2
thành nên TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số
vốn đó được gọi là vốn lưu động.
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên
TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông
và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ
kinh doanh.
1.1.1.2. Đặc điểm
Vốn lưu động gồm có 2 đặc điểm cơ bản sau:
Vốn lưu động lưu chuyển nhanh: Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động
chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị
hàng hóa được thực hiện và vốn lưu động được thu hồi. Chu kỳ vận động của vốn lưu
động là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu quả sản xuất kinh doanh của, hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, vốn lưu động trong doanh nghiệp còn có
vốn lưu động dịch chuyển một lần vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình
sản xuất, vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái khác nhau từng giai đoạn. Các
giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ.
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất: Điều
khác biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chuyển dần giá trị
của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao, còn vốn lưu động chuyển toàn bộ, một
lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được
thực hiện và vốn lưu động được thu hồi.
1.1.1.3. Vai trò
Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động
và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất trong
sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, vốn lưu động có những vai trò
1.1.2. Phân loại vốn lưu động.
Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức vốn lưu động có một vai trò quan trọng,
doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn lưu động tốt thì sẽ đạt được kết quả cao trong sử
dụng vốn. Vốn lưu động được quay vòng nhanh, doanh nghiệp tổ chức tốt khâu mua
sắm, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như vậy lượng vốn nhất định đem lại hiệu quả kinh
doanh cao hơn. Cho nên để quản lý sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì việc phân
loại vốn lưu động là rất cần thiết. Vốn lưu động trong doanh nghiệp thường được phân
loại theo các tiêu chí sau:
1.1.2.1. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn lưu động.
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Tiền là một
loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác
hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có
một lượng tiền nhất định.
Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện số tiền
mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch vụ dưới
hình thức bán trước trả sau.
- Vốn vật tư, hàng hóa: Bao gồm 3 loại gọi chung là hàng tồn kho: nguyên liệu, vật
liệu, công cụ và dụng cụ; sản phẩm dở dang; thành phẩm. Những vật tư, hàng hóa này
để đảm bảo nhu cầu cho sản xuất kinh doanh giúp hoạt động sản xuất kinh doanh có
đủ vật tư tiến hành bình thường, lien tục.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét,
đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Thang Long University Library
4
1.1.2.2. Căn cứ vào vai trò của vốn lưu động với quá trình sản xuất
quá trình sản xuất, từ đó có biện pháp, kế hoạch mua sắm, dự trữ vật tư, tiền vốn đảm
bảo sự cân đối, ăn khớp giữa các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, duy trì sự
liên tục của hoạt động kinh doanh. Tránh tình trạng ngừng trệ, gián đoạn do hoạt động
phân phối không đều, không hợp lý trong hoạt động sản xuất làm giảm hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. 5
1.1.2.3. Căn cứ vào nguồn vốn hình thành nên doanh nghiệp.
Nguồn vốn lưu động hình thành trong vốn nội bộ của doanh nghiệp.
- Vốn điều lệ: Là số vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc được bổ sung vốn
điều lệ trong quá trình sản xuất. Nguồn vốn này còn có thể huy động từ việc
phát hành cổ phiếu mới tăng thêm vốn theo quy định của pháp luật.
- Nguồn vốn chiếm dụng: Phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng hợp
pháp của tổ chức, cá nhân khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn
này thể hiện qua nợ người bán, nợ phải trả, tiền trả cho công nhân viên… chưa
đến hạn phải thanh toán.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh có nguồn gốc từ lợi nhuận tái đầu tư của doanh
nghiệp.
Nguồn vốn lưu động hình thành bên ngoài doanh nghiệp.
- Nguồn vốn lau động liên kết: Là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp
lien doanh của các bên tham gia lien kết lien doanh với doanh nghiệp trong quá
trình sản xuất.
- Vốn đi vay: Doanh nghiệp thường có nguồn vay ở các Ngân hàng thương mại,
tổ chức tín dụng, vay thong qua phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, thương
phiếu của tổ chức, cá nhân.
hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể
xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau.
Trong thực tế các doanh nghiệp có thể phối hợp các phương pháp phân loại vốn
lưu động để phát huy ưu điểm của từng phương pháp.
