nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại công ty cổ phần nhựa và cơ khí hải phòng - Pdf 23


LỜI MỞ ĐẦU
 Tính cấp thiết của đề tài:
Mỗi loại hình doanh nghiệp có một phương thức quản trị tài chính khác
nhau, tuy nhiên mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị tài
sản của chủ sở hữu. Quản trị tài chính muốn đạt được mục tiêu này phải giải
quyết được 3 vấn đề sau đây. Thứ nhất là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh
nghiệp làm cơ sở để dự toán vốn đầu tư. Thứ hai là nguồn huy động vốn đầu tư
duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Thứ ba là các quyết định tài chính ngắn hạn
của doanh nghiệp đảm bảo các hoạt động sản xuất được diễn ra thường xuyên,
liên tục. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn
lưu động. Vốn cố định đầu tư vào các tài sản dài hạn, quyết định quy mô kinh
doanh ban đầu, trình độ đổi mới, nâng cấp trang thiết bị, nâng cao năng suất của
doanh nghiêp. Vốn lưu động phục vụ hoạt động đầu tư, thanh toán chi trả hàng
ngày của doanh nghiệp trong cả 3 khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ. Vốn lưu động
đầu tư cho tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, ổn định, liên tục. Do vậy, quản lý vốn
lưu động một cách hiệu quả, phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh sẽ nâng
cao hiệu suất sử dụng dòng vốn lưu động của doanh nghiệp, từ đó đảm bảo khả
năng tài chính, khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp đảm bảo uy tín với nhà cung cấp, khách hàng, góp phần lớn vào
gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải phòng là loại hình công ty cổ phần
với ngành nghề kinh doanh đa dạng, tuy nhiên công ty hoạt động chủ yếu sản
xuất gia công các sản phẩm nhựa, linh kiện động cơ, phụ tùng xe máy và oto với
quy mô vốn tương đối lớn. Công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng sản xuất hàng
hoá với số lượng lớn, đặc biệt là hãng HONDA Việt Nam trong việc gia công bộ
nhựa xe máy, hãng LG Electronics trong việc sản xuất bộ nhựa máy giặt, điều
hoà… Sản phẩm của Công ty đã được khách hàng chấp nhận và đã khẳng định
được vị trí của mình trên thị trường ngày càng tăng. Để đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của công ty, nhà quản trị luôn phải hoạch định một chính sách đầu tư

viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của chuyên đề được
kết cấu gồm 3 chương :
Chương 1 : Lý luận chung về vốn lưu động tại doanh nghiệp.
Chương 2 : Thực trạng quản lý vốn lưu động tại công ty Cổ phần Nhựa
và Cơ khí Hải Phòng.
Chương 3 : Một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động
tại công ty Cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải Phòng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Anh – Đỗ Thị Minh Thảo 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG.
Lý luận chung về vốn lưu động tại doanh nghiệp.
Khái niệm
Khái niệm vốn lưu động.
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn nhằm
đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên, liên tục và có hiệu quả. Quá trình sản xuất diễn ra liên tục, vốn lưu động
được chuyển hóa toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi sau khi
thu được tiền bán sản phẩm. Để quản lý tốt vốn lưu động, nhà quản trị cần hiểu
rõ vốn lưu động, có thể dựa vào hình thái biểu hiện như:
Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt của doanh nghiệp, các khoản tương đương tiền.
Vốn bằng tiền thường không sinh lời hoặc có khả năng sinh lời thấp.
Các khoản phải thu: là một khoản mục trong tổng nguồn vốn lưu động khi
khách hàng cam kết mua hàng nhưng chưa thanh toán cho doanh nghiệp, thể hiện
giá trị trên các hóa đơn bán hàng, các phiếu chấp nhận trả tiền của người mua.
Hàng tồn kho: biểu hiện giá trị cho các chủng loại như: nguyên vật liệu phục
vụ cho dự trữ sản xuất, công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ, sản phẩm dở dang đang
trong quá trình sản xuất, các sản phẩm chờ thanh lý,… Hàng tồn kho chứa đựng
không chỉ chi phí bảo quản mà còn cả chi phí cơ hội của vốn lưu động.
Vốn lưu động có vai trò to lớn trong toàn bộ quá trình sản xuất. Để tổ
chức quản lý vốn lưu động có hiệu quả, tất nhiên là phải quản lý tốt các mặt

Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: giá trị các khoản nguyên
vật liệu, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ…
Vốn lưu động trong khâu sản xuất gồm: vốn sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm và vốn về các chi phí chờ kết chuyển.
Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm: giá trị thành phẩm, vốn bằng
tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.
Phân loại theo hình thái biểu hiện:
Vốn vật tư, hàng hóa là những khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng tài sản
cụ thể như vốn nguyên vật liệu, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm.
Vốn bằng tiền: các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân
hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Anh – Đỗ Thị Minh Thảo 4

Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh
nên được phân bổ dần vào giá thành sản phẩm của từng chu kỳ kinh doanh như:
chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây
dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, …
Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn:
Vốn chủ sở hữu: số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Tùy theo từng loại hình
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau nên vốn chủ sở hữu sẽ
khác nhau như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ
ra, vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần,…
Các khoản nợ phải trả: là khoản vốn lưu động hình thành từ các khoản vay từ
ngân hàng, các tổ chức tài chính, vốn vay thông qua phát hành các giấy tờ có giá,
các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa thanh toán. Các khoản nợ này doanh nghiệp
chỉ có thể được quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.
Cơ cấu vốn lưu động.
Cơ cấu vốn lưu động phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu
động trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp.

Vốn lưu động còn quyết định quy mô hoạt động của doanh nghiệp, có thể
tự chủ động sử dụng vốn khi gặp khó khăn, giúp doanh nghiệp chớp được thời cơ
đầu tư kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.
Vì vậy cần quản lý vốn lưu động đạt hiệu quả, hợp lý sao cho tỷ suất sinh
lợi của đồng vốn lưu động là cao nhất, là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả quản lý vốn lưu động.
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả quản lý vốn lưu động.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp cần phải
linh hoạt thích ứng với cơ chế mới có thể tồn tại và phát triển Vậy nên hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp.
Sử dụng vốn lưu động là việc dùng nguồn vốn lưu động để thực hiện các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý vốn lưu động được hiểu là sự tác động có tổ chức, có mục đích
của nhà quản trị lên nguồn vốn lưu động một cách liên tục nhằm đạt được mục
tiêu đã đặt ra.
Hiệu quả được hiểu là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu
tố, nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các
nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ giữa kết quả đạt được và
sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả đó.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn lưu động làm cho đồng vốn
Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Anh – Đỗ Thị Minh Thảo 6

sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài
sản ngắn hạn. Nó phản ánh mối quan hệ tương quan giữa doanh thu thuần về bán
hàng với chi phí vốn lưu động để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
Doanh thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng cao. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là điều kiện để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển vững mạnh.
Hiệu quả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh

- Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động sẽ đảm bảo an toàn và nâng cao
năng lực tài chính cho doanh nghiệp. Việc quản lý hiệu quả các nguồn vốn giúp
cho doanh nghiệp chủ động nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ
dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo toàn, doanh nghiệp
có đủ nguồn lực để khắc phục những khó khăn và rủi ro trong kinh doanh.
- Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động còn giúp doanh nghiệp chủ động
nâng cao khả năng cạnh tranh, tìm ra các biện pháp đáp ứng yêu cầu cải tiến
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm…
Doanh nghiệp cần sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý và hiệu quả. Vậy nên
nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động là rất cần thiết.
Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Anh – Đỗ Thị Minh Thảo 8
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá quản lý vốn lưu động.
Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa
1.Vòng quay của
vốn lưu động
Số vòng quay của vốn
lưu động bình quân trong
một kỳ nhất định.
2.Kỳ luân chuyển
vốn lưu động
Số ngày bình quân để
thực hiện một vòng quay
vốn lưu động.
3.Hệ số đảm
nhiệm của vốn
lưu động
Một đồng doanh thu
thuần sẽ cần bao nhiêu
đồng vốn lưu động.
4.Tỷ suất sinh lời

