Tiểu luận môn thị trường tài chính Mối liên hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn - Pdf 27

I. Khái niệm Thị trường tiền tệ và Thị trường vốn:
1.1 Thị trường tiền tệ
a. Khái niệm :
Là thị trường giao dịch mua bán quyền sử dụng các khoản tiền tệ ngắn
hạn trong nền kinh tế. Hiểu theo nghĩa giản đơn là nơi mua bán giấy tờ có giá
ngắn hạn dưới 1 năm. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của
hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc cung
cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.
b. Thị trường tiền tệ bao gồm :
Thị trường liên ngân hàng (Inter – bank market);
Thị trường hối đóai (Foreign exchange market);
Thị trường vốn ngắn hạn (Short – term loan market).
c. Vai trò :
Cung ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế;
Điều tiết lượng tiền trong lưu thông;
Bù đắp chênh lệch nhu cầu vốn khả dụng giữa các Ngân hàng trung
gian.
d. Phân loại :
 Căn cứ theo cách thức tổ chức
Thị trường tiền tệ sơ cấp: là nơi chuyên phát hành các loại trái phiếu
mới của ngân hàng, công ty tài chính, kho bạc Thị trường tiền tệ sơ cấp thật sự là
nơi tìm vốn của người phát hành trái phiếu và cung ứng vốn của người mua trái
phiếu.
Thị trường tiền tệ thức cấp: chuyên tổ chức mua bán các loại trái phiếu
đã phát hành ở thị trường sơ cấp, nhưng lại mang tính chất chuyển hóa hình thái
vốn. Tức là, trái phiếu có hình thái hiện vật cụ thể là máy móc, vật tư bây giờ họ
lại cần tiền, nghĩa là cần vốn dưới hình thái tiền tệ.
1
 Căn cứ theo công cụ nợ:
Thị trường vay nợ ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng dưới sự điều hành
của ngân hàng trung ương.

trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư, từng bước nâng cao
khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế.
Nếu nguồn vốn chúng ta dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thì cho
vay trung và dài hạn gặp rủi ro rất lớn do Ngân hàng phần lớn chỉ huy động được
nguồn vốn ngắn hạn. Thị trường chứng khoán sẽ tạo nên một kênh huy động vốn
trực tiếp, thu hút nguồn vốn dài hạn trong dân cư và công chúng đầu tư cho doanh
nghiệp.Nếu thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ, sẽ tạo ra một kênh chính
để huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán càng phát triển thì các ngân hàng càng có lợi,
ngược lại thị trường chứng khoán suy thoái sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động
ngân hàng. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ gánh đỡ rủi ro cho hệ thống ngân
hàng. Các ngân hàng tập trung cho vay tín dụng ngắn hạn và đặc biệt là phát triển
các dịch vụ phi tín dụng.
Năm 2009 đánh dấu là một năm thành công trong sự phát triển của thị
trường chứng khoán Việt Nam, khi dần từng bước thoát khỏi suy thoái và có dấu
hiệu phục hồi, phát triển trở lại. Điều này được lý giải là do có sự tác động của
chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế. Lượng tiền tệ
được bơm vào nền kinh tế khá nhiều. Dư nợ cho vay của hệ thống Ngân hàng
thương mại tăng trưởng mạnh đặc biệt là thời điểm tháng 05/2009 và tháng
06/2009.Tổng dư nợ tín dụng tại hệ thống Ngân hàng thương mại trong năm 2009
tăng gần 37.73% so với năm 2008, gấp 7.1 lần so với tăng trưởng GDP 5.32%. Có
nhiều nhận định cho rằng một phần tiền từ gói hỗ trợ kích cầu của chính phủ đã
3
chảy vào thị trường chứng khoán góp phần tạo nên sự tăng trưởng của thị trường
chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 03/2009 đến tháng 10/2009.
Các sự kiện tác động đến của thị trường chứng khoán trongnăm 2009.
2.2 Quan hệ cạnh tranh:
Thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối liên hệ hữu cơ với nhau,
thực hiện đan xen lẫn nhau, tác động và chịu sự ảnh hưởng của nhau tạo thành cơ
cấu hoàn chỉnh của thị trường tài chính.