1.2. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng thành phần vốn lưu động trong tổng số vốn lưu
động tại 1 thời điểm nhất định. Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp chúng ta
thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong các
giai đoạn luân chuyển để xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện
pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng điều kiện cụ thể.
1.2.1. Kết cấu vốn lưu động.
Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động trong doanh
nghiệp, tồn tại trực tiếp dưới hình thức tiền tệ, có tính thanh khoản cao nhất,
bao gồm tiền mặt tại quỹ doanh nghiệp, tiền gửi tại ngân hàng, và các khoản
tiền đang chuyển. Trong đó:
- Tiền mặt tại quỹ: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp để lại quỹ để phục vụ cho
nhu cầu chi trả bằng tiền phát sinh trong ngày. Trong đó phần lớn số tiền này là
tiền thu từ bán hàng mà doanh nghiệp chưa kịp nộp vào ngân hàng hoặc chưa
dùng chi trả cho hoạt động kinh doanh. Ngoài ra những khoản phải trả nhưng
chưa đến hạn trả, các khoản quỹ chưa cần dùng tới… cũng được coi như tiền
mặt tại quỹ và doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh nếu đảm bảo được
các hoạt động này không ảnh hưởng tới kế hoạch chi trả trong kỳ.
- Tiền gửi ngân hàng: Là lượng tiền doanh nghiệp gửi vào ngân hàng trên các tài
khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhờ ngân hàng giữ hộ, thanh toán cho các nhà
cung cấp khi họ cung cấp hàng hóa dịch vụ cho doanh nghiệp.
- Tiền đang chuyển: Là khoản tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho
bạc hoặc chuyển qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng hay người được hưởng
nhưng chưa nhận được giấy báo có.
Để kinh doanh có hiệu quả, để có thể cạnh tranh được và đứng vững trên thị
trường, một biện pháp vô cùng cần thiết là các doanh nghiệp phải quản lý và thực hiện
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa trong
kinh doanh. Chỉ tiêu này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn lưu động nhưng cũng
phản ánh được phần nào khả năng sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Hàng tồn kho: Bao gồm hàng mua đnag đi đường, nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ… Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp có chính sách tốt trong công tác
bán hàng cũng như quá trình tiêu thụ sản phẩm. Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các
doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối
trong vốn lưu động của doanh nghiệp mà quan trọng hơn đó là nhờ có lượng dự trữ tồn
kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp cho ta nhìn nhận được tình hình
phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản chiếm trong các giai đoạn luân chuyển để
xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng điều kiện cụ thể.
Thang Long University Library
8
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.
Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ của doanh nghiệp.
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi
cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư
được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp.
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất; trình độ tổ
chức quá trình sản xuất. Điều này cũng khiến cho tỷ trọng vốn lưu động ở trong các
khâu sản xuất kinh doanh(dự trữ, sản xuất, lưu thông) cũng khác nhau.
- Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn theo các
9
trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa rủi ro về lãi suất hoặc tỉ giá
hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.
Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể
tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán
nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn; không làm mất khả năng mua chịu với nhà cung
cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần xác định mức dự trữ tiền tối ưu nhưng vẫn đủ đáp ứng
những nhu cầu cần thiết của doanh nghiệp như chi trả cho các khoản phải trả phục vụ
hoạt động sản xuất – kinh doanh hàng ngày, trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch
vụ, trả cho người lao động, trả thuế…. Mô hình Baumol khá hiệu quả để các doanh
nghiệp có thể áp dụng trong trường hợp này là:
C*=
C*: mức tiền dự trữ tối ưu
T: tổng nhu cầu tiền
F: chi phí một lần bán chứng khoán
K: lãi suất chứng khoán theo năm.
Sau khi xác định được lượng tiền mặt dự trũ thường xuyên, doanh nghiệp nên áp
dụng những chính sách, qui trình thu chi tiền mặt để giảm thiểu rủi ro cũng như những
thất thoát trong hoạt động.
Thứ nhất, mọi khoản thu chi tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thực hiện thông
qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi.
Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt,
nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ.
Thứ ba, doanh nghiệp phải áp dụng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp
dụng cho các quy chế thu chi. Thông thường các khoản thu chi không lớn thì có thể sử
dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt.
Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng nhằm đảm bảo tính hiệu
quả hiệu quả kinh tế trong quá trình luân chuyển. Doanh nghiệp đưa ra những phương
Trong số các khoản mục phải thu của doanh nghiệp, phải thu khách hàng đóng
vai trò quan trọng nhất. Phải thu khách hàng là khoản mục xuất hiện trong quan hệ
mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại.
Khi doanh nghiệp bán hàng trả chậm cho khách hàng của mình có nghĩa là doanh
nghiệp cấp tín dụng thương mại cho khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường, các
khoản tín dụng thương mại ngày càng trở nên phổ biến và cũng thể hiện mối quan hệ
ràng buộc giữa các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh.
Chính sách tín dụng thương mại
Việc lựa chọn chính sách tín dụng thương mại là hết sức quan trọng vì quyết
định bán hàng trả chậm có thể cùng một lúc gây nhiều tác động.
Việc cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể giúp tăng lợi nhuận do
tăng doanh thu, nhưng cũng gây ra những chi phí cơ hội đầu tư vào các khoản phải
thu, chi phí quản lí phải thu hay các chi phí dự phòng nợ phải thu khi khách hàng
không trả. Do vậy, nguyên tắc cơ bản để đưa ra chính sách tín dụng đó là:
- Khi lợi ích gia tăng lớn hơn chi phí gia tăng thì doanh nghiệp nên cấp tín dụng.
- Khi lợi ích gia tăng nhỏ hơn chi phí gia tăng thì DN nên thắt chặt tín dụng.
- Trường hợp cả lợi ích và chi phí đều giảm thì doanh nghiệp cần xem xét phần
chi phí tiết kiệm được có đủ bù đắp cho phần lợi ích bị giảm đi không.
11
Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng.
Qui định về điều kiện khách hàng đủ tiêu chuẩn được nợ, hạn mức nợ sau khi
kiểm tra các thang bậc đánh giá cho từng tiêu chí cụ thể về khả năng thanh toán,
doanh thu dự kiến, lịch sử thanh toán, cơ sở vật chất… của từng khách hàng. Có thể
đánh giá khách hàng theo quy trình sau:
NPV=0: bàng quan
Các nguồn thông tin:
- Báo cáo tài chính
- Lịch sử tín dụng tại
các NHTM & TCTD.
- Kinh nghiệm.
Đánh giá uy tín của
doanh nghiệp.
Cấp tín
dụng
Không cấp
tín dụng
Thang Long University Library
12
1.3.3. Quản lý hàng tồn kho.
Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu trữ để
sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp, tài sản tồn kho dự trữ thường ở
ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán
thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tùy theo ngành nghề kinh doanh mà tỷ
trọng các loại tài sản dự trữ trên khác nhau, nhưng dù là doanh nghiệp trong lĩnh vực
nào cũng cần quản lý tốt nguồn tài sản tồn kho để tránh tình trạng bị gián đoạn trong
sản xuất, đảm bảo đủ lượng hàng cung cấp ra thị trường, đồng thời có thể sử dụng hợp
lý và tiết kiệm vốn lưu động. Có nhiều cách khác nhau để xác định mức dự trữ kho tối
ưu, một trong số đó là phương pháp cổ điển (mô hình đặt hàng hiệu quả nhất) EQQ, là
một mô hình giả định cho ta tính được lượng hàng dự trữ tối ưu với chi phí là nhỏ
nhất. Theo mô hình này mức dự trữ tối ưu được tính như sau:
đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Kết
quả thu được càng cao thì chứng tỏ hiệu quả quản lý vốn càng cao. Do đó nâng cao
hiệu quả quản lý vốn lưu động là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững
mạnh. Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp phải đảm bảo các
điều kiện sau:
- Phải khai thác nguồn lực một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn rỗi trong
một thời gian dài mà không sử dụng, không sinh lời.
- Phải quản lý vốn một cách hợp lý và tiết kiệm.
- Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ nghĩa là không để vốn ứ đọng, sử dụng vốn
lưu động sai mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản lý.
Ngoài ra các doanh nghiệp cần phải thường xuyên tiến hành phân tích, đánh giá
hiệu qủa quản lý vốn để nhanh chóng có những biện pháp khắc phục những mặt hạn
chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong quản lý vốn.