lượng vốn lưu động càng sử dụng nhiều thì việc quản lý hoạt động của doanh
nghiệp càng phức tạp. Vì vậy cần hiểu rõ được quy mô và kế hoạch phát triển
của doanh nghiệp để đưa ra biện pháp quản lý vốn lưu động phù hợp, hiệu quả.
Lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hiệu
quả quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp. Quyết định đầu tư phù hợp với khả
năng của doanh nghiệp, nhu cầu thị trường thì sẽ đưa ra kế hoạch quản lý vốn lưu
động vào sản xuất kinh doanh phù hợp, từ đó sản phẩm được tiêu thụ nhanh, làm
tăng vòng quay vốn lưu động tiếp tục thực hiện hoạt động tái sản xuất.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố như: Quy mô
vốn đầu tư, khả năng huy động vốn, tính linh hoạt của cơ cấu vốn đầu tư,… Tài
chính là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng hầu như đến tất cả các lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính ảnh hưởng đến việc nắm bắt các cơ hội
kinh doanh lớn, quyết định đầu tư, mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty. Nó ảnh
tới việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường,…
Trình độ quản lý: trình độ của cán bộ quản lý nhân sự tốt mới đảm bảo lao
động thực hiện tốt nhiệm vụ, sắp xếp nhân sự hợp lý sẽ không bị lãng phí lao
động, năng suất lao động tăng cao. Mặt khác, công tác quản lý vốn lưu động
không chặt chẽ sẽ dẫn đến thất thoát nguyên vật liệu gây ra việc sử dụng lãng phí
vốn lưu động trong quá trình mua sắm, dự trữ hàng hóa, tiêu thụ thành phẩm.
Trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên: công nhân có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao, có kinh nghiệm làm việc, tiếp thu nhanh khoa học
công nghệ mới, phát huy tính sáng tạo trong công việc, có ý thức giữ gìn, bảo vệ
tài sản của doanh nghiệp, tiết kiệm trong quá trình sản xuất làm tăng hiệu quả sử
dụng vốn lưu động, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý vốn trong doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố khách quan
Lạm phát: do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng
tiền bị giảm sút, dẫn đến tăng giá các loại nguyên vật liệu, hàng hóa điều này làm
tăng giá thành sản phẩm, dịch vụ. Từ đó ảnh hưởng tới sức tiêu thụ của doanh
nghiệp, doanh thu ít hơn, làm giảm hiệu quả quản lý vốn lưu động.

xuất phụ tùng xe máy, là một thành viên trực thuộc Công ty thương mại và dịch
vụ xuất nhập khẩu Hải Phòng (TRADIMEXCO HAI PHONG). Nhà máy được
thành lập chính thức theo quyết định số 3214/QĐ – UB ngày 19/11/2001 của Uỷ
ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đến ngày 1/11/2008 Căn cứ Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
29/11/2005, căn cứ Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính
phủ về việc chuyển đổi Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần và các văn bản
hướng dẫn thi hành; Căn cứ Quyết định số 4323/UBND- DN ngày 26/07/2007
của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc “ Cho phép Nhà máy Nhựa và
cơ khí thuộc Công ty thương mại và dịch vụ xuất nhập khẩu Hải Phòng tiến hành
Đại hội đồng cổ đông thành lập công ty Cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng.
Tên tiếng Việt : Công ty Cổ phần Nhựa và cơ khí Hải Phòng
Tên giao dịch tiếng Anh: Hai phong mechanics and plastic joint stock company.
Tên viết tắt: MPCo
Trụ sở giao dịch: Km 104 + 200, QL.5, P. Đông Hải, Q. Hải An, TP. Hải Phòng.
Vốn điều lệ: 12.752.150.000
2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
Ngành nghề kinh doanh của công ty:
Sản xuất và gia công các sản phẩm nhựa và cơ khí.
Sản xuất kinh doanh linh kiện động cơ, sản phẩm đồ nhựa, phụ tùng xe hai bánh
gắn máy và ôtô.
Lắp ráp hoàn chỉnh, sửa chữa và bảo hành xe hai bánh gắn máy.
Kinh doanh và dịch vụ xăng dầu.
Xuất khẩu các sản phẩm do Công ty sản xuất.
Nhập khẩu máy móc, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất và một số mặt hàng
tiêu dùng được nhà nước cho phép.
Kinh doanh và xuất nhập khẩu các mặt hàng khác theo Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh của Công ty và theo sự ủy quyền của Tổng giám đốc Công ty.
Về phạm vi kinh doanh của công ty:

Hội Đồng Quản trị: là cơ quan quản lý cao nhất để quản trị công ty, giải quyết
các vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty.
Tổng Giám đốc công ty: là người có quyền lực cao nhất trong công ty, chịu
mọi trách nhiệm với công ty cấp trên, với Nhà nước cũng như cán bộ công nhân
viên về hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phó tổng giám đốc giúp việc cho tổng giám đốc trực tiếp chỉ đạo các mặt
nghiệp vụ, các bộ phận hoạt động theo chức năng của mình.
Bộ máy quản lý sản xuất:
Phòng kế hoạch điều độ: tổ chức kế hoạch sản xuất của công ty, nghiên cứu
thị trường, tạo lập quan hệ với đối tác, tổ chức và đảm bảo định mức và tiến độ
sản xuất, phân tích kết quả hoàn thành sản xuất để tính giá thành sản phẩm.
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng
hành
chính
Phòng
lao
động
tiền
lương
Bộ
phận
kho
hàng
Phòng
kế
hoạch

Phòng kho hàng: tổ chức quản lý và xuất nhập khẩu, cấp phát hàng hóa trong
kho đúng quy định, thực hiện lưu trữ, bảo quản đảm bảo đáp ứng kế hoạch sản
xuất, tham gia kiểm kê hàng hóa tồn kho.
Khối sản xuất: là các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh, nhận các chỉ tiêu
kế hoạch, hoàn thành đúng yêu cầu kỹ thuật, định mức sản xuất.
Phân xưởng nhựa: sản xuất bộ nhựa xe máy và ép, gia công các sản phẩm
nhựa khác tùy theo đơn đặt hàng của các khách hàng.
Phân xưởng sơn: phun sơn bộ nhựa xe máy và xử lý các sản phẩm chưa
đạt sau khi sơn.
Tại mỗi phân xưởng đều có một quản đốc, một phó quản đốc và các
trưởng ca giám sát, đôn đốc, kiểm tra và hướng dẫn kịp thời từng khâu của quá
trình sản xuất.
Bộ máy kế toán của công ty
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy kế toán công ty
( Nguồn: Tài liệu của công ty Cổ phần Nhựa và Cơ khí Hải Phòng năm 2013)
Phòng tài chính kế toán của công ty bao gồm 5 người: 1 kế toán trưởng, 3
kế toán viên và một thủ quỹ. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình
thức tập trung tổng hợp chứng từ của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh do các
phòng kinh doanh chuyển tới. Căn cứ vào các chứng từ liên quan, phòng kế toán
làm nhiệm vụ hạch toán chi tiết và tổng hợp, lập báo cáo, phân tích hoạt động
kinh tế toán công ty.
2.2. Thực trạng quản lý vốn lưu động tại công ty.
2.2.1. Cơ cấu vốn lưu động tại công ty.
a. Phân tích biến động trong cơ cấu vốn kinh doanh của công ty.
Theo số liệu thực tế, ta có thống kê về cơ cấu vốn kinh doanh của công ty
từ năm 2012 – 2013 như sau:
Bảng 2.1: Kết cấu vốn kinh doanh của công ty
Đơn vị: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch

đạt 22.233.533 nghìn đồng, chiếm tỉ trọng 78,27% trong tổng vốn kinh doanh, so
với năm 2012, tỉ trọng cơ cấu vốn cố định giảm 6,75%. So với năm 2012, vốn cố
định trong năm 2013 giảm đi 675.675 nghìn đồng, tương ứng tỉ lệ giảm 2,95%.
Qua bảng phân tích trên, ta thấy vốn lưu động chiếm tỉ trọng tương đối
nhỏ trong cơ cấu vốn kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, lượng vốn lưu động có
sự chuyển dịch tăng trong năm 2013, cụ thể tăng 6,75% so với năm 2012. Đây là
dấu hiệu cho thấy sự phát triển trong quy mô sản xuất kinh doanh của công ty,
chủ yếu gia tăng về vốn lưu động.
Mặc dù sự biến động trong cơ cấu vốn của công ty không lớn nhưng nó là
biểu hiện cho thấy công ty gia tăng đầu tư tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn của
công ty tăng thể hiện công ty dự trữ nhiều hơn về tiền mặt cho hoạt động thanh
toán ngắn hạn, do chính sách bán hàng của công ty để tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường. Trong khi đó, tỷ trọng vốn cố định của công ty có xu hướng giảm
nhưng mức giảm nhẹ do quá trình thu hồi khấu hao tài sản cố định.
Phân tích biến động trong cơ cấu vốn lưu động của công ty.
Theo số liệu thống kê trog bảng cân đối kế toán của công ty trong 2 năm
2012- 2013, ta có:
Bảng 2.2: Bảng phân tích biến động các thành phần vốn lưu động
Đơn vị: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch
Số tiền
Tỉ trọng
(%)
Số tiền
Tỉ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)

