Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
1
Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành chuyên đề nghiên cứu khoa học của sinh
viên chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy giáo,
cô giáo các phòng ban trong khoa chế biến lâm sản trờng Đại học
Lâm Nghiệp, những ngời đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt
thời gian qua.
Đặc biệt chúng tôi xin chân thành cảm ơn T.s Trần Văn Chứ,
ngời đã tận tình trực tiếp hớng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài này.
Chúng tôi xin cảm ơn các cán bộ công nhân viên thuộc Trung
tâm Công nghiệp rừng trờng Đại học Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện
về máy móc thiết bị trong thời gian thực hiện đề tài này!.
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
đặt vấn đề
Hiện nay ở nớc ta, công nghiệp sản xuất đồ mộc ngày càng phát triển. Tuy
nhiên, nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp này ngày càng khan
hiếm. Đặc biệt là nguyên liệu dùng cho các loại hình sản phẩm mộc nh: Ván sàn,
khung cửa, cánh cửa, các chi tiết cho đồ mộc mỹ nghệ Đối với các chi tiết mộc đó,
yêu cầu của nguyên liệu là rất khắt khe, đó là; khả năng trơng nở, co rút phải rất
thấp, khả năng chống chịu môi trờng cao, khả năng chống cháy tốt, có độ bền cơ
học cao, màu sắc phải đẹp, không độc hại hoặc phải nằm trong giới hạn cho phép,
Bên cạnh đó, nh chúng ta đã biết ở nớc ta hiện nay đang và sẽ trồng rất nhiều
các loại cây gỗ mọc nhanh rừng trồng, trong đó có cây gỗ Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) -một trong các loài cây của chơng trình 5 triệu ha rừng.
Vì vậy nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp nói chung và ngành Chế biến lâm sản
nói riêng là phải nghiên cứu tìm loại nguyên liệu mới hoặc phải nghiên cứu công
nghệ mới để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất đồ mộc - một ngành
thoả mãn nhu cầu thị hiếu và mang lại lợi nhuận cho quốc gia.
Theo hớng tìm kiếm nguồn nguyên liệu, chúng ta đã có một số công trình
Chơng I
Những vấn đề chung
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
1.1.1. Trên thế giới:
Những năm 1930, ở Liên Xô một số nhà khoa học đã nghiên cứu ép gỗ tạo ra
thoi dệt và tay đập của máy dệt. Sau đó, các nhà khoa học đã sử dụng phơng pháp
này để tạo ra những chi tiết chịu mài mòn, chịu bôi trơn, sử dụng trong ô tô, máy
nông nghiệp. Gỗ nén theo phơng pháp ép này tạo ra vật liệu không ổn định hình
dạng. Để khắc phục, các nhà khoa học đã nghiên cứu đa vào trong gỗ các hoá chất
dới dạng monome hoặc polyme. Năm 1936, một số nhà khoa học của Liên Xô đã đa
vào trong gỗ dung dịch Bakelit 5 -10%. Vào năm 1966, G.B.Klard dùng dung dịch
Phuphurol Spirt tẩm vào gỗ tạo ra vật liệu có tính cơ học cao[14].
Biến tính gỗ là quá trình tác động hoá học, cơ học, nhiệt học, hoặc đồng thời
làm thay đổi lại cấu trúc của gỗ mà chủ yếu là tác động vào các nhóm hydroxil. Quá
trình này làm cho các tính chất của gỗ thay đổi.
Các công nghệ khác nhau của biến tính gỗ đã đợc nghiên cứu và ứng dụng vào
sản xuất từ lâu. Nhng do giá thành gỗ biến tính và đòi hỏi của môi trờng nên chỉ gần
đây nó mới đợc áp dụng. Công nghệ biến tính gỗ (không độc hại) đang là một xu thế
đòi hỏi cần đợc nghiên cứu và áp dụng.
