Đề tài: Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội - Pdf 31

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Lời mở đầu

Nằm trong khu vực Châu á- Thái Bình Dơng, một khu vực kinh tế vào
loại phát triển năng động nhất Thế giới, Việt Nam đang ở trong quá trình giao
lu và hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực cũng nh trên thế giới. Sự hội
nhập này một mặt thúc đẩy nền kinh tế nớc ta phát triển nhng mặt khác lại
buộc các doanh nghiệp nớc ta, nhất là các doanh nghiệp thơng mại phải cọ sát
trực tiếp với thị trờng trong nớc và quốc tế.
Vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay đối với các doanh nghiệp là
vốn. Vốn thực sự là một yếu tố không thể thiếu đợc để tiến hành kinh doanh.
Chỉ khi có nó ngời ta mới có thể tiến hành các hoạt động đầu t, khởi đầu và
duy trì các hoạt động kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn không phải là vô hạn mà nó luôn trong
tình trạng khan hiếm. Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố có tính
chất quyết định tới mức độ tăng trởng hay suy thoái của một doanh nghiệp.
Công tác quản lý và sử dụng vốn có liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh, ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp đã có những phơng thức và biện pháp khác nhau
nhằm huy động, sử dụng vốn một cách năng động sao cho có hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, cũng có không ít các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn.
Các doanh nghiệp này chẳng những không huy động và phát triển đợc vốn mà
còn lâm vào tình trạng mất vốn do quản lý và sử dụng vốn không chặt chẽ,
kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, Công ty cổ phần đầu t công trình Hà Nội đã
có nhiều cố gắng tìm đợc hớng khai thác huy động vốn vào phát triển mở rộng
sản xuất kinh doanh và đã đạt đợc những kết quả nhất định.
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết
nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của đồng vốn sử dụng. Do nhận thức đợc tầm
quan trọng và sự cần thiết đó, sau một quá trình học tập tại trờng và thời gian
thực tập, Em đã chọn đề tài Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu
động tại Công ty cổ phần đầu t công trình Hà Nội làm đề tài cho chuyên đề

quyền sở hữu tài sản trong sự thay đổi về chính sách kinh tế của Chính phủ nh
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chính sách mở cửa nhằm thu hút
đầu t nớc ngoài.. . Những thay đổi này có mối liên quan mật thiết với sự thay
đổi trong cách thức quản lý vốn đang diễn ra hiện nay.
Các doanh nghiệp chính là những đơn vị trực tiếp tác động nhằm sử
dụng và khai thác mọi tiềm năng để sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng
hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, tích luỹ cho nền kinh tế. Chính
vì thế việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn không những đem lại lợi ích
cho bản thân doanh nghiệp mà còn là nhân tố quan trọng đóng góp cho sự ổn
định phát triển đi lên của toàn xã hội.
1.1 Vốn l u động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
1.1.1Khái niệm vốn lu động:
Qúa trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện sự khác
biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất sản xuất kinh doanh. Sự khác
biệt đó phần lớn là do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp. Cho
dù có sự khác biệt đi đến đâu thì có thể khái quát quá trình này theo hai yếu tố
là : Đầu vào và đầu ra.
Một đầu vào là một hàng hoá hay dịch vụ mà các doanh nghiệp sử dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Các đầu vào đợc kết hợp với nhau
để sản xuất ra hàng loạt các hàng hoá và dịch vụ.
2
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Do đó, để có các đầu ra có chất lợng phải tổ chức tốt các đầu vào. Đầu
vào đợc thể hiện nhiều bằng các yếu tố nhng tựu trung lại chúng nằm trong hai
yếu tố cơ bản: Sức lao động và t liệu lao động. Toàn bộ giá trị các yếu tố đầu
vào bao gồm toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo cho sản
xuất kinh doanh gọi là vốn.
Nh vậy có thể hiểu vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đang phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng d. Sự

