VỊ TRÍ,TÍNH CHẤT, VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN - Pdf 27

Bài Tập Lớn Học Kì
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Sáu mươi năm qua, với 11 khóa, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả
nước, Quốc hội nước ta đã xây dựng và thông qua 4 bản Hiến pháp.Tất cả các bản
Hiến pháp đều là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của
đồng bào cả nước, quyết tâm tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong
từng thời kỳ. Các Hiến pháp không phủ định nhau mà kế thừa và phát triển Hiến pháp
trước, với nội dung thể hiện sâu sắc ý chí và nguyện vọng của nhân dân, vừa thấm
đượm những giá trị vốn có của dân tộc ta, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của
nhân loại. Trên cơ sở các Hiến pháp, Quốc hội các khóa đã lần lượt được nhân dân bầu
ra, với tổ chức và hoạt động không ngừng được đổi mới, hiệu lực và hiệu quả hoạt
động ngày càng nâng cao, được nhân dân quan tâm, đồng tình, ủng hộ .Qua đó thể hiện
tính đại diện cho nhân dân cả nước của Quốc Hội.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.VỊ TRÍ,TÍNH CHẤT, VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC THỜI KÌ PHÁT
TRIỂN.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, Quốc hội đã trải qua gần XI
khóa hoạt động và có thể chia thành bốn thời kì căn cứ vào bốn bản Hiến pháp mà
Quốc hội đã ban hành như sau:
1.Thời kì 1946-1960
Quốc hội khóa I (1946-1960) với 12 kỳ họp đã có những đóng góp to lớn vào việc
xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa từ những năm tháng đầu tiên sau khi cách mạng
tháng tám thành công, Quốc hội đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công
sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Quốc hội đã thông qua các kế hoạch khôi phục, cải
tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng bộ máy nhà nước, thông qua bản Hiến pháp
1946 và Hiến pháp 1959. Đánh giá về công lao to lớn của Quốc hội khóa I, tại kì họp
thứ 12, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân,vì nước, đã
làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân”.
Nội dung bản Hiến pháp 1946 đã tuyên bố tất cả quyền lực trong nước đều thuộc về
nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực bằng cách bầu ra cơ quan đại diện quyền lực.
Do đó, ngay từ Hiến pháp năm 1946, nhân dân ta đã thực hiện quyền làm chủ đất nước

lực nhà nước cao nhất của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
II.QUỐC HỘI LÀ CƠ QUAN ĐẠI BIỂU CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN.
Theo điều 83, Hiến pháp 1992, Quốc Hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân,
là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước ta.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất
đã khẳng định Nhà Nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa việt nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Đồng
thời Hiến Pháp cũng xác định trách nhiệm của nhà nước là bảo đảm và không ngừng
phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, mọi người đều có cuộc sống ấm no,
hạnh phúc. Xuất phát từ bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Luật Hiến pháp-Lớp N05-TL4 Page 2
Bài Tập Lớn Học Kì
Hiến pháp đã chỉ ra cách thức nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước. Điều 6 Hiến
Pháp 1992 quy định:” Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội và
Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Như vậy, có thể khẳng định
rằng, theo Hiến Pháp thì nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội và Hội đồng
nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, nhưng
Quốc hộ là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.
1.Quốc Hội do toàn dân bầu ra.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan duy nhất do toàn dân trực tiếp bầu ra dựa trên nguyên
tắc đã được Hiến pháp quy định đó là phổ thông, đầu phiếu, bình đẳng, và bỏ phiếu
kín. Thông qua bầu cử, cử tri cả nước lựa chọn những đại biểu đại diện cho tiếng nói
và nguyện vọng của mình để hình thành lên Quốc hội. Việc người dân tham gia bầu cử
đại biểu Quốc hội thể hiện tính dân chủ trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ
máy Nhà nước. Các đại biểu Quốc hội do cử tri trực tiếp bầu ra với nhiệm kì 5 năm. Hệ

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam và được giao ba chức năng quan trọng đó là: Lập hiến và lập pháp; quyết định
những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, nhiệm vụ
kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những chính sách đối nội và đối
ngoại ; quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước ( bao gồm tất
cả các hoạt động của Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp). Ba chức năng này đã được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể tại
điều 84 Hiến Pháp 1992. Với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc
hội có trách nhiệm cao cả là thay mặt nhân dân không chỉ thực hiện đúng và đầy đủ
những nhiệm vụ và quyền hạn được giao, mà còn phải một lòng, một dạ phục vụ nhân
dân, vì lợi ích của nhân dân. Để làm được điều đó thì đại biểu Quốc hội phải lắng nghe
ý kiến của nhân dân, liên hệ chặt chẽ với cử tri. Thu thập và phản ánh trung thực ý
kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan. Xem
xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn giúp
đỡ công dân thực hiện các quyền đó. Các đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích
của nhân dân để quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ , quyền hạn của Quốc hội. Để
góp phần bảo đảm cho Quốc hội, các đại biểu Quốc hội thực hiện tốt thuộc tính đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị
bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Điều 4 Luật tổ chức Quốc hội quy
định, Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Ngoài ra, để có
thể thực hiện tốt các nhiệm vụ , quyền hạn được giao, điều 98 Hiến Pháp 1992 quy
định cho đại biểu quốc hội có các quyền như sau.
- Trình kiến nghị về luật và các dự án luật ra trước Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn phải trả
lời trước Quốc hội tại kì họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết
định cho trả lời trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội
hoặc tra lời bằng văn bản.
Luật Hiến pháp-Lớp N05-TL4 Page 4

Với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội chịu sự giám sát và
chịu trách nhiệm trước nhân dân( người được đại diện) về việc thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.Điều đó đã được thực hiện trong Hiến Pháp cụ thể là đại biểu
Quốc hội chịu sự giám sát của nhân dân; chịu sự giám sát của cử tri; thực hiện chế độ
tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những
yêu cầu kiến nghị của cử tri . Ngoài ra, để tạo điều kiện cho nhân dân có thể giám sát
được hoạt động của Quốc hội, điều 66 Luật tổ chức Quốc hội quy định Quốc hội họp
công khai. Trong trường hợp cần thiết , đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ
Quốc hội, thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội
Luật Hiến pháp-Lớp N05-TL4 Page 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status