Biến tính vật liệu gỗ có thể theo các hớng sau:
- Cải thiện các tính chất của gỗ mọc nhanh rừng trồng để cho nó ít biến dạng
và bền với môi trờng. Phơng pháp có thể là nhiệt, hoá, cơ và enzim
- Xử lý ván mỏng để tạo ra ván dán hoặc LVL có chất lợng tốt.
- Xử lý dăm gỗ để tạo ván dăm, ván OSB (Oriented Strand Board), MDF và
HDF.
Biến tính gỗ có rất nhiều phơng pháp.
Trong những năm gần đây, ở các nớc phát triển nh Mỹ, Nhật, Nga, Phần Lan đang
sử dụng các phơng pháp biến tính sau: nhiệt cơ, hoá cơ, hoá học, nhiệt hóa, bức xạ
hoá học. Biến tính gỗ theo 2 xu hớng chủ yếu: nén chặt và không nén chặt. Một số
loại hình biến tính; ngâm tẩm, gỗ ép lớp, gỗ nén, gỗ tăng tỉ trọng, polyme hoá. Các
ợu, phenol, nhựa polyeste(PE). Ngoài ra để biến tính ta có thể dùng các kim loại có
nhiệt độ nóng chảy thấp. Các kim loại này là Zn, Sn, Pb, Bi, Cd. biến tính gỗ bằng
phơng pháp các chất nhựa hoá học sẽ làm giảm khả năng hút ẩm, thấm nớc, hút nớc
làm giảm khả năng trơng nở, tăng độ bền, độ cứng. Gỗ biến tính theo phơng pháp
này đợc sử dụng trong xây dựng, đồ mộc gia dụng.
+Phơng pháp bức xạ - hoá học:
Gỗ đợc tẩm các chất metylmeta krilat, stirol và các chất monome khác, dới tác
dụng của các tia bức xạ xảy ra phản ứng trùng hợp ở trong gỗ. Gỗ đợc biến tính theo
phơng pháp này sẽ tạo ra sản phẩm có kích thớc ổn định, các tính chất cơ lý sử
dụng tơng đối cao. Gỗ ép đợc sử dụng để sản xuất ra ván sàn thanh, các chi tiết
máy[14].
+Phơng pháp hoá học:
Gỗ đợc tẩm các chất hoá học nh amoniac và một số chất khác. Các chất này có
khả năng làm thay đổi cấu trúc và thành phần hoá học của gỗ. Tẩm chất amoniac sẽ
làm tăng khả năng biến dạng của gỗ, gỗ sẽ dồn nén lại trong quá trình sấy.
Gỗ có khả năng thay đổi màu. Gỗ sau khi biến tính theo phơng pháp này thì
tính chất cơ học có giảm đi một chút, tuy vậy khả năng hút ẩm, hút nớc, trơng nở, co
5
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
giãn có giảm đi đáng kể. Vì vậy nó đợc ứng dụng làm các vật liệu có hình dạng,
kích thớc ổn định[15].
Ngoài các giải pháp biến tính trên, trên thế giới có một số giải pháp khác mà
làm thay đổi tính chất của gỗ. Các giải pháp này vẫn đợc coi là biến tính nh: các loại
ván nhân tạo(ván dán, ván dăm, ván LVL(Laminated Veneer Lumber))
+ Các nghiên cứu về máy và thiết bị biến tính gỗ:
Cho đến nay các máy và thiết bị biến tính gỗ đã phát triển rất mạnh. Các nớc
có dây truyền biến tính gỗ là Nga, Mỹ, Nhật Bản, Phần Lan. ở Trung Quốc trong
những năm 1985 đến nay cũng đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về công nghệ
máy móc và thiết bị. Có rất nhiều thiết bị trong dây truyền biến tính gỗ theo phơng
pháp hoá cơ. Tuy nhiên chủ đạo vẫn là máy ngâm tẩm, thiết bị áp lực chân không
phơng pháp tẩm nóng lạnh, phơng pháp áp lực chân không để đa thuốc bảo quản vào
trong gỗ. Mục tiêu nghiên cứu của các công trình đó chỉ mới dừng lại ở mức bảo
quản gỗ mà cha có hớng ổn định, biến tính gỗ.