trong toàn bộ số vốn kinh doanh và có tốc độ chu chuyển nhanh hơn vốn cố
định. Vốn lu động trong doanh nghiệp thơng mại là một bộ phận của vốn kinh
doanh đợc dùng để đầu t mua sắm tài sản lu động và hàng hoá nhằm mục đích
3
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
kinh doanh kiếm lời. Trong đó phần lớn số vốn lu động của doanh nghiệp đợc
dùng để mua hàng hoá vì chính hàng hoá là đối tợng kinh doanh của doanh
nghiệp thơng mại. Hàng hoá mua về dự trữ tại doanh nghiệp trong một khoảng
thời gian sẽ bán ra hoặc hàng hoá mua về đợc tiêu thụ ngay. Do đó, tốc độ hay
thời gian vận động của một đơn vị hàng hoá là nhanh, sự vận động của hàng
hoá gắn liền với sự vận động của vốn lu động nói chung.
1.1.2.Vai trò tác dụng của vốn lu động trong doanh nghiệp .
Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu đợc cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Số lợng vốn thể hiện quy mô sản xuất kinh doanh và thế lực của doanh
nghiệp trên thị trờng.
Theo cách nhìn về tốc độ chu chuyển vốn, vốn đợc chia thành hai bộ
phận: vốn cố định và vốn lu động. Muốn khai thác năng lực hoạt động của các
tài sản cố định thuộc vốn cố định, doanh nghiệp cần có một lợng vốn lu động
để thực hiện sản xuất kinh doanh, chỉ thông qua những hoạt động đó mới mới
tạo ra lợi nhuận, tạo cơ sở tồn tại và phát triển cho doanh nghiệp. Vốn lu động
đợc sử dụng để dự trữ vật t hàng hoá, thanh toán các khoản chi phí phải trả liên
quan đến kỳ hạch toán, đầu t ngắn hạn.. ..Nh vậy, vốn lu động chính là công
cụ phản ánh sự vận động của vật t hàng hoá đồng thời là công cụ để kiểm tra
quá trình mua sắm, dự trữ và tiêu thụ vật t hàng hoá trong từng thời kỳ, thời
điểm của doanh nghiệp.
Vốn lu động đợc phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển nên đã tổ
chức tốt đợc quá trình đa hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất tới lĩnh vực tiêu dùng,
giải quyết các mâu thuẫn vốn có giữa sản xuất và tiêu dùng.
Sử dụng vốn lu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng với tất cả các doanh
nghiệp, nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các tài sản lu đọng,

doanh nghiệp.
- Vốn công cụ dụng cụ:
Vốn công cụ dụng cụ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các loại công cụ
dụng cụ lao động có trong doanh nghiệp. Công cụ dụng cụ là những t liệu lao
động không đủ tiêu chuẩn về gía trị và thời gian sử dụng theo quy định của tài
sản cố định.
Theo quy định hiện nay, những t liệu lao động sau đây không phân biệt
tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng đợc coi là công cụ dụng cụ:
+Các lán trại tạm thời, công cụ trong XDCB, dụng cụ gá lắp chuyên
dùng cho sản xuất.
+Các loại bao bì dùng để đựng vật liệu hàng hoá trong quá trình thu mua
bảo quản và tiêu thụ hàng hoá.
+Các loại bao bì bán kèm theo hàng hoá có tính tiền riêng nhng trong
quá trình bảo quản hàng hoá vận chuyển trên đờng và dự trữ trong kho có tính
hao mòn để trừ dần vào giá trị của bao bì.
+Những đồ nghề bằng thuỷ tinh sành sứ.
+Quần áo giầy dép chuyên dùng để làm việc.
Công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp đợc chia thành hai loại nh sau:
-Công cụ dụng cụ phân bổ một lần: Đây là những công cụ dụng cụ có
giá trị nhỏ, số lợng không nhiều có tính chất thay thế bổ sung. Những công cụ
dụng cụ này có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhng vì có giá
trị nhỏ nên toàn bộ giá trị của chúng đợc tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
- Công cụ dụng cụ phân bổ hai hay nhiều lần: Đây là những công cụ
dụng cụ có giá trị lớn hoặc xuất dùng hàng loạt với mục đích thay thế trang bị
mới nó có tác dụng phục vụ trong nhiều kỳ. Những công cụ dụng cụ này khi
xuất dùng đợc coi nh một khoản chi phí trả trớc phân bổ một phần vào chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ và tiếp tục phân bổ vào các kỳ kinh doanh tiếp
theo.
5
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38

