Công tác kế toán tiêu thụ hàng hóa, và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN!
MỤC LỤC
KẾT LUẬN...............................................................................................................102
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HÀNG
HÓA,TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH
DOANH
1.1.SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HÀNG
HÓA, TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ XĐ KQKD TRONG DOANH
NGHIỆP
1.1.1.Khái niệm hàng hóa, tiêu thụ hàng hóa.
- Khái niệm hàng hóa :
Hàng hóa là các vật phẩm mà doanh nghiệp mua về để bán phục vụ
cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội .
- Khái niệm tiêu thụ hàng hóa :
Tiêu thụ hàng hóa (hay bán hàng) là giai đoạn cuối cùng của giai đoạn
tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp, là quá trình thực hiện mặt giá trị của hàng
hóa. Tiêu thụ là việc chuyển sở hữu về hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ cho
khách hàng, doanh nghiệp thu đựơc tiền hay được quyền thu tiền. Đó cũng
chính là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn hàng hóa sang vốn
bằng tiền và hình thành kết quả. Quá trình tiêu thụ hàng hóa được coi là hoàn
thành khi có đủ hai điều kiện sau:
- Gửi hàng cho người mua
- Người mua đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Ngoài quá trình tiêu thụ hàng hóa ra bên ngoài doanh nghiệp còn có thể
phát sinh nghiệp vụ tiêu thụ nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu phân cấp quản
lý và tiêu dùng nội bộ.
Như vậy, tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động
kinh doanh, thực hiện sự chuyển hoá từ hàng sang tiền, là khâu quan trọng
nhất của một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

bắt được mức độ hoàn chỉnh về kế toán bán hàng cung cấp giúp cho doanh
nghiệp nắm bắt được mức độ hoàn chỉnh về kế toán bán hàng từ đó tìm ra
những thiếu sót mất cân đối giữa khâu mua - khâu dự trữ và khâu bán để xó
biện pháp khắc phục kịp thời. Ngoài ra, thông qua số liệu mà kế toán bán
hàng cung cấp, các bạn hàng của doanh nghiệp biết được khả năng mua - dự
trữ - bán các mặt hàng của doanh nghiệp trên thị trường để từ đó có quyết
định đầu tư, cho vay vốn hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp. Vì vậy
khi doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ của mình sẽ là động lực cho
doanh nghiệp khác phát triển và hoạt động bình thường.
Trong công tác quản lý hàng hoá và xác định kết quả bán hàng của
doanh nghiệp, kế toán có vai trò vô cùng quan trọng. Kế toán phản ánh giám
đốc, tình hình biến động của quá trình bán hàng, xác định chính xác, đúng đắn
và kịp thời các khoản doanh thu và thu nhập mà doanh nghiệp đã thu được
trong kỳ. Cung cấp nhiều thông tin, số liệu có giá trị phục vụ cho quản lý kinh
tế của bản thân doanh nghiệp cũng như công tác quản lý của các cơ quan
chức năng của Nhà Nước. Thông qua các thông tin này, các nhà quản lý nắm
vững tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, biết được hiệu quả sản
xuất kinh doanh, từ đó lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu, mang lại hiệu
quả cao nhất.
Đối với doanh nghiệp, quá trình tiêu thụ sẽ thu hồi vốn, trang trải chi phí
sản xuất kinh doanh, bổ sung nguồn vốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá
dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Nếu quá trình này diễn ra càng nhanh
thì càng làm tốc độ quay của vốn nhanh tiết kiệm được các nguồn vốn của
doanh nghiệp. Quá trình này quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế quốc dân, việc tiêu thụ thành phẩm đảm bảo cân đối
sản xuất và tiêu dùng, cân đối tiền hàng trong lưu thông cũng như cân đối
giữa các ngành, khu vực kinh tế. Đồng thời với việc tiêu thụ sản phẩm, xác
định đúng kết quả là cơ sở để đánh giá hiệu quả cuối cùng của quá trình sản
xuất kinh doanh trong một thời kì nhất định của doanh nghiệp và xác định
phần nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp phải thực hiện đối với Nhà nước.

