BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-NGHIÊN CỨU SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA RAU CẢI BẸ XANH, CẢI BẸ TRẮNG VÀ XÀ LÁCH LÔ LÔ ĐỎ TRÊN GIÁ THỂ XƠ DỪA TRONG NHÀ CHE PHỦ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG TRẠI VÀ THỰC PHẨM MIỀN ĐÔNG – TỈNH BÌNH DƯƠNG - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC - THỰC PHẨM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA RAU CẢI BẸ
XANH, CẢI BẸ TRẮNG VÀ XÀ LÁCH LÔ LÔ ĐỎ TRÊN GIÁ THỂ XƠ
DỪA TRONG NHÀ CHE PHỦ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG TRẠI VÀ
THỰC PHẨM MIỀN ĐÔNG – TỈNH BÌNH DƯƠNG
GVHD: 1. TH.S Trần Đức Việt
2. TH.S Trần Thị Phương Nhung
Sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Sơn Ngân
2. Đinh Thị Nhàn
3. Nguyễn Thị Phúc
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
“Uống nước nhớ nguồn” đó là một truyền thống tốt đẹp và cao quý của con
người Việt Nam.
Trong tâm tình biết ơn đó tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Công ty cổ phần nông trại và thực phẩm Miền Đông đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi nhất cho chúng tôi thực hiện đề tài.
Ban giám hiệu nhà trường, viện sinh học và thực phẩm, phòng quản lý hóa chất
dụng cụ của viện, giảng viên quản lý phòng động vật, thực vật, hóa sinh trường
Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ chúng tôi về mặt thiết
bị, dụng cụ, hóa chất cần thiết.
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới giảng viên Th.s Trần Đức Việt
, Th.s Trần Thị Phương Nhung là những người theo sát nhóm, đã tận tình hướng
dẫn, khích lệ, giúp đỡ cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài.
Cuối cùng chúng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã cùng chúng tôi chia sẻ


NHẬN XÉT CỦA GVHD MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………
II. TỔNG QUAN ……………………………………………………………
2.1 Giới thiệu về nơi thực hiện đề tài ……………………………………………
2.2 Giới thiệu về rau an toàn ……………………………………………………

xanh ………………………………………………………………………
4.2.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến sự sinh trưởng chiều
dài lá rau cải bẹ xanh ……………………………………………………….
4.2.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến sự sinh trưởng số lá
rau cải bẹ xanh ………………………………………………………………
4.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến sự sinh trưởng rau xà lách
lô lô đỏ ……………………………………………………………………
4.3.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến sự sinh trưởng chiều
dài lá rau xà lách lô lô đỏ …………………………………………………
4.3.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến sự sinh trưởng số lá
rau xà lách lô lô đỏ …………………………………………………………
4.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến năng suất của các loại rau
4.4.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến năng suất rau cải bẹ
xanh …………………………………………………………………………
4.4.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến năng suất rau cải bẹ
trắng ………………………………………………………………………
4.4.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn xơ dừa: tro trấu đến năng suất của rau xà
lách lô lô đỏ …………………………………………………………………
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………….
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………
I. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Rau xanh là món ăn không thể thiếu trong thực đơn hằng ngày của mỗi người,
mỗi gia đình.Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm
khác không thể thay thế được như các loại vitamin A, B, C, D, E, K, các loại
axít hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sức khỏe. Rau không chỉ
cung cấp vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng chữa bệnh. Chất xơ trong
rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp và bệnh đường ruột, vitamin C
giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày, vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế
những biến cố về ung thư phổi. Ngày nay, thu nhập của người dân ngày càng