hàng, kho bạc hoặc chuyển qua bu điện để chuyển cho ngân hàng hay ngời đợc
hởng nhng cha nhận đợc giấy báo có (ngân hàng ).Theo quy định tiền đang
chuyển gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ trong các trờng hợp sau:
*Thu tiền mặt, séc, ngân phiếu nộp thẳng vào ngân hàng.
*Chuyển tiền qua bu điện để chuyển cho ngân hàng hoặc đối tợng khác.
*Thu tiền hàng, nộp thuế ngay cho kho bạo Nhà nớc
Trong kinh doanh,vốn bằng tiền vừa đợc sử dụng để thanh toán các khoản
nợ, để mua sắm vật t hàng hoá, vừa là kết quả của việc mua bán hay thu hồi
công nợ nên các doanh nghiệp cần xác định số vốn bằng tiền hợp lí để tạo
thuận lợi cho qúa trình sản xuất kinh doanh.
6
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Mức dự trữ vốn bằng tiền trực tiếp phụ thuộc vào mức dự trữ hàng hoá.
Trong doanh nghiệp hàng hoá và tiền tệ tạo thành hai dòng luân chuyển: dòng
hàng hoá và dòng tiền tệ vận động theo hai chiều ngợc nhau. Khi mua hàng,
dòng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp đồng thời dòng hàng hoá đi vào và khi
bán hàng hoá thì ngợc lại. Thực tế, khi thu tiền về doanh nghiệp không dùng
số tiền đó mua ngay một lợng hàng hoá tơng ứng với số hàng vừa mới bán ra
mà phải sau một khoảng thời gian nhất định doanh nghiệp mới mua vào một l-
ợng hàng hoá dự trữ. Nh vậy, doanh nghiệp phải dự trữ một khoản tiền nhất
định trong một khoảng thời gian nhất định.
Ngoài mức dự trữ tiền còn phụ thuộc quy mô lợng hàng hoá luân
chuyển, tức quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.Quy mô kinh doanh càng
lớn thì mức dự trữ càng lớn.
Trong thực tế vốn bằng tiền còn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng
ngày của doanh nghiệp. Dự trữ tiền mà vợt quá nhu cầu tiêu dùng thì sẽ gây
hiện tợng ứ đọng vốn. Số tiền thừa này nên đợc đa vào kinh doanh hoặc gửi
vào ngân hàng sẽ có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu dự trữ tiền quá ít sẽ gây khó
khăn cho doanh nghiệp trong chi tiêu, đầu t mua sắm hàng hoá, hạn chế mức lu
chyển hàng hoá.

1.1.3.4.Vốn đầu t tài chính ngắn hạn:
Vốn đầu t tài chính ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền của các tài sản
doanh nghiệp đầu t vào các tổ chức kinh tế khác với mục đích thu lợi nhuận
trong khoảng thời gian ngắn thông thờng là dới một năm. Việc đầu t có thể là
việc bỏ vốn mua chứng khoán có giá hoặc là góp vốn liên doanh bằng tiền mặt
hoặc hiện vật.
Khi doanh nghiệp có một số vốn nào đó không sử dụng hết hoặc sử
dụng không có hiệu quả bằng khả năng đầu t tài chính ngắn hạn đem lại,
doanh nghiệp sẽ tận dụng tối đa số vốn còn nhàn rỗi vào đầu t tài chính nhằm
tăng lợi nhuận.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ đầu t tài chính, doanh nghiệp phải
xem xét một cách thoả đáng các rủi ro bất trắc có thể xảy ra và lập dự phòng
nếu thấy cần thiết.
Dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn đợc lập nhằm ghi nhận trớc các
khoản tổn thất có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan. Việc lập
dự phòng giảm giá đầu t ngắn hạn cần thiết đảm bảo cho các hoạt động đầu t
đợc diễn ra bình thờng ở các kỳ kinh doanh tiếp theo.
1.1.3.5.Vốn thuộc các khoản tạm ứng:
Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật t do doanh nghiệp giao cho
ngời nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó hoặc
giải quyết một công việc đã đợc phê duyệt. Ngời nhận tạm ứng phải là cán bộ
công nhân viên tại doanh nghiệp. Khi thực hiện xong công việc đợc giao,
doanh nghiệp và ngời nhận tạm ứng phải tiến hành thanh toán các khoản tạm
ứng đã thực hiện.
1.3.6.Chi phí trả tr ớc:
Là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhng có liên quan đến hoạt động
kinh doanh của nhiều kỳ nên cha thể tính hết đợc vào chi phí trong kỳ mà phải
tính cho hai hay nhiều kỳ tiếp theo. Chi phí trả trớc gồm:
+Chi phí về thuê nhà kho, văn phòng.. phục vụ cho kinh doanh nhiều kỳ.
+Chi phí phải trả về thuê dịch vụ hoặc lao vụ cho hoạt động kinh doanh.

bảo việc cung cấp hàng hoá hay dịch vụ đợc thờng xuyên liên tục và chính
xác. Tiền ký quỹ ngoài tiền mặt ra có thể là vàng bạc đá quý, chứng từ có giá
khác.
1.1.3.8.Vốn l u động khác:
Là bộ phận của vốn lu động biểu hiện bằng tiền giá trị cuả các khoản chi
sự nghiệp, chi phí chờ kết chuyển..
Thông thờng vốn lu động trong doanh nghiệp đợc chia thành các loại
trên và ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu về vốn lu động cũng khác
nhau. Việc xem xét kết cấu vốn lu động sẽ cho ta biết đợc tình hình phân bổ
vốn lu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn trong các giai đoạn luân chuyển từ đó
xác định trọng điểm quản lý vốn lu động cho từng doanh nghiệp để tìm biện
pháp tối u nâng cao hiệu quả của đồng vốn trong từng điều kiện cụ thể. Khi
thực tế đòi hỏi phải phải thay đổi phơng hớng sản xuất kinh doanh thì kết cấu
vốn lu động trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy đợc những biến đổi về
mặt chất lợng quản lý vốn lu dôngj tại mỗi doanh nghiệp.
Có nhiều nhân tố ảnh hởng tới kết cấu vốn lu động, ta có thể quy thành ba loại
sau:
- Những nhân tố về mặt sản xuất:
9
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Các doanh nghiệp có quy mô tính chất trình độ, chu kỳ sản xuất khác
nhau trình độ phức tạp của sản phẩm và những yêu cầu về nguyên vật liệu sản
xuất khác nhau sẽ có sự khác nhau về tỷ trọng vốn bỏ vào khâu dự trữ và khâu
sản xuất.
- Những nhân tố về mua sắm vật t và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá:
Các doanh nghiệp hàng năm phải sử dụng nhiều loại vật t khác nhau của
các loại hàng khác nhau. Khoảng cách giữa doanh nghiệp và chủ hàng, kỳ hạn
bán hàng, chủng loại số lợng và giá cả..có thể gây ra những thay đổi trong kết
cấu vốn lu động..
- Những nhân tố về mặt thanh toán:

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
trong khu vực kinh tế quốc doanh, xu hớng chung là tiến tới cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nớc. Vì vậy nguồn vốn này sẽ giảm dần về số lợng và tỷ
trọng.
Với doanh nghiệp liên doanh, nguồn vốn chủ sở hữu là do các thành
viên tham gia liên doanh đóng góp. Các thành viên tham gia liên doanh có thể
là các tổ chức hay cá nhân. Đối với công ty cổ phần, chủ sở hữu là các cổ
đông. Đối với các doanh nghiệp t nhân chủ sở hữu là các cá nhân hoặc hộ gia
đình.
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm ba bộ phận:
+Nguồn vốn do các chủ đầu t đóng góp để thành lập hay mở rộng doanh
nghiệp. Để thành lập doanh nghiệp, các chủ sở hữu phải đóng góp một lợng
vốn nhất định nó không đợc thấp hơn số vốn pháp định do Nhà nớc quy định
cho từng loại hình doanh nghiệp kinh doanh.
Nếu bắt đầu công việc kinh doanh, doanh nghiệp có tỷ trọng vốn này
trong tổng số vốn lớn sẽ đợc bạn hàng bỏ vốn cho vay hoặc góp vốn đầu t. Tuy
nhiên, cơ cấu vốn do các chủ đầu t đóng góp không nên quá lớn bởi vì họ có
thể sẽ phải chịu rủi ro nếu công việc kinh doanh thất bại. Do vậy, doanh nghiệp
cần chủ động trong việc bổ sung từ các nguồn tài trợ khác.
Nguồn vốn đợc bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp theo quyết định của các chủ sở hữu hay của Hội đồng quản trị.
Sau một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp sẽ xác định đợc kết quả kinh doanh của
kỳ đó. Một phần lợi nhuận ròng sau thuế đợc phân chia cho các đối tợng có
liên quan. Với doanh nghiệp nhà nớc phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách
nhà nớc về khoản vốn mà mình đã sử dụng, với các công ty liên doanh là chia
lợi nhuận cho các bên tham gia liên doanh..Một phần khác đợc bổ sung vào
vốn kinh doanh mà chủ yếu là vốn lu động. Đây cũnglà một bộ phận của vốn
chủ sở hữu. Tuy nhiên, phần vốn tự bổ sung cũng đợc xác định ở mức vừa phải
để tranh thủ các khoản nợ, tăng mức doanh lợi vốn và san sẻ rủi ro trong kinh
doanh.

Thông thờng, vốn huy động từ bên ngoài theo các nguồn sau:
-Nguồn vốn vay ngắn hạn: nguồn này đợc tạo ra từ việc vay mợn các đối
tợng bên ngoài doanh nghiệp trong khoảng thời gian ngắn, thờng là dới một
năm. Nguồn vốn này gồm có:
*Vay từ các ngân hàng, các tổ chức tài chính tín dụng: Doanh nghiệp có
thể vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính để bù đắp cho vốn bị thiếu.
Để vay đợc vốn từ các đối tợng này phải có những điều kiện nhất định và phải
trả lãi. Vì vậy doanh nghiệp cần có sự tính toán kỹ trớc khi sử dụng nguồn vốn
này.
*Vay giữa các doanh nghiệp: Đây thực chất là việc chiếm dụng vốn lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể nhận tiền trớc của khách
hàng hoặc mua hàng chậm trả của các doanh nghiệp khác. Bằng những khoản
trên, doanh nghiệp có thể sử dụng chúng cho những nhu cầu tức thời về vốn
của mình.
*Vay từ thị trờng vốn: Vay từ thị trờng vốn chủ yếu là hoạt động phát
hành trái phiếu ngắn hạn nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân
c để đáp ứng cho yêu cầu về vốn. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu phải
tuân theo những quy định của tài chính và pháp luật và không phải doanh
nghiệp nào cũng có thể phát hành trái phiếu đợc.
-Nguồn vốn liên doanh liên kết ngắn hạn.
Ngoài hai nguồn vốn chủ yếu trên, vốn lu động có thể huy động từ một
số nguồn khác nữa. Việc chia vốn lu động ra thành các loại vốn nói trên nhằm
tạo khả năng doanh nghiệp xem xét và quyết định huy động nguồn vốn nào là
tối u nhất, doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn các nguồn vốn để phải trả một
khoản chi phí ít nhất nhng vẫn đáp ứng đợc nhu cầu vốn kinh doanh của mình.
12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Các doanh nghiệp cần dự kiến nhu cầu đầu t trong các kế hoạch dài hạn
để có thể chủ động trong việc huy động vốn. Mặc dù Nhà nớc có chủ trơng cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc nhng hiện nay việc huy động vốn thông