1.4.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là loại vốn quan trọng nhất
phục vụ cho qúa trình kinh doanh lưu chuyển hàng hóa và thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động gắn liền với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đây là mục tiêu phấn
đấu lâu dài đối với mỗi doanh nghiệp.
Việc quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp có tác động rất lớn
trong việc tăng hay giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm, từ đó làm
tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, việc quản lý vốn lưu động trong
mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết, là yêu cầu khách quan phải thực hiện tốt để giúp
doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng lợi nhuận
1.4.3. Các phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu động.
a) Phương pháp so sánh.
So sánh là một trong hai phương pháp được sử dụng phổ biến trong hoạt động
phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để
tiến hành so sánh và phân tích, giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định gốc để so
sánh, xác định điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh và cần thoả mãn một số điều kiện
điểm và biện pháp khắc phục cũng như định hướng cho tương lai.
b) Phương pháp phân tích tỷ số.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính.
Về nguyên tắc thì phương pháp tỷ lệ đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng, các định
mức để nhận xét, để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sách
các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm
tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ
lệ lại bao gồm nhiều nhóm tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng hoạt động của bộ phân tài
chính. Các chỉ số trong cùng một nhóm hay trong các nhóm với nhau có sự ảnh hưởng
lấn nhau. Khi chỉ sô này thay đổi có thể làm các chỉ số khác thay đổi theo. Nên khi
phân tích hiệu quả ta thường không chọn một nhóm tỷ lệ nhất định mà chọn nhiều
nhóm tỷ lệ rôi phân tích mối quan hệ, sự lien kết, ảnh hưởng lấn nhau của các chỉ tiêu
trong các nhóm tỷ lệ đó. Trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích,
người phân tích sử dụng những nhóm tỷ lệ khác nhau.
c) Phương pháp phân tích Dupont.
Phương pháp phân tích DUPONT là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích
tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng. Thông qua việc sử dụng
15
phương pháp phân tích DUPONT để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm
hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa
các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm
của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các
nhà quản lý doanh nghiệp làm ưu hoá cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài
hơn, mà chỉ dựa vào các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao bao gồm tiền mặt,
các công cụ tài chính ngắn hạn và các khoản phải thu. Hệ số này nói lên tình trạng tài
Thang Long University Library
16
chính ngắn hạn của một doanh nghiệp có lành mạnh không. Nếu một doanh nghiệp có
hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay toàn bộ
các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán nhanh= Tổng tài sản ngắn hạn – kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán tức thời là hệ số phản ánh khả năng thanh khoản cao nhất của
một doanh nghiệp. Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng
thanh toán ngay lập tức các khoản nợ ngắn hạn mà không cần mất thời gian để chuyển
đổi như các tài sản ngắn hạn khác. Có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản
tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh
toán tiền mặt rất ít khi lớn hơn hay bắng 1. Mặc dù chỉ số này phản ánh được mức
thanh khoản cao nhất của tài sản doanh nghiệp, nhưng tính khả dụng của nó lại tương
đối hạn chế.
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền + các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
1.4.4.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động chung.
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động chung bao gồm hệ số sinh
lợi, thời gian quay và mức tiết kiệm.
Hệ số sinh lợi của vốn lưu động = Lợi nhuận thuần
Vốn lưu động
Ks: kỳ luân chuyển vốn lưu động năm sau
VTuyệt đối cho biết mức vốn lưu động giảm đi khi doanh nghiệp muốn giữ
mức doanh thu không đổi nhờ vào việc tăng số vòng luân chuyển vốn lưu động.
VTương đối =
VTương đối : gía trị vốn lưu động tương đối tiết kiệm được
Ms: tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm sau
1.4.4.3. Quản lý từng thành phần vốn lưu động.
a) Quản lý khoản phải thu:
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa
hoặc dịch vụ. Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và
rủi ro. Vì vậy, quản lý các khoản phải thu là doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu
phù hợp để vùa không làm mất khách hàng lại vừa giảm các rủi ro gặp phải. Để đánh
giá công tác quản trị khoản phải thu khách hàng nhà phân tích thường sử dụng hai chỉ
tiêu hệ số vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình:
Hệ số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần
Bình quân khoản phải thu
Hệ số này cho biết các khoản thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo
cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ
thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết
chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh
nghiệp.