Mặc dù các phơng pháp biến tính nh: nhiệt cơ, hoá cơ để tạo ra các loại gỗ
biến tính cũng đã đợc thảo luận, song do điều kiện về máy móc cha đáp ứng đợc yêu
6
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
cầu của máy biến tính gỗ, do đó chất lợng gỗ biến tính cũng cha đáp ứng theo tiêu
chuẩn.
Qua điều tra về các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nớc chúng tôi thấy: Hớng nghiên cứu biến tính gỗ ở trong nớc là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa. Điều này không những nâng cao chất lợng sản phẩm, mà còn tạo công
ăn việc làm, giúp chúng ta đa dạng hoá loại hình sử dụng gỗ.
Vì vậy hớng nghiên cứu của đề tài: nhằm nghiên cứu tìm ra một số giải pháp
biến tính gỗ và nghiên cứu sự ảnh hởng của PEG tới các tính chất của gỗ, khả năng
hạn chế nứt của gỗ và khả năng trang sức sơn PU.
7
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
1.2.Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1. Mục tiêu tổng quát:
+ Nghiên cứu công nghệ mới - công nghệ biến tính gỗ nhằm góp phần vào
công việc tìm kiếm nguyên liệu thay thế gỗ rừng tự nhiên đang ngày càng khan
hiếm và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất chế biến gỗ ở Việt Nam.
+ Nâng cao khả năng sử dụng gỗ mọc nhanh rừng trồng(gỗ Keo lá tràm) - một
trong các loại gỗ của chơng trình 5 triệu ha rừng.
+ Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm từ gỗ rừng trồng.
.2. 12. Mục tiêu cụ thể:
+ Tạo ra một số sản phẩm mới bằng một số phơng pháp biến tính. Các sản
phẩm biến tính sẽ đợc dùng vào làm nguyên liệu cho ván sàn, các chi tiết mỹ nghệ.
+ Đánh giá ảnh hởng của nồng độ PEG (Polyetylen Glycol ) và thời gian ngâm
+
Nồng độ PEG (%) 5 7 9 11 5
Thời gian ngâm(giờ) 4 6 8 10 4
Bớc4: Tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu tính chất co rút, giãn nở của gỗ theo các
tiêu chuẩn đã định. Để thử mức độ co rút và giãn nở của gỗ chúng tôi sử dụng tiêu
chuẩn TCVN 360-70 sửa đổi và 361-70 sửa đổi. Với kích thớc mẫu: 30x30x10mm.
Bớc5: Kiểm tra sự ảnh hởng của nồng độ PEG và thời gian ngâm đến khả năng
trang sức của gỗ và khả năng chống cháy của gỗ. Khả năng trang sức của gỗ kiểm
tra theo tiêu chuẩn oct 15140 - 78. Phơng pháp kiểm tra là rạch ô vuông. Khả năng
chống cháy của gỗ kiểm tra theo tiêu chuẩn ASTM E69 - 70.
Bảng 1.2. Ma trận quy hoạch thực nghiệm
N
0
X
1
X
2
N(%)
(giờ)
1 + + 9 8
2 - + 5 8
3 + - 9 4
4 - - 5 4
5
+
0 11 6
6
-
0 3 6
7 0
.
- Sợi gỗ: Tiết diện hình đa giác, hình dạng không đồng đều, xếp thành từng dãy
xuyên tâm
- Tia gỗ: Từ 4-5 tia/mm, hình thon dài, xếp xen kẽ.
- Tế bào mô mềm: Tiết diện hình đa giác, xếp thành từng dãy song song, tia gỗ
bao quanh lỗ mạch. Tế bào mô mềm có chứa tinh thể hình đa giác.