trọng 24,65% trong tổng vốn lưu động. Vốn trong thanh toán ngắn hạn chiếm tỉ
trọng khá cao trọng cơ cấu vốn lưu động của công ty. Năm 2013 vốn trong thanh
toán ngắn hạn là 2.308.336 nghìn đồng, chiếm tỉ trọng 37,39% trong tổng vốn
lưu động, so với năm 2012, tỉ trọng tăng thêm 12,7%. Hiện nay, vốn trong thanh
toán ngắn hạn đã chiếm tỉ trọng cao, mà còn có xu hướng đang tăng, chứng tỏ
vốn lưu động của công ty bị chiếm dụng vốn với tỉ lệ khá cao. Vốn trong thanh
toán ngắn hạn trong năm 2013 tăng mạnh so với năm 2012, cụ thể là tăng
1.313.221 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 131.97%.
Chỉ tiêu này tăng mạnh như vậy có thể do xu hướng phát triển sản xuất kinh
doanh của công ty trong giai đoạn này là thực hiện chính sách bán chịu cho
khách hàng để tăng lượng sản phẩm tiêu thụ. Có thể đánh giá rằng đây là chiến
lược kinh doanh phù hợp chính sách phát triển của công ty hiện nay. Tuy nhiên
công ty cũng cần xem xét về nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ của các
hãng xe máy trong tương lai để kịp thời điều chỉnh chính sách bán hàng cho phù
hợp. Nếu các khoản phải thu từ khách hàng chiếm tỉ trọng quá cao, công ty cũng
nên xem xét và đưa ra những biện pháp tích cực hơn để tăng cường công tác thu
hồi nợ, giảm khoản mục phải thu, tránh tình trạng để khách hàng chiếm dụng
nhiều vốn, gây rủi ro mất vốn, làm giảm hiệu quả quản lý vốn lưu động của công
ty.
Vốn hàng tồn kho của công ty năm 2012 đạt 2.504.795 nghìn đồng, chiếm tỉ
trọng 62,06% trong tổng vốn lưu động. Vốn hàng tồn kho chiếm tỉ trọng rất cao
trong cơ cấu vốn lưu động. Năm 2013, vốn hàng tồn kho là 2.838.040 nghìn
đồng, chiếm tỉ trọng 45,96% trong tổng vốn lưu động, so với năm 2012, tỉ trọng
giảm 16,09%. Tuy nhiên, vốn hàng tồn kho trong năm 2013 tăng nhẹ so với năm
2012, cụ thể tăng 333.245 nghìn đồng, tương ứng tăng 13,3%.
Sang năm 2013, tỉ trọng hàng tồn kho trong cơ cấu vốn lưu động của công
ty lại có xu hướng giảm đi so với năm 2012. Nguyên nhân của biến động này do
ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách bán hàng của công ty, công ty thực hiện tăng
tín dụng thương mại, tăng lượng sản phẩm tiêu thu, làm cho các khoản phải thu
của khách hàng tăng lên. Vì vậy, lượng hàng tồn đọng trong kho sẽ giảm đi, làm

