BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 27

BÁO CÁO ĐỀ TÀI MÔN:
KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ﮪﮪﮪﮪ
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD:ThS.NGUYỄN THỊ THU HỒNG
NHÓM 2:
1.ĐỖ BẢO ANH K094040647
2.NÔNG THỊ THANH HẰNG K094040675
3.TRƯƠNG DIỆP MINH HÒA K094040683
4.NGUYỄN HẢI HUYỀN TRANG K094040760
5.HUỲNH THỊ HOA XUÂN K094040784
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………………………………………….3
I.Ô nhiễm môi trường và ô nhiễm môi trường nước………………………………………………………………………….3
A.Ô nhiễm môi trường………………………………………………………………………………………………………………………3
B.Ô nhiễm môi trường nước……………………………………………………………………………………………………………4
II.Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước………………………………………………………………………………….4
1. Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt,
phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy……………………………………………………4
2.Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ………………………………………………………………… 7
3.Sự ô nhiễm bởi các chất hữu cơ…………………………………………………………………9
3.1 Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển
và các chất thải bị nhiễm xăng dầu……………………………………………………… 9
3.2. Chất tẩy rửa:bột giặt tổng hợp và xà bông………………………………………………… 11
4. Ô nhiễm vật lý…………………………………………………………………………………….12
III. Thực trạng ô nhiễm nước ở Việt nam và trên thế giới……………………………………………………… 14
A.Thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới…………………………………………………………………… 14
B.Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam……………………………………………………………………….15

năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người,
đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô
nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn)
chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 3
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con
người, sinh vật và vật liệu.
B. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học –
sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở
nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét
về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn
ô nhiễm đất.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm
nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt ,các
thảm họa núi lửa, động đất làm thay đổi cảnh quan môi trường, tiêu diệt nhiều loài, xả
thải vào không khí các chất gây ô nhiễm như SO2, bụi, đưa vào môi trường nước
chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu
dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào
môi trường nước.
II. CÁC TÁC NHÂN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Tác nhân gây ô nhiễm môi trường là những tác nhân gây ảnh hưởng vượt quá
khả năng chịu đựng của môi trường dẫn tới làm hủy hoại môi trường vốn có tại nơi tác

Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất
thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là những chất
độc cho thủy sinh vật.
Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat,
phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành công
nghiệp.
Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong
xăng và các chất kim loại khác như đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rất độc đối với
sinh vật thủy sinh.
Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người. Tai nạn ở vịnh
Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và
gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác. Nguyên nhân ở đây là người dân ăn cá và
các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra.
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo ngại.
Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất
lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng được
khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc
nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở
dưới.
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 7
Xử lý rác thải. (Ảnh minh hoạ: Ngọc Hậu)
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 8
3.Sự ô nhiễm bởi các chất hữu cơ
3.1 Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu,
vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu.
Ước tính khoảng 1 tỷ tấn dầu được chở bằng đường biển mỗi năm. Một phần
của khối lượng này, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp
pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng nước biển. Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương

Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ,
làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối
sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol làm cho nước có vị không bình thường.
Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ. Thanh tảo làm nước có mùi
bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 12
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 13
III. THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT
NAM
1. Thực trạng ô nhiễm nước trên thế giới
Từ những năm thập niên 60 đến nay, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia
tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát
triển kỹ nghệ. Ta có thể kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.
• Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống
cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự
trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
• Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng
không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18.
Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng
làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính.
Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là
nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm
1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên.
• Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác.
Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.
Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul (Rumani) đã thải ra 50-
100 tấn xianu và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng

và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S
vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm
nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập
trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn
bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các
nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp
thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về
mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu
lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là
4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh
cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn
nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập
trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất
nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn
chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không
thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức
độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 -
400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm
25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 16
thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven
các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2,

Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách
nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô
nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 17
khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa
có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn
nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương
chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến
lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các
vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản
lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi
cho bảo vệ môi trường nước.
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã
đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt
0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường
nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số
lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý
môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1
triệu dân)
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Do chi phí đầu tư xây dựng và duy trì hệ thống xử lý nước thải công nghiệp là rất cao,
phần lớn nước thải công nghiệp ở Việt Nam đều không được xử lý đầy đủ, gây ô nhiễm
nguồn nước bề mặt ở sông, hồ, biển.
- Cấp phép xả thải là một biện pháp hiệu quả để hạn chế ô nhiễm nước. Để bảo đảm
tài nguyên nước được ổn định, bền vững cần bảo đảm tốt khâu xả thải, tổ chức, cá
nhân trước khi xả nước thải vào nguồn nước phải thực hiện tốt việc xử lý chất thải đạt
tiêu chuẩn cho phép; đồng thời, cơ quan nhà nước khi cấp phép xả nước thải vào
nguồn nước phải căn cứ vào khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, bảo đảm

bán tự do thì có thể giảm thiểu ô nhiễm ít ra là về mặt chi phí. Theo lý thuyết, nếu việc
chuyển nhượng hạn ngạch được cho phép, khi đó một hãng có thể giảm lượng ô nhiễm
của mình nếu làm như thế là rẽ hơn việc trả tiền để thuê người khác làm. Trong thực tế,
cách tiếp cận giấy phép có thể chuyển nhượng đã đạt được một số thành công.
- Đánh thuế ô nhiễm.Gia tăng các chi phí ô nhiễm sẽ hạn chế việc gây ô nhiễm.Thuế ô
nhiễm nhằm giảm ô nhiễm đến mức "tối ưu" xã hội có thể thiết lập một mức mà ô
nhiễm chỉ có thể xảy ra nếu lợi ích cho xã hội (như, dưới dạng sản xuất nhiều hơn)
vượt quá chi phí. Có thể thay đổi việc đánh thuế vào thu nhập và doanh số sang đánh
thuế vào ô nhiễm gọi là "thuế xanh".
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 19
- Quy định quyền tài sản. Việc quy định quyền tài sản sẽ dẫn đến một giải pháp tối ưu,
mà không cần biết là ai được quyền nhận chúng, nếu các chi phí giao dịch là không
đáng kể và số lượng những bên tham gia thương lượng là hạn chế. Ví dụ, nếu những
người sống gần một nhà máy có quyền sử dụng nướcsạch, hoặc nếu nhà máy có
quyền gây ô nhiễm, khi đó có thể là nhà máy có thể trả cho những người bị ảnh hưởng
bởi ô nhiễm hoặc cũng có thể những người này có thể trả cho nhà máy để không gây ô
nhiễm. Hoặc, chính những người dân có thể hành động khi họ muốn nếu những quyền
về tài sản khác bị vi phạm.
Ô nhiễm môi trường là một vấn đề kinh tế vì vậy dù nhà nước có đề ra những qui định
chặt chẽ đến đâu, và giám sát thế nào cũng không thể kiểm soát nổi vấn đề ô nhiễm
môi trường vì không thể giải quyết một vấn đề kinh tế bằng những biện pháp không
phải là kinh tế.

Một biện pháp khác được sử dung trong nông nghiệp:
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng cần phải xét đến tính phù hợp
về điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, nguồn nước cấp, mức tăng trưởng dân số
trong những năm tới.
- Các vùng đất trũng, phèn nặng cần xây dựng các hồ sinh thái phát triển tổng hợp:
Phát triển thuỷ sản, lấy nước tưới vào thời kỳ hạn và sử dụng nước sinh hoạt.

Ô nhiễm nguồn nước là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội.Sử dụng có hiệu quả nguồn
nước trong sinh hoạt và sản xuất,nâng cao ý thức bảo vệ môi trường,cũng như thực
hiện tốt các chính sách,các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường nước là nhiệm vụ của
mọi cá nhân,tổ chức,ban nghành,toàn xã hội và của tất cả các quốc gia.Chỉ có như vậy
chúng ta mới bảo vệ được môi trường nước cũng là bảo vệ cho sự sống của chính
chúng ta!
TÀI LIỆU THAM KHẢO

/>%C6%B0%E1%BB%9Dng
/>nuoc.nguyentam083.35CD742E.html
/>phat-trien
/>quyet-o-nhiem-moi-truong-nuoc.htm
/>phap-nao-cho-gim-thiu-o-nhim-moi-trng-trong-sn-xut-nong-nghip&catid=105:tin-thi-
s&Itemid=6
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 21
/>option=com_content&view=category&layout=blog&id=104&Itemid=2
/>hang_dau_VN_.htm
/>1&IDN=2170&lang=vn
Nhóm 2 – K09404B
ĐH Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM Page 22


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status