36,5% so với tháng trước; OCB cho vay đạt 5.100 tỷ đồng… Khi thị trường chứng
khoán phát triển, các ngân hàng cũng không bỏ lỡ cơ hội đầu tư tài chính, thành
lập các công ty chứng khoán trực thuộc dựa trên tiềm năng tài chính của mình.
Chính những hoạt động này góp phần đáng kể vào con số lợi nhuận ấn tượng mà
các ngân hàng đạt được từ năm 2006 đến nay.
III. Vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường tài chính:
3.1 Trên thị trường sơ cấp.
a. Vai trò phát hành:
5
Việc các Ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu có ý nghĩa quan trọng: một
mặt, nó góp phần tăng hàng hoá cho thị trường chứng khoán , mặt khác nó là một
kênh dẫn vốn quan trọng cho các Ngân hàng thương mại cho mục tiêu tăng trưởng
của nền kinh tế.
b. Vai trò đầu tư trực tiếp:
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn,
các Ngân hàng thương mại có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường trái
phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung
và dài hạn.
c. Vai trò phân phối, bảo lãnh phát hành:
Tại một số thị trường tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính , trong
đó có các Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu
với tư cách là đại lý sơ cấp (Primary Dealers) hoặc bảo lãnh phát hành.
Tại Việt Nam, bảo lãnh phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với trái
phiếu Chính phủ. Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các Ngân hàng
thương mại có ưu thế lớn khi tham gia bảo lãnh phát hành. Bên cạnh đó, trái phiếu
Chính phủ còn được chào bán qua Trung tâm giao dịch chứng khoán và bán lẻ qua
hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Tuy nhiên, Việt Nam chưa có hệ thống các đại lý sơ cấp. Việc hình thành hệ
thống đại lý sơ cấp với sự tham gia của các Ngân hàng thương mại sẽ góp phần
đẩy nhanh và hiệu quả qúa trình phân phối trái phiếu Chính phủ.

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất
hiện nay.
Có thể kết luận rằng Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển thị trường tài chính.
• Là người phát hành và bán cổ phiếu của mình (ngân hàng cổ phần).
• Là người đầu tư bình thường trên thị trường: mua cổ phiếu, trái phiếu, … của
các doanh nghiệp, ngân hàng khác và của Nhà nước.
7
• Là nhà môi giới hoa hồng và kinh doanh chứng khoán
IV. Thị trường chứng khoán dưới tác động của chính sách tiền tệ
Mục tiêu tối thượng của chính sách tiền tệ (CSTT) là đảm bảo tăng
trưởng kinh tế bền vững (chứ không phải là điều tiết ổn định TTCK), song các
động thái của chính sách này có tác động rất lớn đến TTCK.
Thông thường, có 3 trạng thái của CSTT là nới lỏng (trạng thái 1), trung
tính (trạng thái 2) và thắt chặt (trạng thái 3). Một cách giản lược, có thể hiểu trạng
thái trung tính của CSTT được áp dụng khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định ở mức
tiềm năng với lạm phát trong tầm kiểm soát.
Trạng thái nới lỏng được áp dụng khi kinh tế tăng trưởng dưới mức tiềm
năng. Trạng thái thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có biểu hiện tăng trưởng
nóng trên mức tiềm năng với áp lực lạm phát cao.
Điều chỉnh CSTT theo hướng nới lỏng (chuyển từ trạng thái 3 sang 2
hoặc 2 sang 1 hoặc tăng mức độ của trạng thái 1) sẽ có tác dụng kích thích tăng
trưởng kinh tế và kết quả kinh doanh của các công ty, qua đó tác động tích cực tới
TTCK và ngược lại.
Các thành viên tham gia thị trường thường cố gắng dự báo định hướng
CSTT của ngân hàng trung ương (NHTW) để đoán định việc thay đổi các trạng
thái của CSTT dựa vào đánh giá về thực trạng và triển vọng tăng trưởng GDP và
lạm phát của nền kinh tế của NHTW.
Mức phản ứng của TTCK càng lớn khi việc điều chỉnh trạng thái chính
sách được thị trường đánh giá là lâu dài chứ không phải là tạm thời.

trong khi đó HNX-Index giảm nhẹ 0.05% về mức 112.8 điểm dù có phiên tăng
mạnh vào cuối tuần. Thanh khoản trên cả sàn tiếp tục sụt giảm. Trên HoSE, giá trị
giao dịch trung bình mỗi phiên đạt 663 tỷ đồng, giảm gần 15% so với tuần trước.
Trên HNX, giá trị giao dịch trung bình mỗi phiên đạt 428 tỷ đồng, giảm 3.39% so
với tuần trước.
9
Khối ngoại đã có một tuần mua ròng mạnh. Tổng giá trị mua ròng đạt
574 tỷ đồng trên HoSE và 33 tỷ đồng trên HNX. Đặc biệt phiên cuối tuần khối
ngoại đã mua ròng 266 tỷ đồng khiến thanh khoản của thị trường tăng vọt. Mã cổ
phiếu được khối ngoại mua ròng nhiều nhất là HAG với 107 tỷ đồng, tiếp theo là
VSC 95 tỷ đồng, DPM 82 tỷ đồng. Cổ phiếu bị bán nhiều nhất là HVG với giá trị
9 tỷ đồng.
Trên HoSE, đứng đầu trong danh sách tăng giá là DSN tăng 19.32%. 2
chứng chỉ quỹ là BF1 và VFA cũng đạt mức tăng khá ấn tượng. Trong khi đó cổ
phiếu giảm điểm nhiều nhất là DVD giảm 15%. Trên HNX, HTB duy trì được đà
tăng mạnh tuần thứ 2 liên tiếp với mức tăng 21% trong khi đó một số mã giảm
mạnh như KTT (-29.71%), BXH (-25.29%).
10
Trung tuần tháng 11/2010
Khi lãi suất chiết khấu gia tăng, hiệu ứng tổng thể là nó sẽ làm giảm
lượng cung tiền nhằm mục đích duy trì lạm phát ở mức thấp. Nó cũng làm cho
việc vay tiền của các cá nhân và doanh nghiệp trở nên đắt hơn, nó tác động đến
hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp,
gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, khiến cho thu nhập thấp hơn và cuối cùng
là nó có khuynh hướng làm cho thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn hơn
đối với các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, lãi suất không phải là yếu tố có tính quyết định đối với giá
chứng khoán và có rất nhiều yếu tố đáng lưu tâm tác động lên giá chứng khoán
và khuynh hướng thị trường - một sự gia tăng trong lãi suất chiết khấu chỉ là một
trong những cách đó. Do vậy, không ai có thể tự tin nói rằng một công bố gia tăng