2013/2012
+/- Tỷ lệ (%)
1.Doanh thu thuần Nghìn đồng 51.497.046 55.968.073 4.471.027 8,68
2.Vốn lưu động bình quân Nghìn đồng 3.464.523 3.264.523 -200.000 -5,77
3.Lợi nhuân sau thuế Nghìn đồng 35.773 172.503 136.730 382,22
4. Giá vốn hàng bán Nghìn đồng 48.325.444 52.739.892 4.414.448 9,13
5.Hàng tồn kho bình quân Nghìn đồng 2.481.137 2.671.418 190.280,5 7,67
6.Các KPT bình quân Nghìn đồng 1.555.995 1.651.725,5 95.730,5 6,15
7.Số vòng quay VLĐ
(7) = (1) : (2)
Vòng 14,86 17,14 2,28 15,34
8.Kỳ luân chuyển VLĐ
(8) = 360 : (7)
Ngày 24,22 21,00 -3,22 -13,30
9.Vòng quay HTK
(9) = (4) : (5)
Vòng 19,48 19,74 0,27 1,36
10.Kỳ luân chuyển HTK
(10) = 360 : (9)
Ngày 18,48 18,23 -0,25 -1,34
11.Vòng quay các KPT
(11) = (1) : (6)
Vòng 33,10 33,88 0,79 2,38
12.Kì thu tiền bình quân
(12) = 360 : (11)
Ngày 10,88 10,62 -0,25 -2,33
13.Sức sinh lời VLĐ
(13) = (3) : (2)
Lần 1,03 5,28 4,25 411,76
14.Hệ số đảm nhiệm VLĐ

động quay được 21 ngày. Như vậy so với năm 2012, kì luân chuyển vốn lưu
động năm 2013 giảm 3,22 ngày, tương ứng với tỉ lệ giảm 13,3%, số ngày kì luân
chuyển 1 vòng quay vốn lưu động đã được rút ngắn hơn.
Chỉ tiêu này tỉ lệ nghịch với số vòng quay vốn lưu động. Do công ty phấn
đấu tăng vòng quay vốn lưu động nên phải rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu
động. Do đó, độ dài thời gian một vòng quay vốn lưu động giảm trong năm 2013
là tốt, thể hiện tốc độ luân chuyển vốn lưu động có xu hướng tăng, tăng hiệu quả
quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp.
Qua số liệu phân tích trong 2 năm, ta có thể thấy vòng quay vốn lưu động
tăng lên, đồng nghĩa với kỳ luân chuyển của vốn lưu động giảm đi. Điều này
chứng tỏ rằng các biện pháp quản lý vốn lưu động của công ty ngày càng có hiệu
quả. Vì vậy, việc quản lý hiệu quả số vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với
việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty.
Tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho.
 Vòng quay hàng tồn kho:
Năm 2012, số lần luân chuyển hàng tồn kho trong kỳ là 19,48 vòng. Năm
2013, số lần luân chuyển là 19,74 vòng, tăng nhẹ so với năm 2012, cụ thể tăng
0,27 vòng, tương ứng tỉ lệ tăng 1,36%.
Ta thấy qua 2 năm vòng quay vốn hàng tồn kho tăng lên nhẹ, có thể nói
đây là sự biến động tốt đối với công ty hiện nay. Điều đó có nghĩa là lượng sản
phẩm được tiêu thụ nhanh, không có tình trạng ứ đọng hàng tồn kho, công ty có
thể sớm tiếp tục thực hiện chu kì sản xuất mới.
Tuy nhiên, nếu hệ số này tăng nhiều và tăng quá cao cũng không tốt, vì
như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị
trường tăng đột ngột hay giá cả nguyên vật liệu tăng cao thì rất có khả
năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần.
Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có
thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy khi xác định số vòng quay
hàng tồn kho trong kỳ cần căn cứ vào tình hình thị trường và các đặc điểm sản

mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Vì số vòng quay của các
khoản phải thu trong một kì tăng nhanh, kéo theo kì thu tiền bình quân sẽ giảm
đi, thời gian nợ của khách hàng bị rút ngắn, có thể làm cho khách hàng không hài
lòng. Họ dần dần sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Nguyên nhân dẫn đến sự biến động này là do:
- Doanh thu thuần của công ty năm 2012 đạt 51.497.046 nghìn đồng. Doanh
thu thuần năm 2013 đạt 55.968.073 nghìn đồng, so với năm 2012, doanh thu tăng
lên 4.471.027 nghìn đồng, tương ứng với tỉ lệ tăng 8,86%.
- Các khoản phải thu bình quân năm 2012 là 1.555.995 nghìn đồng. Các
khoản phải thu bình quân năm 2013 là 1.651.725,5 nghìn đồng, so với năm 2012,
các khoản phải thu bình quân tăng lên 95.730,5 nghìn đồng, tương ứng với tỉ lệ
tăng 6,15%.
Kỳ thu tiền bình quân:
Năm 2012, kì thu tiền bình quân là 10,88 ngày. Năm 2013, kì thu tiền bình
quân là 10,62 ngày, so với năm 2012, kì thu tiền bình quân giảm 0,25 ngày,
tương ứng giảm 2,33%.
Biến động này là hoàn toàn phù hợp bởi kỳ thu tiền bình quân tỷ lệ nghịch
với số vòng quay các khoản phải thu, công ty tăng số vòng quay các khoản phải
thu nên làm cho kì thu tiền bình quân giảm.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Năm 2012, để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần sẽ cần 0,0673 đồng vốn lưu
động bình quân. Năm 2013, để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần sẽ cần 0,0583 đồng
vốn lưu động bình quân, so với năm 2012, hệ số đảm nhiệm giảm 0,009 lần
tương ứng tỉ lệ giảm 13,37%.
Theo như sự phân tích trên ta thấy sự biến động giảm chủ yếu là do vốn
lưu động bình quân trong năm 2013 giảm 200.000 nghìn đồng, tương ứng tỉ lệ
giảm 5,77% so với năm 2012.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động giảm như vậy là dấu hiệu tốt cho công ty,
công ty đã tiết kiệm được một lượng vốn lưu động nhất định dùng cho sản xuất

Sau khi phân tích tình hình thực tế về công tác quản trị vốn lưu động tại
công ty CP Nhựa và cơ khí Hải Phòng, chúng ta có thể thấy tình hình sử dụng
vốn lưu động tại công ty có một số ưu nhược điểm sau:
2.3.1. Kết quả đạt được.
Qua số liệu thống kê cùng với việc phân tích các chỉ tiêu tài chính trong
năm 2013, ta thấy:
Hoạt động sản xuất kinh doanh công ty đã thực hiện có hiệu quả. Năm
2013, doanh thu tăng 8,68%, lợi nhuận sau thuế tăng 382,22% rất nhanh so với
năm 2012, đảm bảo đủ vốn lưu thông để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh,
mặt khác đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.
Vốn lưu động của công ty năm 2013 tăng 52,97% về tỉ lệ và tăng 6,76%
về tỉ trọng trong cơ cấu vốn kinh doanh so với năm 2012. Công ty tăng đầu tư về
vốn lưu động, chủ động hơn trong khả năng thanh toán khi có sự cố xảy ra.
Vòng quay vốn lưu động năm 2013 tăng thêm 15,34% so với năm 2012.
Tốc độ quay vòng vốn lưu động tăng cho thấy hiệu quả quản lý vốn lưu động.
Vòng quay hàng tồn kho năm 2013 tăng nhẹ 1,36% so với năm 2012 nhờ
chính sách tiêu thụ của công ty, góp phần giải quyết lượng hàng ứ đọng, tăng khả
năng tiêu thụ sản phẩm của công ty trên thị trường.
Vòng quay các khoản phải thu năm 2013 tăng nhẹ 2,38% so với năm
2012. Công tác thu hồi vốn đang được chú trọng hơn, đồng thời cũng tránh ảnh
hưởng đến chính sách bán hàng ưu đãi của công ty.
Sức sinh lời của vốn lưu động năm 2013 tăng mạnh 411,76% và hệ số
đảm nhiệm giảm 13,37% so với năm 2012. Tỉ lệ sinh lời của đồng vốn lưu động
tăng cao, đồng thời cũng công ty còn tiết kiệm được một lượng vốn lưu động
nhất định, việc quản lý vốn lưu động của công ty có hiệu quả.
Qua 2 năm 2012 – 2013, quy mô vốn lưu động của công ty có xu hướng
tăng nhanh, phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không
gây lãng phí vốn và có những tỷ số tài chính tích cực. Điều đó cho thấy các nhà
quản trị công ty đã đưa ra được những kế hoạch và chính sách thực hiện hoạt
động sản xuất phù hợp, có hiệu quả với định hướng phát triển của công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status