nhất là trong cơ chế thị trờng hiện nay. Chính vì vậy mà ta cần nghiên cứu về
hiệu quả sử dụng vốn lu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lu động của doanh nghiệp thể hiện mối quan hệ
giữa kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh với vốn lu động đầu t cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh.
Hiệu quả Kết quả
sử dụng =
13
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
vốn lu động Vốn lu động sử dụng bình quân
Trong đó:
+Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đợc thể hiện bằng doanh thu
hay lợi nhuận trong kỳ.
+Vốn lu động sử dụng bình quân là số vốn lu động đợc tính bình quân
trong toàn bộ kỳ kinh doanh. Đây là số vốn lu động mà doanh nghiệp sử dụng
để đầu t cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ đó.
Với mục tiêu là xem xét tốc độ chu chuyển vốn lu động hay còn gọi là
thời gian của một kỳ chu chuyển thì kết quả đợc tính bằng mức doanh thu theo
giá vốn còn với mục tiêu để đánh giá mức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra thì kết
quả đó là mức lợi nhuận đạt đợc.
Trên thực tế, khi tính toán chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lu động để so
sánh ở những khoảng thời gian khác nhau cần phải lu ý tới tình hình biến động
về giá cả, tình hình thị trờng..
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động là cần thiết bởi hiệu quả sử
dụng vốn lu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất
lợng công tác sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu
quả sử dụng vốn lu động là chỉ tiêu phức tạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố
trong quá trình sản xuất kinh doanh nh lao động, t liệu lao động..nên có thể nói
rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ thực sự có hiệu quả khi
doanh nghiệp biết sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu

văn hoá của toàn xã hội.
Trên thực tế, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội thông thờng là thống
nhất với nhau. Khi doanh nghiệp có lợi nhuận và đứng vững trên thơng trờng
thì có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả đồng thời chính những kết quả
đó đã phục vụ cho nhu cầu xã hội. Nh vậy, doanh nghiệp đã tạo ra hiệu quả xã
hội.
Tuy nhiên, cũng có thể vì để đáp ứng nhu cầu xã hội để đạt đợc hiệu quả
xã hội mà doanh nghiệp không đạt đợc hiệu quả kinh tế nảy sinh ra mâu thuẫn
giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Để dung hoà đợc vấn đề này cần thiết
phải có sự can thiệp của Nhà nớc để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Nh vậy, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ là hai mặt của một vấn
đề trong đó hiệu quả kinh tế là yếu tố có tính chất quyết định . Hiệu quả kinh
tế là chỉ tiêu chất lợng quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt đợc
về kinh tế và chi phí bỏ ra để thu đợc kết quả đó. Ta có thể khái quát công thức
nh sau:
Kết quả
Hiệu quả =
Chi phí
Trong đó:
- Kết quả thờng đợc đo lờng bằng các chỉ tiêu nh doanh thu, lợi nhuận
trong kỳ.
- Chi phí thờng đợc coi là số lợng vốn đầu t sử dụng để thu đợc kết quả
đó.
Với cách xác định này, ngời ta có thể đánh giá đợc chất lợng hoạt động
của doanh nghiệp đồng thời nó còn cho phép so sánh hiệu quả giữa các năm và
giữa các doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải có sự nhất
quán trong trong việc xác định các chỉ tiêu kinh tế đã nêu.
1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động trong doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, để thấy đợc khả năng quản lý và sử dụng vốn ngời
ta thờng xuyên tiến hành đánh giá thông qua một số chỉ tiêu. Bằng cách này,