Miền Đông tỉnh Bình Dương.
Đề tài nghiên cứu xác định giá thể trồng thích hợp đối với các loại rau ăn lá .
Trên cơ sở đó xây dựng được quy trình sản xuất rau cải bẹ xanh, cải bẹ trắng và
xà lách lô lô đỏ trên giá thể xơ dừa trong nhà lưới để tạo ra được loại sản phẩm
rau sạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho nhà sản xuất.
3. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, một trong những vấn đề cần được giải quyêt là ô nhiễm
môi truờng và an toàn thực phẩm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng
trên, trong đó việc lạm dụng hóa chất độc hại, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích
thích sinh trưởng, sử dụng nguồn đất và nước ô nhiễm để trồng rau đang ngoài
tầm kiểm soát. Với phương thức sản xuất nông nghiệp này từ trước đến nay, đa
phần người tiêu dùng chủ yếu tiêu thụ các sản phầm nông nghiệp như rau xanh,
hoa quả không rõ nguồn gốc.
Thống kê của ngành y tế cho thấy trong 2 năm 2010 và 2011, số người ngộ độc
thực phẩm phải nhập viện cấp cứu do nguồn rau, củ, quả thiếu an toàn ở Việt
Nam lên đến hơn 700 người. Theo số liệu của chi cục bảo vệ thực vật thành
phố Hồ Chí Minh, vào cuối năm 2005, tỷ lệ rau an toàn không thực sự an toàn là
một con số gây “sốc” cho người tiêu dùng : 34/37 mẫu đăng ký là rau an toàn
không có dư lượng thuốc trừ sâu vượt quá mức cho quy định. Kết quả điều tra
của Chi cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN & PTNT) công bố ngày 3/2/2010 trong số
24 mẫu rau xanh lấy tại Hợp tác xã sản xuất, tiêu thụ chế biến sản phẫm nông
sản an toàn xã Vân Nội có dư lượng hoạt chất thuốc Fipronil vược 12,5 lần mức
dư lượng tối đa cho phép.
Trong những năm gần đây, chính phụ đã ban hành nhiều chính sách khuyến
khích việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm sạch,
tăng hiệu quả kinh tế cho một đơn vị diện tích canh tác. Trong đó việc canh tác
trong nhà có mái che (green house) là một giải pháp phù hợp, vừa có khả năng
trồng cây trái vụ, tăng năng suất chất lượng sản phẩm, giảm thiểu lượng thuốc
trừ sâu, phân bón góp phần xây dựng nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu

hiện được bước đầu nghiên cứu chọn công thức giá thể phù hợp đối với các đối
tượng rau ăn lá là rau cải bẹ xanh, cải bẹ trắng và xà lách nhằm xây dựng quy
trình trồng rau an toàn trên giá thể trong nhà màng
II. TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu về nơi thực hiện đề tài
Được thành lập trên cơ sở dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh
Bình Dương từ năm 2009.Được sự hỗ trợ của Phòng Kinh Tế TX.Thuận An
(Bình Dương) (vốn đầu tư 70%), ông Nguyễn Thanh Hùng (vốn đầu tư 30%) đã
triển khai mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao tại xã hưng định (TX.
Thuận An) để cung ứng các loại rau an toàn.Đến nay, Công Ty Cổ Phần Nông
Trại và Thực Phẩm Miền Đông, đóng trên địa bàn xã Hưng Định, thị xã Thuận
An đã trở thành một trong những mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
của tỉnh Bình Dương.
Công ty đã bắt đầu đi vào triển khai từ năm 2010, chỉ với 200 mét vuông đất để
làm mô hình ứng dụng. Mô hình được đầu tư, hỗ trợ đầy đủ về kỹ thuật cũng
như chi phí và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định. Với tiêu chí cung
cấp thực phẩm an toàn chất lượng cao cho mọi người trên nền tản công nghệ tự
nhiên và thân thiện với môi trường, mô hình đã đầu tư đủ các trang thiết bị hiện
đại như hệ thống nhà lưới, hệ thống tưới nước và bón phân tự động…. Đến nay
các loại cây trồng đưa vào ứng dụng như cà chua, xà lách, khổ qua… đều đã
mang lại kết quả khả quan. Với 200 mét vuông trồng xà lách một tháng thu được
khoảng 500 kg, cà chua 6 tháng thu hoạch một lần (một cây đạt khoảng 5kg),
chất lượng rau tốt, có thể bảo quản được lâu hơn các sản phẩm trồng theo
phương pháp truyền thống.
Cho đến nay ông Nguyễn Thanh Hùng đã liên kết với với Công Ty Cổ phần
Nông trại và Thực Phẩm Miền Đông để mở rộng quy mô lên đến 3.000 mét
vuông nhà lưới, cùng với 1.000 mét vuông cơ sở đi kèm như hệ thống nước tưới,
kho phân bón, phòng thí nghiệm, nơi sơ chế rau.
Với diện tích chỉ vào khoảng 3.000 mét vuông, chủ yếu trồng các loại rau, củ,
quả…như: rau cải, xà lách, rau muống, cà chua, dưa lê, dưa chuột,ớt trong nhà