hàng hóa và xác định kết quả kinh doanh.
1.2.TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HÀNG HÓA
- Nội dung và kết cấu TK156
Để phản ánh giá trị hiện có , tình hình biến động của các loại hàng hóa
nhập , xuất kho ,kế toán sử dụng tài khoản 156 “Hàng hóa ”.
Tk 156 phản ánh số hiện có và sự biến động vủa hàng hóa theo giá mua
thực tế .
Bên nợ :
+Trị giá vốn của hàng hóa nhập kho .
+trị giá vốn của hàng hóa thừa khi kiểm kê.
+Trị giá thực tế cuẩ hàng hóa bất động sản hàng hóa mua về để bán .
+Giá trị còn lại của bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho .
+Chi phí sửa chữa , cảI tạo nâng cấp triển khai cho mục đích bán ghi
tăng giá hàng hóa bất đọng sản chờ bán.
+trị giá thực tế bất động sản thừa phát hiện kho kiểm kê.
+Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa tồn kho cuối kỳ(theo
phương pháp kiểm kê định kỳ).
Bên có :
+Trị giá vốn thực tế cưa hàng hóa xuất kho.
+Trị giá vốn thực tế của hàng hóa thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê.
+Trị giá thực tế của hàng hóa bất động sản bán trong kỳ, hoặc chuyển
thành bất động sản đầu tư.
+Trị giá thực tế hàng hóa bất động sản thiếu phát hiện khi kiểm kê.
+Kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa tồn kho đầu kỳ (theo
phương pháp kiểm kê định kỳ).
Dư nợ:Trị giá vốn thực tế của hàng hóa còn lại cuối kỳ.
- Tài khoản sử dụng :TK 156- Hàng hóa
TK 156 có 3 tài khoản cấp 2 :
TK 1561 - Trị giá mua hàng hóa.
TK 1562 - Chi phí mua hàng hóa .

kho kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chứng từ đó sau đó tiến hành nhập xuất
kho và căn cứ vào phiếu nhập xuất kho ghi vào thẻ kho tương ứng, mỗi chứng
Thẻ kho
Sổ số dư
Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Bảng lũy kế
Bảng kê tổng hợp
nhập xuất, tồn
Chứng từ xuất
Bảng kê xuất
Bảng lũy kế
Sổ kế toán tổng
hợp
từ ghi vào một dòng theo chỉ tiêu số lượng. Sau mỗi nghiệp vụ thủ kho phải
tính ra số lượng tồn kho, cuối tháng tính ra số tồn kho để ghi vào sổ số dư ở
cột số lượng. Sổ số dư được kế toán mở theo từng kho chung cho cả năm để
ghi chép sự biến động hàng hóa cả số lượng và giá trị vào cuối tháng. Khi
nhận sổ số dư thủ kho gửi lên kế toán căn cứ vào số tồn cuối tháng và đơn giá
của từng hàng hóa để tính ra giá tồn kho và ghi vào cột thành tiền trên sổ số
dư ở phòng kế toán cuối tháng ghi nhận số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn
cứ vào số tồn cuối tháng do thủ kho tính trên sổ số dư và đơn giá thực tế tính
ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền trên sổ số dư và bảng kê tổng hợp
nhập xuất tồn và sổ kế toán tổng hợp.
* Phương pháp ghi thẻ song song
- Ở kho : thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập xuất tồn
kho từng hàng hóa theo từng kho và chỉ ghi chỉ tiêu số lượng. Hàng ngày khi
có nghiệp vụ xuất kho hàng hóa, thủ kho kiểm tra tính hợp pháp của từng
chứng từ nhập xuất rồi tiến hành nhập xuất sau đó ghi vào thẻ kho. Mỗi
nghiệp vụ ghi vào một dòng theo chỉ tiêu số lượng. Khi phản ánh xong ghi

-Kế toán tổng hợp hàng hoá :
Hàng hoá là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh
nghiệp.Việc mở tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán hàng tồn kho, xác
định giá trị hàng hoá xuất kho,tồn kho tuỳ thuộc vào doanh nghiệp áp dụng
phương pháp kế toán tổng hợp hàng hoá theo phương pháp kê khai thường
xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ.
Thẻ kho
Phiếu nhập
Bảng kê nhập
Phiếu xuất
Bảng kê xuất
nhập
Sổ đối chiếu luân
chuyển
Sổ kế toán tổng
hợp
- Phương phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp phản ánh
ghi chép thường xuyên liên tục các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp. Phương
pháp này đảm bảo tính chính xác tình hình biến động của hàng hoá.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp kế toán không phải theo
dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập xuất, tồn kho trên các tài khoản hàng
tồn kho, mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Cuối tháng kế toán tiến hành kiểm kê và xác định số thực tế của hàng hoá để
ghi vào tài khoản hàng tồn kho.
Hai phương pháp tổng hợp hàng hoá nêu trên đều có những ưu điểm và
hạn chế, cho nên tuỳ vào đặc điểm SXKD của doanh nghiệp mà kế toán lựa
chọn một trong hai phương pháp để đảm bảo việc theo dõi, ghi chép trên sổ
kế toán.
1.3.TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA
(DOANH THU BÁN HÀNG )