vốn lu động cha thể là căn cứ đầy đủ để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu
động, ta cần nghiên cứu các chỉ tiêu tiếp theo.
1.2.2.2.Hệ số sinh lợi.
Hệ số sinh lợi thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận trong kỳ với vốn lu
động bình quân trong kỳ cuả doanh nghiệp. Hệ số sinh lợi của vốn lu động đợc
xác định qua công thức:
Hệ số Lợi tức thuần
sinh lợi =
vốn lu động Vốn lu động bình quân
Trong đó:
Lợi tức thuần đợc xác định theo công thức:
16
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Lợi tức Doanh Gía vốn Chi phí
= - -
thuần thu thuần hàng bán kinh doanh
Hệ số sinh lợi vốn lu động cho ta biết đợc một đồng vốn lu động doanh
nghiệp đầu t vào kinh doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, tức là khả
năng sinh lợi vốn lu động. Hệ số này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng
vốn lu động càng cao và ngợc lại.
Hệ số sinh lợi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lu động khá đầy đủ và
chính xác hơn hệ số phục vụ bởi hệ số phục vụ căn cứ theo doanh thu còn hệ
số sinh lợi căn cứ theo lợi nhuận, Trong khi đó, doanh thu chỉ nói lên quy mô
kinh doanh nhng không nói lên đợc thực chất về mặt kinh tế của kết quả đầu ra
từ hoạt động kinh doanh, còn lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng bao hàm cả việc
thực hiện doanh thu nhng có doanh thu cha chắc đã có lợi nhuận.
1.2.2.3.Hệ số bảo toàn vốn l u động.
Bảo toàn vốn có nghĩa là sau một khoảng thời gian hoạt động, vốn của
doanh nghiệp không bị thiếu hụt, mất mát. Thực chất là là đảm bảo cho số vốn
cuối kỳ của doanh nghiệp đủ để mua một một lợng hàng hoá tơng đơng với lúc

thanh toán =
nhanh Tổng số nợ ngắn hạn
Trong đó:
-Vốn bằng tiền là tổng số vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm: tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
-Gía trị các tài sản lu động có thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng là
giá trị của các tài sản thuộc khoản đầu t ngắn hạn và khoản phải thu. Tuy nhiên
trong trờng hợp nào đó thì khoản phải thu cũng phải mất một khoảng thời gian
nào đó mới thu đợc nên ngời ta có thể tính khoản đầu t ngắn hạn mà thôi.
Hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán nhanh của doanh
nghiệp, tức là khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp đối với những
khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán nhanh còn cho biết tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Nếu tình hình tài chính tốt tức là doanh nghiệp có thể đáp ứng đợc nhu
cầu thanh toán ngay đối vơí những khoản nợ ngắn hạn. Trờng hợp này tức là
hệ số sẽ lớn hơn hay bằng 1. ĐIều này cho phép doanh nghiệp chủ động về
vốn, nắm bắt đợc các cơ hội kinh doanh đảm bảo cho quá trình kinh doanh đợc
thuận lợi. Trờng hợp ngợc lại tức là hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính
của doanh nghiệp gặp khó khăn trong thanh toán, doanh nghiệp mất đi tính
chủ động trong kinh doanh và có thể mất đi những cơ hội kinh doanh. Và khi
hệ số này càng tiến dần đến 0 có nghiã là doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán và có nguy cơ phá sản. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá lớn thì cũng không
đợc tốt bởi khi hệ số này quá lớn cũng có nghĩa doanh nghiẹep đang giữ quá
nhiều tiền sẽ gây hiện tợng ứ đọng vốn và hiệu quả sử dụng đồng vốn sẽ không
cao.
1.2.2.5.Tốc độ l u chuyển vốn l u động.
Tốc độ lu chuyển vốn lu động là chỉ tiêu biểu hiện trình độ, khả năng sử
dụng vốn lu động của doanh nghiệp. Tốc độ lu chuyển vốn lu động đợc thể
hiện qua hai chỉ tiêu là: Số vòng chu chuyển vốn lu động và số ngày lu chuyển
vốn lu động.

phải thu,vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên nếu hệ số này
quá cao đồng nghĩa với phơng thức tín dụng trong thanh toán của doanh
nghiệp bị hạn chế, ảnh hởng không tốt tới quá trình tiêu thụ làm giảm doanh
thu.
Trên đây là một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu
động. Ngoài ra, ngời ta còn tuỳ theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và cũng
tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng một vàI chỉ tiêu khác nữa.
1.2.3.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động.
19
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề cấp bách đặt ra đối với các
doanh nghiệp vì các lý do sau:
Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trờng các doanh nghiệp Nhà nớc
( thành phần chủ đạo trong thời bao cấp) không đợc cấp vốn nh trớc. Nhà nớc
giao vốn cho các doanh nghiệp và các doanh nghiệp đợc giao quyền tự chủ về
tài chính đồng thời phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn. Trong khi
đó, quá trình kinh doanh lại diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có nghệ thuật sử dụng vốn và điều hoà đợc việc sử dụng vốn ở
từng giai đoạn và phải có biện pháp bảo toàn đợc vốn và sử dụng một cách có
hiệu quả.
Có vốn để kinh doanh nhng chính kinh doanh đòi hỏi phải có nguồn bù
đắp. Nếu nh trớc kia doanh nghiệp Nhà nớc trông chờ vào ngân sách Nhà nớc
thì nay họ phải tìm kiếm những nguồn khác để bù đắp để kinh doanh đợc liên
tục.
Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế thị trờng cho phép mọi thành phần
kinh tế tham gia. ĐIều này tạo ra môi trờng thuận lợi cho việc tạo lập vốn phát
huy đầy đủ tính chủ động sáng tạo trong việc tổ chức quản lý vốn dẫn đến việc
các thành phần kinh tế cạnh tranh lẫn nhau. Vấn đề đặt ra với các doanh
nghiệp là phải có biện pháp thu hút vốn, lựa chọn nguồn vốn và mức huy động
từng nguồn vốn trên cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả thì rút ngắn đợc thời