GAP khác tương đương VietGAP và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu vệ sinh an toàn
thực phẩm (VSATTP). Dạng chất lượng này gắn với 2 loại chứng nhận đủ điều
kiện sản xuất, sơ chế rau an toàn và chứng nhận sản xuất, sơ chế rau an toàn
theo VietGAP.
Luật an toàn thực phẩm 2010 ra đời khẳng định rau lưu thông trên thị trường
bắt buộc phải đảm bảo an toàn và được kiểm soát bằng các quy chuẩn hay các
tiêu chuẩn khác được chứng nhận là phù hợp. Theo đó dự thảo ngày 13/12/2011
sửa đổi quyết định 99/2008/QĐ-BNN thì Rau an toàn là sản phẩm rau được sản
xuất, sơ chế phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn
thực phẩm hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn vệ
sinh thực phẩm có trong quy trình thực hành xuất khẩu nông nghiệp tốt cho rau,
quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và đạt các chỉ tiêu vệ sinh
an toàn thực phẩm theo quy định
2.3 Một số đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng của rau
2.3.1 Một số đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng của rau cải bẹ
trắng
2.3.1.1 Đặc điểm sinh học cải bẹ trắng
Cải bẹ trắng (còn gọi là cải thìa) có tên là Bạchgiới tử (Brassica chinensis) là
một loài cải thuộc họ cải cùng họ với cải bẹ xanh. Cải bẹ trắng thuộc loại cây
ngắn ngày, là loại rau ăn lá, thời gian thu hái ngắn khoảng từ 25-35 ngày có
năng suất cao. Cải bẹ trắng có thể trồng quanh năm.
Cải bẹ trắng là loại rau rất gần gũi với các món ăn của người Việt Nam.Cải
bẹ trắng mọc cao, cuống dày, có nhiều gân và chứa nhiều nước, hoa nhỏ màu
vàng mọc trên các cuống cao.
2.3.1.2 Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của rau cải bẹ
trắng
Cải bẹ trắng có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng ẩm. Nhiệt độ thích
hợp khoảng từ 15 – 20
0
C. Nở hoa và kết hạt thuận lợi là 20 – 25

ung thư) cũng như phytoalexin (chất kháng độc thực vật) được gọi là brassinin.
Ngoài ra, cải còn là nguồn cung cấp dồi dào chất Beta carotene - hợp chất chống
ôxy hóa mà các nghiên cứu khoa học trên thế giới đã chứng minh tác dụng làm
giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ở người một cách hiệu quả.Chất Beta carotene
sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đôi mắt, nó có tác dụng phòng ngừa bệnh đục nhân
mắt và thoái hóa hoàng điểm ở mắt.
2.3.2 Một số đặc điểm sinh học và giá trị dinh dưỡng của rau cải bẹ
xanh
2.3.2.1 Đặc điểm sinh học cải bẹ xanh
Cải bẹ xanh (Brassica junceal)thuộc họ thập tự Cruciferaie hay còn gọi là cải
cay, là loại cây rau ăn lá,được trồng khắp nơi trên thế giới như Ấn Độ, miền
Bắc Châu Phi, trung tâm Châu Á, châu Mỹ và Bắc Mỹ . Nó được trồng phổ biến
quanh năm, trừ những tháng trời quá khô hạn hay mưa nhiều. Thời điểm gieo
trồng cải bẹ xanh. ở nước ta phổ biến từ tháng 10 đến tháng 2. Cải bẹ xanh
không chỉ mang lại hương vị đặc biệt cho món ăn mà còn có nhiều tác dụng để
chữa bệnh.
2.3.2.2 Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển cải bẹ xanh
Cải xanh có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng ẩm. Nhiệt độ thích hợp
khoảng từ 15 – 20
0
C. Nở hoa và kết hạt thuận lợi là 20 – 25
0
C. Cải bẹ xanh ưa
sáng vừa phải và có khả năng chịu bóng râm.
Các giống cải bẹ xanh có hệ rễ cạn, lá trên cây không nhiều và lớn do vậy cây
cần được giữ ẩm thường xuyên trong thời gian sinh trưởng. Độ ẩm đất thích hợp
là 70 – 80%. Cải bẹ xanh sinh trưởng được trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất tơi
xốp, có độ thoát nước tôt và độ mùn cao. pH 5.5 – 7.0
2.3.2.3 Dinh dưỡng trong cải bẹ xanh
Theo Đông y cải bẹ xanh có vị cay, tính ôn, có tác dụng giải cảm, thông đàm, lợi