Hệ số thu tiền bình quân = Các khoản phải thu thương mại bình quân * 360
Doanh thu thuần
Thang Long University Library
18
Để xem xét mối quan hệ giữa nguồn nợ không mất chi phí lãi vay để tài trợ cho
hàng tồn kho và khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp, một trong những chỉ
tiêu thường sử dụng đó là thời gian quay vòng của tiền. Thời gian quay vòng của tiền
thể hiện khoảng thời gian kể từ khi công ty trả tiền cho nhà cung cấp, trả lương cho
người lao động, thuế cho nhà nước đến khi công ty thu được tiền bán hàng là bao lâu.
19
Thời gian quay vòng của tiền = chu kỳ kinh doanh – thời gian trả nợ
Trong đó:
Chu kỳ kinh doanh = thời gian tồn kho bình quân + thời gian quay vòng
khoản phải thu.
Thời gian quay vòng khoản phải trả = 360/ vòng quay khoản phải trả
Vòng quay = giá vốn + chi phí quản lý và bán hàng
khoản phải trả
phải trả người bán + phải trả người LĐ + thuế phải trả
Đối với nhà quản lý tài chính càng rút ngắn thời gian quay vòng khoản phải
trả càng ngắn thì càng tốt vì một đồng mà doanh nghiệp chi ra thu hồi sẽ sớm hơn, như
vậy vốn quay vòng nhanh hơn, công ty tiết kiệm được chi phí và khả năng sinh lời.
1.4.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh
nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của
các nhân tố khác nhau. Những nhân tố này gây ra ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực. Vì
vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả
sử dụng vốn lưu động nói riêng nhà quản trị tài chính phải xác định và xem xét những
hàng đến với mình. Chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu không
thể thiếu đối với doanh nghiệp. Vì chính sách tín dụng thương mại có những mặt tích
cực và tiêu cực nên nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải phân tích, nghiên cứu
và ra những quyết định xem có nên cấp chính sách tín dụng thương mại cho những đối
tượng khách hàng hay không. Đó là việc quản lý các khoản phải thu.
Các nhân tố phi lượng hóa.
Là những nhân tố mang tính định tính và tác động của chúng đối với hiệu
quả sử dụng vốn là không thể tính toán được. Các nhân tố này bao gồm các nhân tố
bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm các luật và các văn bản dưới
luật. Mọi quy định về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh. Môi trường pháp lý tạo ra sân chơi để doanh nghiệp cùng tham gia
hoạt động kinh doanh, vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau. Mọi định hướng, mục tiêu
của doanh nghiệp khi đưa ra đều dựa trên cơ sở các luật định của Nhà nước, các doanh
nghiệp hoạt động dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua các luật định.
Môi trường kinh tế: Các nhân tố kinh tế có vai trò quyết định trong việc hoàn
thiện môi trường kinh doanh và ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng. Môi trường kinh tế vừa tạo
ra các cơ hội phát triển cho doanh nghiệp, vừa có thể là nhân tố đầu tiên và chủ yếu
trong việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp nếu định hướng và hoạt động của
doanh nghiệp không tuân theo quy luật phát triển của nó. Đây chính là nhân tố tác
động trực tiếp nhất đến định hướng kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp.
Môi trường khoa học công nghệ: Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công
nghệ trên thế giới làm cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng phải đầu
tư thay đổi mới công nghệ mới. Sự thay đổi nhanh chóng đó đã làm cho tuổi thọ của
các thiết bị kỹ thuật ngày càng phải rút ngắn do công nghệ kỹ thuật của chúng theo
thời gian ngày càng không đáp ứng đáp ứng được với đòi hỏi của thị trường và thời
đại. Vì vậy, trong định hướng đầu tư của doanh nghiệp phải có sự suy xét chu đáo, lựa
nền khoa học kỹ thuật hiện đại, cơ sở vật chất của doanh nghiệp cũng ngày càng bị
mài mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp để chế tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu
cầu của thời đại, một phần giúp đẩy nhanh tiến độ thi công công trình hơn. Do đó,
doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của doanh nghiệp
mình thì trong chiến lược đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại hoá và mở rộng cơ sở
vật chất kỹ thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh doanh.