tục đăng ký mua cổ phiếu lỗ đã phần nào cho thấy kỳ vọng của DN đối với sự tăng
trưởng cổ phiếu của DN. Tuy không nhiều, nhưng động thái này cũng giúp tăng
cầu trên thị trường.
12
4.3 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là con số do Ngân hàng nhà nước qui định bắt
buộc các ngân hàng thương mại mỗi khi nhận các khoản tiền gửi (trong diện phải
trích dự trữ bắt buộc).
Đảm bảo giữ lại lượng tiền sao cho:
Tổng lượng tiền dự trữ
≥ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tổng tiền gửi trong diện
phải dự trữ
Khi thiếu hụt lượng tiền dự trữ để duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân
hàng thương mại có thể đi vay tiền mặt để bổ sung, thường là trên thị trường liên
ngân hàng và từ ngân hàng trung ương.
Mục đích của việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu
thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng
trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đối với các TCTD,
việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc lần này mặc dù có thể làm tăng chi phí huy động
vốn nhưng chỉ ở mức thấp, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của TCTD ít có
13
khả năng tăng do chệch lệch lãi suất của các TCTD tương đối cao, các TCTD
giảm chi phí để cạnh tranh huy động vốn và cho vay.
Việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ảnh hưởng đến thị trường chứng
khoán hay không còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề. Ta giả sử các nhân tố khác
không thay đổi khi ngân hàng nhà nước sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ (giả
dụ nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc) sẽ làm cho lãi suất tăng lên, lãi suất tăng khiến cho
chi phí đi vay nhiều hơn làm giảm đầu tư, giảm cầu nền kinh tế, giảm tốc độ tăng
trưởng kinh tế hơn nữa việc tăng dự trữ bắt buộc khiến lượng tiền lưu thông giảm

Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng, thị trường đã phản ứng hơi thái
quá do nhiều nhà đầu tư chưa hiểu rõ bản chất của sự thay đổi này. "E rằng phản
ứng này sẽ không bền vững" - một chuyên gia e ngại. Bên cạnh đó, một số người
lợi dụng sự hưng phấn của thị trường tranh thủ đẩy hàng đi khiến không khí giao
dịch càng thêm nóng bỏng. Sau một thời gian ngắn, thị trường chứng khoán đã bắt
đầu suy giảm do quy định mới ban hành đã làm giảm nguồn tiền bơm vào cho thị
trường chứng khoán và kết quả là thị trường chứng khoán trong năm 2008 đã có
lúc giảm xuống dưới 300 điểm.
4.5 Chính sách kích cầu của nhà nước
15
Năm 2009, đứng trước suy giảm kinh tế và sự sụt giảm của thị trường
chứng khoán (TTCK), Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp gián tiếp kích cầu
trên TTCK như miễn giảm và giãn thuế thu nhập cá nhân năm 2009, miễn thuế đối
với những khoản thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn Bên cạnh đó,
việc thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng với trọng tâm là giảm lãi suất và
hỗ trợ lãi suất 4% trong năm 2009 cũng được xem là một trong những giải pháp
quan trọng góp phần kích cầu chứng khoán. Thị trường chứng khoán khởi sắc rõ
rệt như chỉ số VN Index tháng 5.2009 tăng 35% so với tháng 2.2009 và HoSE lọt
vào danh sách những thị trường tăng trưởng nhanh nhất toàn cầu. Trong bối cảnh
nền kinh tế đất nước phải gồng mình vượt qua suy thoái, nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực sản xuất - kinh doanh phải chống chọi với khó khăn để duy trì đà tăng trưởng,
TTCK đã có một năm về đích ngoạn mục, với nhiều kỷ lục được tạo lập sau hơn 9
năm phát triển. Không ít kỷ lục đã vượt xa mong đợi của các nhà đầu tư (NĐT)
cũng như dự báo. Bên cạnh ấn tượng, có cả thăng trầm khi TTCK đảo chiều,
xuống dốc vào cuối năm. Nhìn chung, diễn biến TTCK năm 2009 có hai giai đoạn
quan trọng nhất, đó là tăng trưởng, từ 25-2 đến 10-6 khi VN-Index tăng khoảng
118%; từ 22-7 đến 22-10, TTCK bùng nổ mạnh mẽ khi có thêm sự hỗ trợ mạnh
bởi các dấu hiệu hồi phục kinh tế trong nước và quốc tế, đặc biệt là đòn bẩy tài
chính từ các công ty chứng khoán.
4.6 Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status