hoặc bán với khối lượng lớn, giá biến động tuỳ thuộc vào khối lượng hàng
hoá và phương thức thanh toán.
Đối với phương thức này có các trường hợp cụ thể sau:
- Bán buôn qua kho: là hàng hoá được xuất từ kho của doanh nghiệp thương
mại để bán cho người mua (doanh nghiệp mua). Trong phương thức này lại
phân biệt hai hình thức:
+ Bán buôn trực tiếp qua kho: Theo hình thức này doanh nghiệp xuất
hàng từ kho giao trực tiếp cho người mua. Doanh nghiệp bán phát hành
chứng từ, hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng và các chứng từ xuất kho.
+ Bán buôn qua kho không theo hình thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp
đồng kinh tế đã ký kết, doanh nghiệp bán làm thủ tục xuất kho hàng hoá
chuyển đi cho người mua. Trong trường hợp này hàng hoá gửi bán vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi nào bên mua xác định đã nhận hàng
hoặc chấp nhận thanh toán thì mới chuyển quyền sở hữu và lúc này thì hàng
hoá mới được xác định là tiêu thụ. Doanh nghiệp bán sẽ phát hành chứng từ:
Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng và phiếu xuất kho kiêm hoá đơn vận
chuyển.
- Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng: Theo phương thức này doanh gnhiệp
bán mua hàng của bên cung cấp để bán thẳng cho người mua không qua kho
của doanh nghiệp. Trong phương thức này phân biệt hai trường hợp cụ thể:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp ( tay ba): Theo hình thức này
doanh nghiệp mua hàng của bên cung cấp để giao bán thẳng cho người mua
do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp tại địa điểm hai bên thoả
thuận. Doanh gnhiệp bán hàng lập hoá đơn GTGT.
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức vận chuyển hàng: Doanh
nghiệp thương mại mua hàng của bên cung cấp và vận chuyển hàng đến cho
người mua không có phiếu xuất kho. Doanh nghiệp thương mại lập hoá đơn
GTGT...
* Phương thức bán lẻ hàng hoá :
Phương thức bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho

HH
xuất dùng
*
Giá đơn vị
bình quân của
HH
Trong đó đơn giá bình quân được tính theo các cách sau:
+ Bình quân cả kỳ dự trữ: Phương pháp này thường được sử dụng nhiều
hơn cả do phương pháp này tính đơn giản, chính xác nhưng không linh hoạt
vì mọi công việc kế toán dồn vào cuối kỳ. Thành phẩm xuất kho trong kỳ
chưa được ghi sổ ngay mà chờ đến cuối kỳ, sau khi tính giá xong mới ghi sổ
kế toán. Công thức:
Giá đơn vị bình quân
cả kỳ dự trữ
=
+ Bình quân sau mỗi lần nhập (bình quân liên hoàn): Về bản chất thì
tương tự phương pháp trên nhưng đơn giá bình quân được xác định trên cơ sở
giá thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ và từng lần nhập trong kỳ. Sau mỗi lần
nhập kho thành phẩm, kế toán phải tính lại giá đơn vị bình quân làm căn cứ
xác định giá thực tế thành phẩm xuất kho trong kỳ. Ưu điểm của phương pháp
này là sau mỗi lần nhập, kế toán xác định được ngay giá bình quân, song công
việc kế toán lại vất vả vì phải tính toán lại nhiều lần.
+ Bình quân cuối kỳ trước: Giá thực tế thành phẩm xuất kho được tính
trên cơ sở lượng thành phẩm xuất kho và giá thực tế bình quân của một đơn vị
thành phẩm cuối kỳ trước.
Giá đơn vị bình quân
cuối kỳ trước
=
Theo phương pháp này giá thực tế của thành phẩm xuất kho có thể được
xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ, tuy nhiên nếu giữa 2 kỳ giá cả có sự

Trị giá vốn hàng
đã bán
=
Trị giá vốn của hàng đã
xuất bán
+
CPBH, CPQLDN của
số hàng đã bán
* Phương pháp nhập trước, xuất trước: theo phương pháp này, giả thiết rằng
số hàng nào nhập kho trước thì xuất kho trước và lấy trị giá mua thực tế của
số hàng đó là trị giá hàng xuất kho.
+ Ưu điểm: cung cấp thông tin kịp thời, tính ngay được trị giá sau mỗi
lần xuất.
+ Nhược điểm: khối lượng tính toán nhiều và mức độ chính xác không
cao.
Điều kiện áp dụng: phương pháp này phù hợp với doanh nghiệp có tổ
chức kế toán chi tiết theo dõi chặt chẽ, đầy đủ cả về số lượng, đơn giá của
hàng nhập kho.
*Phương pháp nhập sau, xuất trước.
Bản chất của phương pháp này cũng như phương pháp nhập trước, xuất
trước nhưng làm ngược lại. Giả định rằng hàng nào nhập sau cũng sẽ được
xuất trước tiên và đơn giá là đơn giá của lần nhập tương ứng.
+ưu điểm: trị giá vốn thực tế của hàng xuất luôn phản ánh giá thị
trường tạo thời điểm xuất, đảm bảo được nguyên tắc thận trọng của kế toán.
+Nhược điểm: khối lượng tính toán nhiều.
Điều kiện áp dụng: doanh nghiệp phải theo dõi được đơn giá của từng
lần nhập, phù hợp với trường hợp có lạm phát.
* Phương pháp thực tế đích danh.
Giá thực tế của hàng hóa xuất kho theo phương pháp này được căn cứ
vào giá hàng hóa nhập kho theo từng lô hàng. Khi xuất kho thuộc lô hàng nào