chất với ngời lao động nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc,
lòng nhiệt tình, tính sáng tạo, điều này cũng hết sức quan trọng trong việc góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Các nhân tố trên đây là những nhân tố mang tính chủ quan, doanh
nghiệp có thể tự khắc phục đợc nhng đối với những nhân tố khách quan sau
đây doanh nghiệp không thể mình giải quyết đợc mà chỉ có thể lu ý để tránh đ-
ợc chúng hay giảm bớt phần nào.
-Chính sách của Nhà nớc:
Nhà nớc có chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính
sách, pháp luật. Chính sách của Nhà nớc cũng có ảnh hởng tới công việc kinh
doanh của doanh nghiệp hay nói khác đi là nó có tác động đến hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Chính sách quản lý thị trờng hợp lý sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh và các doanh nghiệp sẽ có
điều kiện tốt hơn trong kinh doanh. Chẳng hạn, chính sách lãi suất vay của
Ngân hàng Nhà nớc sẽ khuyến khích hoặc hạn chế doanh nghiệp vay vốn để
kinh doanh. Ngoài ra, chính sách thuế cũng một mặt là nâng cao trách nhiệm
của doanh nghiệp đối với Nhà nớc, mặt khác nó cũng tạo môi trờng kinh doanh
bình đẳng không phân biệt thành phần kinh tế.
-Yếu tố về sản xuất và tiêu dùng:
Chu kỳ sản xuất kinh doanh, tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng cũng
có ảnh hởng tới tốc độ chu chuyển vốn lu động. Những hàng hoá có chu kỳ
sản xuất dài sẽ làm giảm tốc độ chu chuyển hàng hoá. Ví dụ nh loại hàng sản
xuất quanh năm nhng tiêu dùng chỉ có tính thời vụ hay những loại hàng sản
xuất có tính thời vụ nhng tiêu dùng quanh năm. Để đảm bảo cho việc bán hàng
đều đặn thì việc dự trữ phải tăng cả về quy mô và thời gian làm tốc độ chu
chuyển vốn lu động chậm lại. Ngoài ra, sự phân bố giữa nơi bán hàng và nới
tiêu thụ cũng ảnh hởng tới tốc độ chu chuyển. Nếu phân bổ này tạo điều kiện
rút ngắn thời gian lu thông hàng hoá, tăng hiệu quả sử dụng vốn.
-Sức mua hàng hoá:
Sức mua hàng hoá trên thị trờng ảnh hởng lớn tới hiệu quả sử dụng vốn

đợc thành lập theo quyết định số 606 QĐ/TCCĐ - LĐ ngày 5/4/1993 của Bộ
giao thông vận tải. Khi mới bắt đầu thành lập, công ty có nhiệm vụ sản xuất tà
vẹt bê tông cho ngành và kinh doanh vật liệu xây dựng.
Năm 1994, đợc sự quan tâm của nhà nớc cũng nh của Liên hiệp Đờng
Sắt Việt Nam nay là Tổng Công ty Đờng sắt Việt Nam, Công ty đợc bổ sung
thêm nhiệm vụ: xây dựng các công trình giao thông, công trình dân dụng quy
mô vừa và nhỏ.
Đến năm 2006 công ty đẫ chuyển đổi cổ phần hóa theo quyết định số
596 của Bộ giao thông vận tải ngày 10/2/2006 đổi tên thành công ty cổ phần
đầu t công trình Hà nội.
22
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Sắc- TCB K38
Đến nay, ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất các cấu
kiện bê tông, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, xây dựng và cải tạo,
nâng cấp các công trình giao thông, công trình dân dụng quy mô vừa và nhỏ.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, do sự phát triển không ngừng của
hoạt động xây dựng và lắp đặt, để nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân
viên Công ty, ngoài việc sản xuất một số ít các sản phẩm tà vẹt bê tông cốt thép
phục vụ cho ngành, ban lãnh đạo công ty quyết định chuyển hớng hoạt động,
tham gia vào thị trờng xây dựng sôi động, đem lại hớng làm ăn mới có lợi
nhuận cao cho Công ty. Suốt hơn 10 năm qua cùng với công cuộc đổi mới
mạnh mẽ, liên tục và toàn diện với những thành tựu to lớn của ngành Đờng sắt,
Công ty cổ phần đầu t công trình Hà Nội cũng đã vợt lên từ một đơn vị yếu
kém trở thành một đơn vị vững mạnh không ngừng trởng thành về mọi mặt.
Công trình do đơn vị thi công trải dài từ Bắc vào Nam, cả trong ngành và ngoài
ngành , ở công trình nào đơn vị cũng đẩm bảo năng xuất chất lợng, tiến độ
hiệu quả đợc các chủ đầu t đánh giá cao . Điều đoa khẳng định việc chuyển đổi
sang mô hình cổ phần hóa ở đây là hoàn toàn đúng đắn. Bí quyết thành công ở
công ty là luôn phát huy tính chủ động đi trớc đón đầu xu thế phát triển, chủ
động huy động các nguồn vốn, duy trì hệ thống quản lý chất lợng ISO nhanh