biến ở nước ta. Nó có đặc điểm lá xoăn tròn và viền có màu đỏ tía chứ không
phải màu xanh thông thường như những loại xà lách khác.
2.3.3.2 Yêu cầu ngoại cảnh ảnh hưởng tới sự phát triển của xà lách lô lô
đỏ
Xà lách sinh trường và phát triển tốt từ 8 – 25
0
C, thích hợp nhất từ 13 – 16
0
C.
Ánh sáng thích hợp cho xà lách là ánh sáng vùng cận nhiệt đới với cường độ
chiếu sáng là 16h/ngày sẽ cuốn bắp chặc hơn (đối với xà lách cuốn).
Yêu cầu độ ẩm đất cao thích hợp trong khoảng 70 – 80%. Xà lách ăn nông
không kén đất, nhưng yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước tốt, pH 5,8 – 6,6; yêu cầu
dinh dưỡng cao.
2.3.3.3 Thành phần dinh dưỡng trong rau xà lách
Xà lách lô lô đỏ là một nguồn chứa nhiều vitamin A, C, B1, B2 và axit
folic….Xà lách lô lô đỏ được cho là loại salad quyền rũ nhất, nó làm cho các
món salad trông rất đẹp mắt nhờ màu đỏ tía nổi bật, giàu Vitamin, chất xơ và ít
protein. Ngoài Ra xà lách Lô lô đỏ hỗ trợ tiêu hóa và tốt cho gan, giảm nguy cơ
mắc bệnh tim mạch, các cơn nhồi máu cơ tim, ung thư, nứt cột sống, thiếu máu,
chứng mất ngủ do căng thẳng.
2.5 Tình hình sản xuất rau sạch trong và ngoài nước
2.5.1 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Nghề trồng rau ở nước ta đã được hình thành từ lâu đời, trước cả nghề trồng lúa
nước. Nước ta với các vùng sinh thái nông nghiệp tương đối đa dạng từ nhiệt
đới- ôn đới, cận nhiệt đới ở miền Bắc sang khí hậu nhiệt đới ở miền Nam. Việt
Nam có điều kiện tự nhiên và khí hậu phù hợp để phát triển nhiều loại rau quả
Trước đây giống rau có ít, được gọi là "rau ta" như rau muống, rau cải,rau đay,
rau dền, Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự mở mang đô thị ngànhtrồng rau cũng
được phát triển. Nhiều giống rau quí, dinh dưỡng cao được dunhập trong thời

2.933.5
1996 360,0 112,32 4706,9
1997 377,0 125,81 4969,9
1998 411,7 122,02 5236,6
1999 459,1 117,45 5792,2
2000 464,6 124,36 5732,1
2001 514,6 126,95 6777,6
2002 560,6 124,71 7485,0
2003 577,8 124,04 8183,8
2004 605,9 124,04 8876,8
2005 635,1 125,72 9640,3
2006 536.91
118,83 6.380.2
2007 531.2
123,47 6.559.4
2008 529.85
117,06 6.202.4
2009 524.93
120,27 6.313.4
2010 553.50
121,64 6.732.8
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, FAO )
Số liệu bảng 1 cho thấy trong những năm gần đây diện tích trồng rau của nước
ta tăng lên rõ rệt. Năm 1980 cả nước trồng được 220.000 ha, năm 1990 là
261.100 ha, tăng 41.100 ha. Năm 2000 diện tích trồng rau của nước ta tăng kỷ
lục, đạt 452.900 ha, tăng 191.800 ha so với năm 1990, tăng 232.900 ha so với
năm 1980. Tuy nhiên 5 năm trở lại đây diện tích trồng rau của nước ta biến động
thất thường, năm 2006 cả nước trồng được 536.914 ha, tăng 84.014 ha so với
năm 2000, tuy nhiên 2 năm sau diện tích rau bị giảm nhẹ đến năm 2010 diện
tích trồng rau mới tăng trở lại đạt 553.500 ha.

1 1980 8.066,84 106,11

85.597,24
2 1990 10.405,27 134,89
140.356,69
3 2000 14.572,54 146,84
213.983,18
4 2006 17.192,59
141,71 243.631,02
5 2007 17.276,08
142,24 245.731,56
6 2008 17.624,38
141,68 249.702,20
7 2009 17.881,68
138,70 248.026,11
8 2010 18.075,29
132,88 240.177,29
(Nguồn: FAO statistic, 2011)
Số liệu bảng 2 cho thấy diện tích rau trên thế giới không ngừng tăng. Năm 1980
toàn thế giới trồng được 8.066.840 ha, năm 1990 là 10.405.270, tăng 2.338.430
ha (trung bình 1 năm tăng 233.843 ha). Năm 2000 diện tích rau của thế giới đạt
14.572.540, tăng 4.167.270 ha (trung bình 1 năm tăng 416.727 ha). Năm 2010
trồng được 18.075.290 ha, tăng 3.502.750 ha so với năm 2000 (trung bình 1 năm
tăng 350.275 ha), tăng 7.670.020 ha so với năm 1990 và 10.008.450 ha so với
năm 1980.
Về năng suất rau của thế giới không ổn định qua các năm. Năm 1980 năng suất
rau chỉ đạt 106,11 tạ/ha, năm 1990 là 134,89 tạ/ha, tăng 28,78 tạ/ha. Năm 2000
có năng suất rau cao nhất, đạt 146,84 tạ/ha, tăng 11,95 tạ/ha so với năm 1990 và
40,70 tạ/ha so với năm 1980. Sau năm 2000 năng suất rau có xu hướng giảm
dần, tuy mức độ không nhiều nhưng cũng là con số đáng lo ngại cho ngành