đầu kỳ
+
Trị giá mua của
hàng nhập trong
kỳ
+ Bước 3: Tính trị giá vốn thực tế của hàng xuất bán trong kỳ
Trị giá vốn thực tế
của hàng xuất bán
trong kỳ
=
Trị giá mua của
hàng xuất bán
trong kỳ
+
CP mua phân bổ cho hàng
xuất bán trong kỳ
1.3.3. Tài khoản sử dụng.
TK156: “Hàng hóa”: dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến
động của các loại hàng hóa của doanh nghiệp.
TK157: “Hàng gửi đi bán”: dùng để phản ánh giá trị hàng hóa của doanh
nghiệp đã gửi hoặc chuyển cho khách hàng, gửi đại lý, ký gửi giá trị của lao
vụ dịch vụ đã hoàn thành, bàn giao cho người đặt hàng nhưng chưa được chấp
nhận thanh toán. Hàng hóa phản ánh trên tài khoản này vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp.
TK632: “Giá vốn hàng bán”: dùng để phản ánh trị giá vốn của hàng hóa .
*Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê
khai thường xuyên.
Theo phương pháp này, việc nhập, xuất tồn kho hàng hoá được ghi chép,
phản ánh thường xuyên, liên tục trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp
qua các chứng từ nhập xuất.

Giá vốn hàng bán bị trả
lại nhập kho
Cuối kỳ k/c giá vốn hàng
bán
bán trực tiếp
xác định tiêu thụ
TK 157
TK 1331
Giá vốn thực tế của
hàng hóa xuất đi bán
thẳng
TK 156
TK632
6
TK 156
Xuất kho hàng
TK156 TK632 TK156

Đkỳ, kc trị giá vốn của Ckỳ, kc trị giá vốn của
hàng hoá tồn đâug kỳ hàng hoá tồn kho ckỳ
TK157 TK157
Kc trị giá vốn hàng hoá Kc trị giá vốn hàng hoá
đã gửi bán đầu kỳ đã gửi bán cuối kỳ

TK611 TK911
Kc trị giá vốn của hàng Ckỳ, kc giá vốn hàng bán
xb được xđ là tiêu thụ của hàng hoá
Sơ đồ :Trình tự hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ
1.3.4. Kế toán doanh thu bán hàng
- Nội dung doanh thu bán hàng

ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ hoạt
động kinh doanh. Doanh thu thực tế là doanh thu của hàng hóa ...đã được xác
định là tiêu thụ bao gồm trường hợp bán thu được tiền ngay và chưa thu tiền
nhưng khách hàng đã chấp nhận thanh toán. TK511 được chi tiết theo yêu cầu
quản lý.
Bên nợ:
+Thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu phải nộp tính trên doanh thu
bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ ;
+Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán
bị trả lại , chiết khấu thương mại kết chuyển trừ vào doanh thu;
+Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần sang TK 911 để xác định kết quả
kinh doanh.
Bên có:
Tổng số doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ (kể cả doanh thu
bất động sản đầu tư )cung cấp dịch vụ thực tế của doanh nghiệp trong kỳ .
TK 511- không có số dư cuối kỳ .
TK 511 có 5 Tài khoản cấp 2 :
+ TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá
Được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa ,vật
tư.
+ TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm
Được sử dụng ở các doanh nghiệp sản xuất vật chất như : công nghiệp ,
nông nghiệp , xây lắp ,ngư nghiệp ,lâm nghiệp…
Nội dung của tài khoản phản ánh tổng hợp doanh thu của khối lượng sản
phẩm đã được coi là tiêu thụ của doanh nghiệp sane xuất trong một kỳ hạch
toán.
+ TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ
Được sử dụng trong các ngành kinh doanh dịch vụ như : giao thông vận
tải ,bưu điện ,du lịch ,dịch vụ công cộng ,dịch vụ khoa học kỹ thuật.
+ TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status