BÁO CÁO THỰC TẬP-Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam trong thời gian qua - Pdf 27

Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 2
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
1.1. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 4
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2. Đặc điểm của hàng TCMN 6
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 8

1.2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 8
1.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân 8
1.2.2. Đối với các doanh nghiệp 11
Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu TCMN ở Việt Nam trong thời
gian qua.
2.1. Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam 12
2.1.1. Thực trạng về sản xuất thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề 12
2.1.2. Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam 14
2.2. Mục tiêu xuất khẩu hàng TCMN năm 2010 20
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường
Thế giới.
3.1. Xu thế phát triển hàng thủ công mỹ nghệ 22
3.2. Các hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường thế
giới 23
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 1
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
LỜI NÓI ĐẦU

Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hướng về

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN ở Việt Nam trong
thời gian qua.
Chương III: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường Thế
giới.
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 3
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ.
1.1. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy làng xã Việt
Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân dân ở nông thôn.
Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước và phong tục
tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông nghiệp và
sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt Nam xuất hiện từ thời
các vua Hùng dựng nước, những xóm làng định canh đã hình thành, dựa trên cơ sở những
công xã nông thôn. Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực
địa giới nhất định. Đồng thời là nơi gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinh
hoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau
trong quá trình sản xuất và đời sống.
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp,
càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau,
khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các
phường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải… từ đó, các nghề được lan
truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần
vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề phụ. Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các
nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dần dần

1.1.2. Đặc điểm của hàng TCMN
TCMN là những sản phẩm Độc đáo - Tinh xảo - Hoàn mỹ thể hiện qua:
1.1.2.1. Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công, lao động chủ yếu dựa
vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân. Sản phẩm
làm ra vừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn bàn tay tài hoa của người thợ và
phong vị độc đáo của một miền quê nào đó. Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hoá ở
các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá cao hơn nhiều so với hang công nghiệp
sản xuất hàng loạt. Các sản phẩm đều mang đậm nét văn hoá Việt Nam như gốm Bát
Tràng, đồ gỗ mỹ nghệ với những đường nét trạm trổ chim lạc, thần kim quy, hoa sen… đã
được xuất khẩu rộng rãi ra khắp thế giới, thông qua các sản phẩm này người ta đã có thể
tìm hiểu phần nào văn hoá của Việt Nam. Có thể nói sản phẩm thủ công mỹ nghệ không
chỉ là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và được
coi là biểu tượng của nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam .
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 6
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
1.1.2.2. Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một tác phẩm
nghệ thuật, được tạo ra từ những đôi tay khéo léo, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị
thẩm mỹ. Nhiều loại sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà,
đền chùa nơi công sở…các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh
xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm nổi bật nhờ sự tinh xảo qua các đường nét
văn hoá trạm trổ, hay những kiểu dáng mẫu mã độc đáo, tạo dáng tuyệt vời mặc dù
nguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ dừa, mảnh gỗ … qua bàn tay tài
hoa, khối óc và cả tấm lòng của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật có
giá trị
1.1.2.3. Tính đơn chiếc
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của
mỗi làng nghề. Người ta có thể phân biệt được các loại sứ khác nhau nhờ các hoa văn,
màu men, hoạ tiết trên sản phẩm, hay các sản phẩm gỗ mỹ nghệ thông qua các đường nét

công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm.
- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công mỹ
nghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi bằng các phương tiện
vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuất khẩu nhất định.
1.2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
* Tận dụng các nguyên liệu sẵn có mang về nguồn ngoại tệ
- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam,
được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào tổng kim
ngạch xuất khẩu chung của cả nước, đồng thời có vai trò quan trọng trong giải quyết một
số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn. Các mặt hàng này mức độ tăng trưởng bình quân
khá cao 20%/năm, với kim ngạch xuất khẩu đạt 300 triệu USD trong năm 2004 và đạt hơn
750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tế toàn
cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu của cả nước cũng đạt gần 1 tỷ USD. Thời gian qua, thị
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 8
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ ở nước ta ngày càng được mở rộng, nogài các nước
chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan. Hiện hàng thủ
công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này mang lại giá trị gia tăng lớn được
coi là 1 ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong những năm tới. So
với một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu
từ nước ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công và khấu hao
máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm một tỷ
trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu. Nhưng đối với mặt hàng này thì
nguyên vật liệu lại được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông lâm mang lại hiệu quả
từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao. Cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ
thì lãi gấp 5-10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm từ 3 đến 5 ngàn lao động,
nhóm hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn
và có tỉ suất lợi nhuận cao. Ngoài ra, đây là mặt hàng được liệt vào danh sách 10 mặt