2.1.1.2. Hoá chất:
10
Sấy
Sấy
Nguyên liệu xẻ phá xẻ lại Thanh
Thuốc PEG Kiểm tra Hoà tan
Sản phẩm Kiểm tra chất l ợng gỗ
Ngâm
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
Hoá chất dùng trong thí nghiệm là PEG(Polyetylen Glycol )
Công thức cấu tạo: HO - CH
2
- (CH
2
- O - CH
2
)
n
- CH
2
- OH
- Nguồn gốc: PEG là loại muối trung tính, màu trắng, không mùi đợc trùng
hợp từ nhiều phân tử có gốc (-OH).
+ PEG tan tốt trong nớc, độ PH=7,4, khó bị rửa trôi
Mẫu cắt xong đợc đa vào tử sấy, để tránh các khuyết tật do sấy cho mẫu, chúng
tôi đặt nhiệt độ tủ sấy ban đầu thấp:45 5
0
C. Đồng thời để tiết kiệm chi phí năng l-
ợng, chúng tôi thờng xyên theo dõi kiểm tra và tăng nhiệt độ lò cho đến khi mẫu đạt
độ ẩm cuối cùng 10 2%.
2.1.3.3.Ngâm:
Trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng phơng pháp ngâm thòng. Nồng độ
chất PEG và thời gian ngâm đợc tiến hành theo ma trận quy hoạch thực nghiệm ở
bảng 1.2. Ngâm thờng là phơng pháp cổ điển nhất nhng lại đợc sử dụng rộng rãi ở
nhiều nớc.
- Ưu điểm của phơng pháp :Đơn giản, dễ áp dụng, khong đòi hỏi trang thiết bị
phức tạp, có thể tập trung với khối lợng lớn.
- Nhợc điểm: Thời gian tẩm kéo dài, đối với một số loại gỗ khó thấm thuốc,
nếu ngâm thờng khó đáp ứng đợc yêu cầu các chất bảo quản. Không áp dụng ở nơi
có khối lợng gỗ tẩm nhỏ vì sẽ gây lãng phí lợng thuốc ngâm còn trong bể.
2.1.3.4.Sấy mẫu sau khi ngâm:
Mẫu sau khi ngâm tẩm PEG ta tiến hành sấy mẫu đến khô kiệt để đo tỷ lệ tr-
ơng nở của gỗ sau khi ngâm. Nhiệt độ là 110 2
0
C.
2.1.3.5. Kiểm tra các chỉ tiêu của mẫu sau khi sấy:
Mẫu gỗ sau khi sấy đợc kiểm tra các chỉ tiêu. Đó là: Khả năng co rút, giãn nở
theo chiều xuyên tâm, tiếp tuyến và dọc thớ; ảnh hởng của nồng độ và thời gian tẩm
đến khả năng trang sức của gỗ và khả năng chống cháy của gỗ.
Việc đánh giá khả năng co rút và giãn nở của gỗ đã xử lý PEG đựơc đánh giá
qua chỉ tiêu:Tỷ lệ co rút và giãn nở theo chiều dọc thớ<1%; tỷ lệ co rút và giãn nở
theo chiều xuyên tâm:2-7%; tỷ lệ co rút và giãn nở theo chiều tiếp tuyến:4-14%.
2.2.Kết quả thí nghiệm và đánh giá kết quả:
Kết quả thí nghiệm tra khả năng co rút, giãn nở của gỗ đợc trình bày ở
N
0
Y
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
OST
1
0.24 0.27 0.38 0.297 0.264 -0.032
2
0.43 0.19 0.32 0.313 0.318 0.005
3
0.30 0.25 0.329 0.313 0.253 -0.060
4
0.32 0.43 0.22 0.323 0.301 -0.023
5
0.23 0.31 0.19 0.213 0.311 0.068
6
0.39 0.39 0.32 0.367 0.373 0.006
7
0.30 0.18 0.20 0.227 0.241 0.014
8
0.21 0.16 0.12 0.163 0.223 0.060
giảm dần sau đó tỷ lệ co rút dọc thớ lại có xu hớng tăng lên khi nồng độ thuốc PEG
tăng từ khoảng 8 11%.
