiện nay, các thư viện Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ quản lý tài liệu và
bạn đọc theo cách truyền thống sang áp dụng công nghệ mã vạch. Để áp dụng công nghệ
Loan, Mỹ cũng như châu Âu luôn là thị trường lớn của Việt Nam. Và họ có những tiêu
chuẩn bắt buộc riêng để đảm bảo chất lượng nông sản và sức khỏe của người sử dụng như
các tiêu chuẩn an toàn GLOBALGAP, TNC (Tesco Nature’s Choice)
Để đáp ứng phần nào các tiêu chuẩn quốc tế này, cây trồng, hoa quả cần được sự quan
tâm chăm sóc theo dạng chuỗi (chain). Nhà nông còn cần theo dõi quá trình phát triển của
cây từ khâu chọn giống, bón phân, tưới nước, kiểm tra sâu bệnh để có các biện pháp
phòng tránh, đảm bảo khả năng cho hoa, trái cây đạt chất lượng như mong muốn và tạo
niềm tin cho người dùng cũng như đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường nói trên.
Hệ thống RFID gồm: thẻ, bộ đọc thẻ, máy chủ, phần mềm lớp giữa
(middleware) và phần mềm ứng dụng. Loại thiết bị này cho phép cây trồng
“giao tiếp” với nông dân: giúp cho người nông dân biết thông tin chúng đang
thiếu và cần gì (nước, phân bón), kiểm soát sâu bệnh cho cây
Điểm mấu chốt của công nghệ này là kỹ thuật truy nguyên nguồn gốc hàng hóa (Trace
Core) ứng dụng chip xác thực bằng tần số (Radio Frenquency Identifycation - RFID).
RFID là công nghệ nhận dạng tự động thông qua bộ phát tần số siêu nhỏ có khả năng lưu
trữ và nhận dữ liệu từ xa bằng các thiết bị thẻ RFID (tag) đang được các tập đoàn siêu thị
lớn ứng dụng , quản lý .
Bà Lê Tấn Thị Việt Thanh, giám đốc công ty TNHH Bảo Thanh (thương hiệu Ticay), đơn
vị chuyên xuất khẩu trái cây cho các thị trường châu Âu, Mỹ, Canada , Nhật cho biết,
hiện ở Việt Nam chưa có đơn vị cung cấp giải pháp Trace Core cho nhà nông. Đây là giải
pháp tiên tiến, rất cần thiết cho bà con nông dân và càng có ý nghĩa cho những doanh
nghiệp xuất khẩu nông sản như Ticay. Trace Core cho phép theo dõi quá trình phát triển
cây trồng, sản xuất trái cây, quá trình vận chuyển xuất khẩu hàng hóa đi các nước. Cụ thể
như cả người bán và người mua đều có thể theo dõi: Nguồn gốc sản phẩm; Đóng gói và
bảo quản; Phương tiện vận chuyển; Số lượng và thời gian (thời gian bảo quản trái cây
tươi có giá trị rất lớn!); Kiểm soát rủi ro trong quá trình vận chuyển cũng như xác định rõ,
dự báo những nguyên nhân rủi ro, tránh tổn thất và tạo niềm tin đối với khách hàng.
Hầu hết doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản Việt Nam chưa quan tâm đến yếu
tố này mặc dù, sản phẩm trái cây của Việt Nam được đánh giá rất cao. Trước mắt, công ty
Bảo Thanh đã và đang xây dựng website có các file mẫu kèm hướng dẫn cho bà con nông