đại hoá, mở rộng quy mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho đến nay cơ
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông
nghiệp.
* Góp phần giữ gìn các giá trị văn hoá và ngành nghề truyền thống của dân tộc.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống luôn gắn liền với lịch sử phát triển
văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hoá ấy đồng thời là sự biểu hiện tập
trung nhất bản sắc của dân tộc.
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó có ý nghĩa
rất lớn với nhu cầu đời sống của con người. Những sản phẩm này là sự kết tinh, sự bảo
tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu những văn hoa nghệ thuật và kỹ
thuật truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những
sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Chính vì vậy xuất khẩu thủ công mỹ nghệ không
những góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá của dân tộc Việt nam mà còn có
nhằm quảng bá chúng trên khắp thế giới
1.2.2 Đối với các doanh nghiệp
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 10
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các doanh nghiệp
không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài.
- Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ, qua đó nâng cao
khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình
phát triển.
- Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuất
khẩu trong và ngoài nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất
lượng hàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, từ đó tiết
kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động và tăng
thêm thu nhập, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.

thiếu vốn đã là bài toán muôn thuở với các làng nghề (do doanh nghiệp và các hộ sản xuất
chủ yếu đi lên từ sản xuất nhỏ lẻ), cùng với việc không xuất khẩu được càng khiến khó
khăn thêm chồng chất. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ gói kích cầu lần thứ nhất hồi đầu năm
2009 đã không đến được địa chỉ. Theo Trung tâm hỗ trợ đầu tư phát triển làng nghề, có
khoảng 8% doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không tiếp cận được vốn và
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 12
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
có tới 70% cơ sở sản xuất, doanh nghiệp thuộc làng nghề không đủ điều điều kiện vay.
Tính đến nay, có tới 50% làng nghề trên cả nước bị giải thể. Tại Đồng Kỵ, Bắc Ninh, nơi
có 120 doanh nghiệp làng nghề chủ yếu sản xuất đồ gỗ, trong hơn một năm qua, các
doanh nghiệp hầu hết phải ngừng sản xuất do thiếu vốn. Hiện nay, phần lớn các doanh
nghiệp làng nghề đều tự phải xoay sở để có vốn.
2.1.1.2. Nguyên vật liệu cho sản xuất
- Hầu hết các làng nghề truyền thống đếu được hình thành xuất phát từ việc có sẵn
nguồn nguyên liệu ngay tại địa phương. Nhưng hiện nay do các địa phương đã khai thác
bừa bãi, thiếu quy hoạch và đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu dẫn đến tình trạng nguồn:
gỗ, tre, trúc, giang, nứa, mây dần cạn kiệt. Hệ quả là hiện các doanh nghiệp phải nhập
khẩu khoảng 50% mây từ Lào, Cam phuchia và Indonesia Giá của nguyên liệu tre đã
tăng lên từ 7000 tới 17000 đồng/cây chỉ trong vòng 2 năm gần đây. Nhìn chung, tình
trạng cạn kiệt nguồn nguyên liệu thô là nguy cơ chung đối với các nhà sản xuất Việt Nam.
Trong khi đó, các ngành phụ trợ của Việt Nam hiện nay chưa phát triển, các nhà xuất
khẩu thường phải nhập rất nhiều loại nguyên liệu và phụ trợ từ nước ngoài, ví dụ như sơn
mài PU và chất nhuộm màu để thực hiện các khâu hoàn thiện sản phẩm. Vải có chất
lượng cho sản xuất hàng thêu ren hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn làm chi phí cho
nguyên liệu chiếm từ 60 đến 80% chi phí sản xuất.
2.1.1.3. Tình hình lao động tại các làng nghề
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động vẫn còn thấp kém. Lao
động thủ công chiếm chủ yếu nhưng trình độ học vấn của họ phần lớn chỉ đạt mức tốt
nghiệp phổ thông trung học, thậm chí có người còn ở trình độ thấp hơn. Trong khi đó, số
lao động lành nghề, thợ bậc cao và các nghệ nhân chỉ chiếm 2,1%. Cán bộ quản lý, kỹ

Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công truyền thống (Nghìn USD)
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 14
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
2.1.2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Hàng TCMN có nhiều nhóm mặt hàng phong phú với mẫu mã riêng, kiểu dáng
đẹp, Dưới đây là những nhóm mặt hàng chính:
- HÀNG GỐM SỨ
Hiện nay gốm sứ Việt Nam, nhất là những sản phẩm gốm ngoài vườn làm bằng tay
đang rất được ưa chuộng trên thị trường châu Âu, vốn là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế
giới. Theo các thương nhân nước ngoài, chất lượng gốm sứ Việt Nam không thua kém
các cường quốc sản xuất khác như Italia, Trung Quốc, Malaysia.
Do trình độ điêu khắc, tạo dáng sản phẩm tuyệt vời, với ưu điểm được làm bằng tay,
chủng loại và chất liệu phong phú cho phép người mua hàng có nhiều lựa chọn từ hàng
men, không men, đất đỏ Các sản phẩm cũng đa dạng như chậu tròn, oval, vuông, chữ
nhật, hình thú, đôn, hũ, bình Điều này giúp khách hàng có một bộ sưu tập đầy đủ trong
khi họ chỉ có thể mua hàng đất đỏ tại Trung Quốc, hàng men dạng tròn tại Malaysia và
hàng cao cấp tại Italia.
- HÀNG MÂY TRE LÁ
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 15
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
Với đặc điểm gọn nhẹ, xinh xắn, dễ thay đổi kiểu, khá bền và giá tương đối rẻ so với
đồ gỗ, hàng mây tre lá ,nguồn nguyên liệu làm hàng này rất phong phú: từ mây tre, trúc,
lá buông đến xơ dừa, lục bình, dứa dại dưới bàn tay khéo léo của những người thợ cũng
có thể trở thành đôla xuất khẩu. Mặt hàng này không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, lao
động tương đối đơn giản. Có nhiều cơ sở đã dùng mây tre lá kết hợp với thủy tinh, gốm,
gỗ, kim loại để tạo ra nhiều sản phẩm có kiểu dáng đặc biệt.
- HÀNG SƠN MÀI
Nghề làm sơn mài Việt Nam đã xuất hiện từ trước công nguyên, cùng với Trung
Quốc, Nhật Bản, tuy phần kỹ thuật có khác. Năm 1932, nhờ một số giáo viên, sinh viên
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nghề sơn đã được cải tiến với kỹ thuật đặc biệt,

thấy, thị trường hàng thủ công mỹ nghệ được mở rộng và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
cũng đã phần nào khẳng định được vị trí của mình trên thị trường các nước. Ngoài việc
đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang các thị trường truyền thống, thị trường
tiềm năng, chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu hơn nữa để mở rộng thị trường xuất
khẩu.
Thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ ở nước ta ngày càng được mở
rộng, ngoài các nước chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài
Loan Hiện hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới. Trong đó Nhật Bản cùng với Hoa Kỳ và EU được đánh giá là 3 thị
trường mục tiêu. Ngoài ra, Canađa, các nước Trung Đông và một số thành niên mới của
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 17
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
EU cũng đang là những thị trường tiềm năng để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng
này.
Số liệu thống kê năm 2007 về doanh thu xuất khẩu hàng TCMN theo quốc gia
Một số đặc điểm của các thị trường mục tiêu:
- Nhật Bản là thị trường gần và có nhu cầu lớn về hàng thủ công mỹ nghệ của ta.
Trong số các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản thì gốm
sứ, đồ gỗ nội thất và mây tre đan là các mặt hàng chính. Kim ngạch xuất khẩu các mặt
hàng này chiếm từ 50-85% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ hàng năm của
Việt Nam vào Nhật. Sản phẩm Việt Nam cũng tương đối khá được ưa chuộng về mặt thiết
kế trên thị trường Nhật Bản, nơi mà người tiêu dùng thích những đường nét đơn giản và
hiện đại. Nhu cầu của người Nhật về hàng thủ công mỹ nghệ rất đa dạng, thay đổi nhanh
theo mùa, mặt khác do chu kỳ sống của sản phẩm ngắn, nên người tiêu dùng đòi hỏi rất
khắt khe về thời hạn giao hàng. Luật lệ, thủ tục nhập khẩu của Nhật Bản rất rườm rà phức
tạp, và ngày càng cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các chiến lược nhằm đáp ứng
những yêu cầu này. Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu khoảng 2,9 tỉ USD, nhưng Việt Nam
chỉ khiêm tốn chiếm 1,7%. Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam sang Nhật
năm 2008 chiếm gần 13% tổng của cả nước.
- Người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng những sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá

phu nhân Hillary Clinton giá 25 nghìn USD. Tại Quảng Ninh, 6 mẩu than bán được 30
USD chỉ vì từng mẩu ghi được vỉa tuổi của nó. Hội An có dịch vụ cắt áo dài bằng tơ lụa
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 19
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
lấy ngay… Xuất khẩu tại chỗ đang dần khẳng định vị thế của mình, hứa hẹn sẽ là một thị
trường đầy tiềm năng.
2.2. Mục tiêu xuất khẩu năm 2010
Trong “Đề án phát triển XK giai đoạn 2006 - 2010” của Bộ Thương mại, định
hướng phát triển nhóm hàng TCMN chiếm một vị trí rất quan trọng. Đây là một trong số
ngành được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, xuất khẩu lớn và có tỷ
suất lợi nhuận cao.
Thêm vào đó chủ trương đường lối đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Đảng và Nhà
nước đang thực hiện là :
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức,thành phần kinh tế thâm
nhập, khai thác, mở rộng thị trường.
- Thực hiện chế độ bảo hộ chính sách pháp luật nhập khẩu hợp lý cho ngành sản
xuất trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh
hàng hoá của ta trên thị trường quốc tế.
Bảng ước đoán kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ năm 2006-2010:
Đơn vị (triệu USD)
2006 2007 2008 2009 2010
Giai đoạn
2006-2010
KN
Tăng
(%)
KN
Tăng
(%)
KN

(%)
KN
Tăng
(%)
KN
Tăng
(%)
KN
Tăng
(%)
565 6% 630 11,5% 752 19,4% 910 21% 1102 21%
Số liệu thống kê cho thấy mặc dù kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng nhóm
hàng TCMN đã chưa đạt được mục tiêu đề ra vì TCMN thực sự đã và đang phải đối mặt
với hàng loạt khó khăn: ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng
cao nên người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu, trong khi các mặt hàng góm sứ
xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và đồ trang
trí, đây không phải là những mặt hàng thiết yếu, vì thế sức mua đã giảm mạnh; giá cả của
các mặt hàng cũng giảm nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, mây
tre buộc phải tạm ngưng sản xuất…, bên cạnh đó là tình trạng cạn kiệt nguồn nguyên
liệu, doanh nghiệp thuộc làng nghề không đủ vốn hoạt động… Nhưng với kết quả khích
lệ đạt được trong năm 2009 (doanh thu xuất khẩu trên 1 tỷ USD) cùng những dự báo khả
quan về nền kinh tế thế giới đang phục hồi, nhu cầu của thị trường đối với mặt hàng thủ
công mỹ nghệ sẽ tiếp tục tăng thì mục tiêu đạt được kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN
năm 2010: 1,5 tỷ USD là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu
này thì cần phải có sự liên kết giữa các cơ quan quản lý nhằm kết hợp hài hoà và tối ưu
hoá các nguồn lực phát triển cho ngành hàng này, đồng thời các doanh nghiệp cũng phải
nhận biết được và khắc phục các điểm yếu của mình để ngày càng nâng cao giá trị kim
ngạch xuất khẩu, khẳng định được vị thế hàng TCMN Việt Nam trên thị trường thế giới.
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 21
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân

• Xu thế thứ tư là sẽ có nhiều sản phẩm thiên về mầu hồng hoặc lấy mầu hồng làm
mầu gốc nhưng vẫn đảm bảo tính “sạch sẽ”, cảm quan nhẹ nhàng, sáng sủa, không loè
loẹt.
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 22
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
• Xu thế thứ năm là phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường và có tính
bền vững cao, do vậy hiện nay mặt hàng có nguồn gốc làm từ tre đang rất được ưa chuộng
vì tre là loại cây có vòng sinh trưởng nhanh, việc khai thác tre cho sản xuất hàng hoá sẽ
không ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái như hàng gỗ.
3.2. Các hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường
thế giới.
3.2.1. Các hạn chế của hàng TCMN Việt Nam
TCMN là một trong 10 mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu cao của cả nước,
được đánh giá là mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn. Sản phẩm TCMN Việt Nam có lợi
thế cạnh tranh là sự độc đáo, đa dạng về chủng loại, mang đậm đà bản sắc dân tộc, độc
đáo của VN, giá cả hợp lý… Tuy nhiên, ngành hàng TCMN vẫn còn nhiều hạn chế so với
tiềm năng và vai trò cần thiết của nó, vì các nguyên nhân:
• Mẫu mã sản phẩm chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dáng không theo kịp
tập quán và thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp chỉ đưa ra
các sản phẩm mang bản sắc văn hóa Việt Nam mà quên mất rằng người tiêu dùng cũng
cần những sản phẩm có dấu ấn văn hóa quê hương họ. Vì thế, nhiều DN Việt Nam rơi vào
tình trạng xuất khẩu các mặt hàng “lệch pha” với nhu cầu của thị trường và “chậm tiến”
so với các đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm lại thiếu đồng bộ, tính hoàn thiện không cao,
công dụng không rõ nét, độ an toàn chưa được chú ý … Phần lớn sản phẩm mang nặng
đặc tính và tượng trưng của từng địa phương mà chưa gây được ấn tượng mạnh cho người
tiêu dùng và người phân phối.
• Tình trạng sao chép mẫu mã, tranh chấp bản quyền giữa các doanh nghiệp còn
khá phổ biến. Do thiếu chuyên nghiệp hoặc do tư tưởng kinh doanh theo lối “chụp giật”,
chạy theo lợi nhuận trước mắt, chưa có định hướng lâu dài cho sự phát triển bền vững nên
nhiều doanh nghiệp không đăng ký mà đi ăn cắp bản quyền dẫn đến tranh chấp, kiện tụng

gặp khó khăn về lao động có tay nghệ.
3.2.2. Các giải pháp thúc đẩy hàng TCMN vào thị trường thế giới
Hàng TCMN của Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng, bởi nhu cầu thị trường thế giới
hầu như chưa bị giới hạn do “vòng đời” sản phẩm ngắn. Để mở rộng thị trường xuất khẩu
đưa sản phẩm TCMN phát triển bền vững chúng ta cần quan tâm và cần tăng cường
những biện pháp sau:
* Đối với các doanh nghiệp
• Các DN sản xuất hàng TCMN nên chủ động liên kết lại xây dựng làng nghề
hoặc cụm sản xuất TCMN. Mỗi cụm hay làng nghề có thể do 5-10 doanh nghiệp cộng tác
thành lập, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh như chia sẻ các hợp đồng
lớn hoặc phân công phân khúc sản xuất. Tận dụng và phát huy hết công năng cơ sở vật
chất và năng suất của máy móc thiết bị tại các đơn vị. Bổ sung lẫn nhau và ổn định việc
làm cho lực lượng lao động. Thông qua cụm sản xuất hoặc làng nghề để phô trương khả
năng sản xuất, nâng tính phong phú đa dạng sản phẩm thu hút sự quan tâm và lòng tin của
người mua hàng.
• Tăng cường việc kiểm tra chất lượng sản phẩm khi sản xuất, để đảm bảo tính
đồng nhất và ổn định chất lượng sản phẩm, đồng thời khắc phục những sản phẩm có
SVTH: Trần Thị Phương Thảo – B09K1.1 Trang 24
Đề án Kinh tế quốc tế GVHD: Bùi Thanh Huân
khuyết điểm, để hoàn thiện sản phẩm đảm bảo về tính thẩm mỹ, tính an toàn khi sử dụng,
xây dựng lại niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm mỹ nghệ của mình.
• Bố trí lại sản xuất, xây dựng quy trình sản xuất cho từng loại sản phẩm để tăng
năng suất lao động, để giảm giá thành sản phẩm, và đảm bảo tiến độ giao hàng.
• Doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu riêng để tự khẳng định vị thế và
tạo ra những khách hàng trung thành với mình.
• Để khắc phục điểm yếu về kiểu dáng, mẫu mã, các doanh nghiệp cần đặc biệt
chú trọng tới khâu thiết kế, tầm nhìn thương hiệu để tạo ra các yếu tố của sản phẩm như:
kích thước, màu sắc, kiểu dáng hợp lý, với nhu cầu khách hàng. Tạo ra các bộ sưu tập
bằng cách kết hợp nhiều mặt hàng lại với nhau để làm nên nét khác biệt. Muốn thế, đội
ngũ thiết kế phải nâng cao hiểu biết về kỹ năng xây dựng thương hiệu, chẳng hạn như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status