Phả lại - Hạ long Cái lân.
Thực hiện mục tiêu đổi mới an toàn và phát triển bền vững công ty thực
hiện đa dạng hóa ngành nghề nâng cao chất lợng sản phẩm đẩy nhanh tiến độ
hạ giá thành sản phẩm , áp dụng hệ thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn
ISO 9001 2000.
Do nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng, không ngừng đào tạo đội ngũ cán bộ
công nhân viên, đầu t máy móc thiết bị , Công ty không những luôn hoàn
thành nhiệm vụ nhà nớc giao mà còn mở rộng thị trờng hoạt động, tạo niềm tin
cho các bạn hàng, nâng cao đời sống công nhân viên, góp phần không nhỏ
trong sự phát triển chung của ngành, của đất nớc.
Công ty cổ phần đầu t công trình Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nớc
có t cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập có tài khoản tại Ngân
hàng, có con dấu riêng. Trụ sở Công ty đóng tại Thịnh Liệt - Hoàng Mai - Hà
Nội.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
- Chức năng:
Công ty sản xuất kinh doanh mặt hàng vật liệu xây dựng, tổng nhận
thầu và nhận thầu thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và
công trình giao thông theo chơng trình dự án thầu xây dựng và theo hợp đồng
kinh tế nhằm phục vụ có hiệu quả các công trình thi công theo đúng kỹ thuật
và đúng thời gian tiến độ của các công trình:
Thi công trực tiêp các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông ,
cho thuê máy móc , nhà xởng, bến bãi phục vụ xây dựng.
Lập các dự án đầu t xây dựng
Tổ chức sản xuất, gia công hoặc liên doanh liên kết với các đơn vị kinh
tế trong và ngoài nớc để sản xuất các sản phẩm về xây dựng.
Thực hiện hạch toán kinh tế để đảm bảo tạo ra lợi nhuận.
- Nhiệm vụ:
Ký hợp đồng nhận thầu thi công thiết kế với chủ đầu t khi đấu thầu các
công trình

cuộc họp triệu tập và chủ tọa cuộc họp . Tổ chức việc thông qua quyết định của
hội đồng quản trị. Theo dõi quá trình thực hiện các quyết định của hội đồng
quản trị .Thực hiện các quyền và nhiệm vụ đợc giao. Kiến nghị các biện pháp
khắc phục khó khăn về tài chính của công ty.
Ban kiểm soát công ty gồm 3 ngời trong đó có 1 trởng ban có chuyên
môn về tài chính kế toán có quyền và nhiệm vụ sau triệu tập cuộc họp ban
kiểm soát. Yêu cầu công ty cung cấp các thông tin liên quan để báo cáo. Lập
và ký báo cáo của Ban kiểm soát sau khi đã tham gia ý kiến của hội đồng quản
trị để trình lên đại hội cổ đông.
Công ty cổ phần đầu t công trình Hà Nội tổ chức quản lý theo một cấp,
đứng đầu là Ban Giám đốc, trực tiếp chỉ đạo đến từng phòng ban và đội sản
xuất.
Ban Giám đốc gồm một giám đốc và 2 phó giám đốc.
Giám Đốc: Là ngời chịu trách nhiệm trớc nhà nớc về quản lý, sử dụng
có hiệu quả toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh và đại diện cho tập thể cán bộ
công nhân viên trong việc sở hữu vốn tự có của doanh nghiệp trong hoạt động
sản xuất kinh doanh.
25

Trích đoạn Sử dụng chính sách tín dụng thơng mại linh hoạt Với hàng hoá dự trữ, công cụ dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu. Với vốn bằng tiền.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status