Nh vậy ta thấy với cấp thời gian 8giờ ứng với cấp nồng độ 8% thì tỷ lệ co rút
dọc thớ là nhỏ nhất.
2.5.1.2.Co rút xuyên tâm.
Từ kết quả co rút ở bảng 2.1 chúng tôi xử lý và thu đợc số liệu ghi ở bảng
sau:
N
0
Y
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
0st
1 2.47 2.65 2.50 2.540 2.531 - 0.027
2 3.09 3.28 3.04 3.137 2.899 - 0.237
3 2.08 2.23 2.42 2.243 2.215 - 0.029
4 2.75 3.08 3.38 3.070 2.831 - 0.239
5 2.24 2.04 2.77 2.350 2.356 0.006
6 2.37 2.39 3.09 2.617 2.968 0.351
7 2.02 2.94 2.21 2.390 2.567 0.177
8 2.03 2.18 2.28 2.163 2.344 0.180
9 2.27 2.68 2.79 2.580 2.397 - 0.183
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
Tỷ lệ co rút của gỗ theo chiều xuyên tâm tăng và giảm không ổn định. Tuy
nhiên ở cấp nồng độ 9% và thời gian ngâm là 8 giờ thì tỷ lệ co rút theo chiều xuyên
tâm là nhỏ nhất.
2.5.1.3. Co rút tiếp tuyến.
Từ kết quả thu đợc ở bảng (2.1) chúng tôi xử lý số liệu và thu đợc kết quả ở
bảng(2.4)
N
0
Y
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
OST
1 5.12 4.20 4.19 4.503 4.453 -0.051
2 4.53 4.42 4.55 4.500 4.529 0.029
3 4.26 4.00 4.39 4.397 4.271 -0.126
4 5.15 4.16 4.06 4.457 4.411 -0.046
5 3.30 4.95 4.84 4.363 4.494 0.131
6 5.18 4.28 4.42 4.627 4.626 -0.001
7 4.20 4.05 5.00 4.417 4.420 0.003
8 3.97 4.35 4.01 4.110 4.237 0.127
9 4.10 4.78 4.90 4.593 4.527 -0.067
2.5.2. Giãn nở:
2.5.2.1. Giãn nở dọc thớ:
Từ kết qủa thu đợc ở bảng (2.1) về độ giãn nở dọc thớ gỗ, chúng tôi đi xử lý và
thu đợc số liệu ghi ở bảng sau:
N
0
Y
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
OST
1 0.30 0.12 0.39 0.270 0.269 - 0.001
2 0.29 0.31 0.28 0.293 0.305 0.012
3 0.45 0.29 0.31 0.350 0.304 - 0.046
4 0.45 0.46 0.25 0.387 0.353 - 0.033
5 0.30 0.40 0.21 0.303 0.337 0.034
6 0.56 0.25 0.32 0.377 0.389 0.013
7 0.24 0.19 0.25 0.227 0.213 - 0.014
8 0.31 0.18 0.12 0.203 0.263 0.060
9 0.18 0.35 0.38 0.303 0.280 - 0.024
Bảng (2.5). Giãn nở dọc thớ khi đã qua xử lý
Giãn nở dọc thớ không qua xử lý thuốc PEG là: 0.46%
Từ kết qủa thu đợc sau thí nghiệm, kết hợp với bảng 2.1 và 2.5 chúng tôi xây
Từ kết qủa thu đợc ở bảng (3.1) về tỉ lệ giãn nở xuyên tâm, chúng tôi đi xử lý
và thu đợc số liệu ghi ở bảng sau:
N
0
Y
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
OST
1 2.45 2.27 2.65 2.457 2.733 0.276
2 2.18 2.88 2.43 2.497 2.469 - 0.027
3 2.11 2.97 2.61 2.663 2.533 - 0.130
4 3.13 2.88 3.70 3.237 2.803 - 0.433
5 2.95 2.78 3.51 3.080 2.937 - 0.143
6 2.89 2.59 2.28 2.587 2.941 0.354
7 2.30 3.30 3.01 2.870 2.643 - 0.227
8 2.46 2.31 2.09 2.287 2.725 0.438
9 3.02 3.22 4.06 3.433 3.325 0.108
Bảng 2.6. Giãn nở xuyên tâm sau khi đã qua xử lý.