rau tươi sẽ tiếp tục tăng cùng với nhu cầu tiêu thụ nhưng giá rau chế biến có thể
tăng nhẹ so với giai đoạn 2002-2004. Các nước phát triển như Pháp, Canada,
Nhật Bản… vẫn là những nước nhập khẩu rau chủ yếu. Các nước đang phát
triển , đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và các nước nam bán cầu vẫn đóng vai
trò chính cung cấp rau tươi cho toàn cầu. [ Trương Quốc Tùng, Hội Khoa học-
kỹ thuật bảo vệ thực vật, Trung tâm thông tin thương mại toàn cầu, Inc, thánh
3/2007]
Bảng 4: Các nước xuất khẩu rau tươi lớn nhất thế giới từ 2002-2006
2002 2003 2004 2005 2006
Trung Quốc
102,199 137,842 111,301 105,447 127,933
Pháp
108,006 126,534 132,704 158,796 160,214
Hà Lan
69,916 116,772 136,231 158,796 160,214
Thái Lan
36,575 40,670 56,978 52,918 54,665
Mehico
22,800 314,840 332,061 321,211 395,780
Malaysia
10,564 10,525 13,292 16,059 17,910
Ấn Độ
20,334 13,627 15,880 19,040 43,184
Canada
10,762 13,559 16,160 13,387 18,870
Ixarel
36,790 49,481 61,758 7,058 78,973
Ôxtraylia
8,482 7,670 8,575 8,941 9,779
Tồng cộng

4 Canada 20.000 8 Đài Loan 10.000
Nhà kính được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, trong đó chủ yếu
canh tác các loại rau, hoa và quả. Tại Nhật Bản có 70% các loại rau hoa được
trồng trong điều kiện nhà có mái che. Đứng đầu diện tích nhà kính là các quốc
gia thuộc nhóm các nước phát triển như Nhật, Tây Ban Nha, Hà Lan….
2.5.1.1 Các mô hình nhà lưới trên thế giới
Nhà lưới công nghệ thấp: Nhà lưới có chiều cao dưới 3m, hệ thống gió hạn chế,
không có hệ thống kiểm soát môi trường tự động nên thường có giá rẻ và dễ
dàng xây dựng.
Nhà lưới công nghệ trung bình: Nhà có tường thấp hơn 4 m, chiều cao nhà nhỏ
hơn 5m, có hệ thống thông gió ở mái hoặc tường, có hệ thông điều tiết nhiệt độ
và hệ thống điều khiển môi trường tự động ở mức độ khác nhau. Nhà được bao
phủ 1 – 2 lớp polyethylene hoặc kính.
Nhà lưới công nghệ cao: chiều cao tường nhà ít nhất phải trên 4m kết hợp với
mái nhà để có chiều cao lớn hơn 8m, máng nước cao trên 3.5m. Hệ thống thông
gió tự nhiên ở mái chiếm hơn 25% diện tích sàn hoặc hệ thống làm lạnh tự động,
phần mái che có thể là plastic (1 hoặc 2 lớp), màng polycacbonat hoặc kính.
Việc điều chỉnh môi trường được tự độnghóa hoàn toàn. Cấu trúc nhà cho phép
trồng cây và điều chỉnh môi trường tối ưu.
2.5.2 Vấn đề sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn ở Việt Nam và
sản xuất trong nhà có mái che.
Tham gia tổ chức WTO, Việt Nam đã phải phê chuẩn nhiều công ước có liên
quan đến sản xuất sạch. Ngày 22/9/1999 Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường đã ký vào Tuyên ngôn Quốc tế về sản xuất rau sạch, thể hiện sự cam
kết của Chính phủ phát triển đất nước theo chiến lược bền vững. một trong
những vấn đề quan tâm trong nông nghiệp là tạo ra được các sản phẩm an toàn,
trong đó vấn đề sản xuất rau sạch được đặt lên hàng đầu.
Trong những năm vừa qua, nhiều cơ quan, nhiều vùng sản xuất đã nghiên cứu
và xây dựng nhiều mô hình sản xuất rau an toàn. Diện tích trồng rau an toàn cả
nước hiện có 19.939 ha, tăng 2.54 lần so với năm 2003, tăng trên 10 lần so với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status