Các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp: Trong một môi trường kinh tế phát
triển mạnh và luôn biến động như hiện nay, doanh nghiệp luôn luôn bị đe doạ bởi các
nguy cơ tiềm ẩn từ môi trường kinh tế, doanh nghiệp nên biết cách làm chủ những
biến động đó thì sẽ hoạt động an toàn hơn và có nhiều cơ hội tồn tại, phát triển hơn so
với các doanh nghiệp khác. Việc xây dựng các kế hoạch, mục tiêu phát triển của các
doanh nghiệp chính là phương thức hữu hiệu để loại bỏ bớt các yếu tố rủi ro do môi
trường kinh tế đem lại.
Thang Long University Library
22
Đặc điểm về quản trị doanh nghiệp: Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các
nhà quản trị cấp cao lãnh đạo công ty có vai trò quan trọng đối với sự thành đạt của
công ty. Các nhà quản trị là người hoạch định chính sách, chiến lược phát triển cho
công ty trong từng thời kỳ khác nhau, do vậy phẩm chất và năng lực của các nhà quản
trị có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của công ty. Sự tồn tại và
phát triển của công ty phụ thuộc vào phần lớn đặc điểm quản trị doanh nghiệp của các
nhà quản trị
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp, chúng ta có một cái nhìn khái quát hơn để đưa ra những
biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.4.6. Kết luận chung.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG
VÀ THƯƠNG MẠI THÁI DƯƠNG.
2.1 Giới thiệu về công ty CP Tư vấn xây dựng và Thương mại Thái Dương.
2.1.1 Lịch sử hình thành công ty.
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng và Thương mại Thái Dương.
Tên Tiếng Anh:Thai Duong Construction Consultancy and Trading Joint Stock
Company.
Lĩnh vực kinh doanh: Xây dựng- Tư vấn, Xây dựng-Thiết kế, Mền/Chăn bông- Bán
buôn, Quần áo- Bán buôn.
Địa chỉ giao dịch: 41/19 Kim Đồng, Quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Điện thoại : (043) 6649326
Fax: (043) 6649327
Mã số thuế : 0102142564
Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng và Thương mại Thái Dương dưới sự quản lí
của Giám đốc Trần Chí Dũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định vị
thế của mình trong nền kinh tế nước nhà cũng như trên trường quốc tế. Vào năm 2009,
nhận thấy ngành xây dựng và ngành sản xuất nệm\chăn ga là một ngành quan trọng và
thị trường tiêu thụ sản phẩm có rất nhiều tiềm năng, có thể ở rộng sự phát triển trong
tương lai. Vì vậy, vào ngày 11/06/2009, Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng và Thương
mại Thái Dương chính thức được thành lập theo giấy phép kinh doanh số 0103015477
do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp.
Năm 2010, sau hơn một năm thành lập công ty đã phát triển không ngừng và
ngày càng khẳng định vị thế của mình trong lòng người tiêu dùng. Về lĩnh vực xây
dựng- thiết kế, công ty đã tìm được nhiều đối tác quan trọng và thực hiện nhiều công
trình cỡ nhỏ, vừa và cả các công trình quan trọng trên các tỉnh thành cả nước. Một vài
công trình cụ thể mà công trình thực hiện như:
- Phòng trưng bày của công ty liên doanh Tacmin.
- Các khối văn phòng và khu xưởng sản xuất của công ty Cổ phần may Sông
Hồng.
mại Thái Dương
25
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng tài
chính-kế toán
Phòng kế
hoạch
Phòng
hành chính
Phòng
kinh doanh
Chủ nhiệm
công trình
Chủ tịch HĐQT
Thang Long University Library
26 Phòng tài chính- kế toán.
Lập kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của công ty và chủ trì nhiệm vụ thu
chi, kiểm tra các việc chi tiêu các khoản tiền vốn, quản lí công nợ. Chiu trách nhiệm
lập báo cáo tài chính theo đúng tiến độ tài chính hiện hành của Nhà nước, phản ánh
trung thực hoạt động của công ty. Thực hiện chế độ, chính sách tài chính, kế toán, thực
hiện thanh toán tiền lương và chế độ khác cho cán bộ công nhân viên của công ty, chịu
trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về việc thực hiện các nghiệp vụ nêu trên.
Phòng kế hoạch
Có nhiệm vụ tổ chức, điều hành, giám sát tiến độ thi công, lập các thủ tục về hợp