Giãn nở xuyên tâm không qua xử lý thuốc PEG là: 2.71%
Từ kết quả thu đợc sau thí nghiệm, kết hợp bảng(2.1) và (2.6) chúng tôi xác
định đợc phơng trình tơng quan biểu diễn ảnh hởng của N và tẩm thuốc PEG đến
sự giãn nở theo phơng xuyên tâm của gỗ Keo lá tràm.
1
Y
2
Y
3
Y
TB
Y
-
Y
ost
1 5.12 3.41 4.12 4.217 4.156 -0.060
2 4.25 4.78 4.21 4.413 5.041 0.628
3 4.08 4.38 4.87 4.443 4.086 -0.357
4 6.29 3.76 4.67 4.907 5.237 0.331
5 2.97 5.88 3.91 4.253 4.636 0.382
6 8.10 6.93 4.84 6.623 5.878 -0.746
7 4.85 4.37 5.27 4.830 4.405 -0.425
8 4.32 4.33 4.61 4.420 4.482 0.062
9 5.75 4.60 5.56 5.303 5.489 0.186
Bảng2.7: Giãn nở tiếp tuyến sau khi đã qua xử lý
Giãn nở tiếp tuyến không qua xử lý thuốc PEG là: 4,91%
Từ kết quả thu đợc sau thí nghiệm, kết hợp với bảng (2.1) và (2.7) chúng tôi
xác định đợc phơng trình tơng quan biểu diễn đợc ảnh hởng của N và tẩm
thuốcPEG đến tỷ lệ giãn nở theo phơng tiếp tuyến của gỗ Keo lá tràm.
- Phơng trình dạng thực:
Y
TT
= -0.173 + 0.193N 0.039N
2
kém, nhờ đó gỗ rất ít bị co giãn , nứt nẻ.
Ngoài ra, khi gỗ đợc ngâm trong dung dịch PEG còn hạn chế đựơc nấm mốc,
nâng cao đựơc thời gian sử dụng gỗ và làm tăng khối lựơng thể tích của gỗ.
Với các cấp nồng độ và thời gian ngâm mà chúng tôi làm thí nghiệmthì với
nồng độ 7% ứng với thời gian 2h thì tỷ lệ co rút và tỷ lệ giã nở là thấp nhất. Vì vậy
câp nồng độ, thời gian này là hợp lý nhất?
2.6.Quy trình trang sức.
2.6.1.Xẻ mẫu:
Mẫu trang sức đợc xẻvới kích thớc 1500x1500x10,mm.
2.6.2. Sấy mẫu:
Mẫu sau khi xẻ ta tiến hành sấy mẫu đến độ ẩm cuối cùng 102% với nhiệt độ
sấy tăng dần từ 40
0
c đến nhiệt độ cuối cùng là 1005
0
c.
2.6.3.Ngâm mẫu:
Mẫu sấy xong đợc ngâm với các cấp nồng độ và thời gian nh mẫu dùng để xác định
tỷ lệ trơng nở.
2.6.4.Sấy mẫu:
Mẫu ngâm xong lại đợc đem sấy đến khi đạt đợc độ ẩm yêu cầu 102%.
2.6.5.Trang sức:
Mẫu dùng để trang sức sau khi đã đợc đánh nhẵn bề mặt ta tiến hành phun sơn
lên bề mặt mẫu.
ở đây chúng tôi sử dụng phơng pháp phun bằng khí nén đối với sơn PU.
2.6.6.Kiểm tra độ bám dính của màng phủ:
20
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
Tiêu chuẩn kiểm tra là OCT15140-78. Phơng pháp kiểm tra là rạch ô vuông. Ta
rạch các đờng song song trên mặt màng trang sức thành các ô vuông 1(mm).
10
Mẫu đối chứng Không có Các đờng cắt nhẵn không có dấu hiệu ô vuông bong
Từ bảng số liệu trên ta có nhận xét sau:
Số lợng ô bị bong<5%. Theo tiêu chuẩn xác định độ bám dính thì số ô
bong<5% ô/100 là mẫu đạt độ bám dính cao. Nh vậy khi mẫu đợc qua xử lý bằng
thuốc biến tính PEG thì khả năng trang sức bị ảnh hởng rất ít, thậm chí còn gần nh
không bị ảnh hởng, trong khi đó giá trị của việc biến tính gỗ bằng PEG mang lại rất
lớn. Vì thế, việc đa biện pháp biến tính này vào thực tế có giá trị rất lớn.
21
Luận văn tốt nghiệp Đại ca: nguyễn kim hiều
CHƯƠNG III:kết luận & kiến nghị
3.1.Kết luận.
Từ các kết quả thu đợc qua quá trình phân tích và đánh giá, chúng tôi đa ra
một số kết luận sau:
- Gỗ đợc xử lý bằng thuốc PEG có khả năng hạn chế đợc sự xâm nhập của côn
trùng hại gỗ, kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ.
- Tỷ lệ co rút cũng nh giãn nở của gỗ xử lý PEG giảm đi rất nhiều so với gỗ ch-
a đợc xử lý.
- Gỗ đợc xử lý bằng PEG thì nguy cơ bị nứt giảm đi nhiều so với gỗ cha đợc xử
lý; thậm chí với cấp nồng độ và thời gian ngâm hợp lý, gỗ sau khi đợc xử lý không
có hiện tợng bị nứt.
- Gỗ sau khi đợc ngâm bằng PEG có màu sắc sáng hơn gỗ không đợc ngâm
thuốc.
- Khả năng trang sức của gỗ đã qua xử lý PEG không hề bị ảnh hởng.
- Với nồng độ thuốc thấm, vấn đề môi trờng không ảnh hởng nhiều.
Nh vậy, gỗ Keo lá tràm sau khi qua xử lý bảo quản bằng thuốc PEG có thể đợc
ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất ván ghép thanh, ván sàn, khung cửa, đặc
biệt có thể đa gỗ Keo lá tràm vào sản xuất các chi tiết thay cho gỗ tự nhiên trong sản
xuất đồ mỹ nghệ, đồ mộc cao cấp mà không hề làm giảm đi giá trị thẩm mỹ cũng
nh giá trị sử dụng của sản phẩm.
9. Trần Văn Chứ (2002), Công nghệ trang sức vật liệu gỗ.
10. Tiêu chuẩn kiểm tra chất lợng màng trang sức (1998), NXB Công
nghiệp rừng Macơva, Cộng hoà Liên Bang Nga.
11. Tiêu chẩn kiểm tra chất lợng màng trang sức (1998), NXB Lâm
Nghiệp Bắc Kinh Trung Quốc.
12. Buglai (1973), công nghệ trang sức bề mặt, NXB Công nghiệp rừng
Macơva, Cộng Hoà Liên Bang Nga.
13. Noel Johnson Leach (1978), Modern Ưôd Finishing Techniques,
London.
14. Phạm Thị Là (2003), Nghiên cứu một số giải pháp ổn định gỗ và ảnh
hởng của chất Plyetylen Glycol(PEG) đến khả năng trang sức của sơn PU.
23