Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
````LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỉ 21 nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích
cực. Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đã dần trở thành phương châm của các
doanh nghiệp Việt Nam trên con đường phát triển. Đứng trước vận hội mới
của nền kinh tế, các doanh nghiệp buộc phải có chính sách kinh doanh phù
hợp, chiến lược kinh doanh rõ ràng để tồn tại trong xu thế cạnh tranh khốc
liệt. Và quả thật, thị trường không còn chỗ đứng cho các doanh nghiệp chỉ
chăm chăm dựa vào đồng vốn của Nhà nước bao cấp, ngại đổi mới, làm ăn
theo kiểu quan liêu, chụp giật. Các doanh nghiệp buộc phải xác định được chỗ
đứng của mỡnh trờn thị trường. Doanh nghiệp nào không có năng lực cạnh
tranh thì sẽ bị đào thải, đó là qui luật tất yếu của thị trường.
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này,
các doanh nghiệp buộc phải có một tình hình tài chính lành mạnh. Điều này
đòi hỏi mỗi một doanh nghiệp phải quan tâm đến công tác tài chính, thường
xuyên tổ chức việc phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ tiêu tài chính, cũng
như việc dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những khoảng
thời gian nhất định. Mỗi doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc tổ chức, phân
tích tài chính, bởi đó là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự
thành bại của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, và với sự chỉ bảo tận tình của cô giáo
Th.s Đặng Phương Mai, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của cỏc cụ chỳ trong
phòng tài chính kế toán của công ty TNHH Văn Đạo, em đã lựa chọn đề tài “
đánh giá thực trạng tài chính và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh tại công ty TNHH Văn Đạo” với mong muốn làm rõ cơ sở lí luận
về công tác phân tích tài chính và đánh giá thực trạng tài chính tại công ty
TNHH Văn Đạo
Nội dung luận văn bao gồm 3 chương :
Chương 1: Lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài
chính doanh nghiệp.
Dương Nguyễn Tâm
Lớp: CQ46/11.08
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Chương 1
Những lý luận chung về phân tích tài chính
doanh nghiệp
1.1. Tổng quan chung về phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt
động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá
nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh
nghiệp chứ không phải các cá nhân.
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ kinh tế dưới hình
thức giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ
tài chính doanh nghiệp chủ yếu là: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước,
quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính, quan hệ giữa doanh
nghiệp với các thị trường khác, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp. Việc quản
lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
định tài chính. Bởi vậy, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều đối
tượng quan tâm khác nhau như: Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông,
các chủ nợ, các khách hàng, các nhà quản lý, kể cả các cơ quan Nhà nước và
bản thân người lao động trong doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm đến
tình hình tài chính của doanh nghiệp trờn cỏc góc độ khác nhau, sử dụng các
chỉ số và các thông tin thu được để đưa ra các quyết định khác nhau. Sau đây
chúng ta sẽ nghiên cứu việc phân tích tài chính đối với một số nhóm đối
tượng sau:
Phân tích tài chính đối với các nhà quản trị.
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân
tích tài chính nội bộ khác với phân tích tài chính bên ngoài do các nhà phân
tích ngoài doanh nghiệp tiến hành, do có thông tin đầy đủ và hiểu rõ hơn về
doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế
để có thể phân tích tài chính tốt nhất.
Phân tích tài chính nội bộ có nhiều mục tiêu:
- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh
quá khứ, giúp nhà quản trị tài chính đánh giá được hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó tiến
hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ và rủi ro
tài chính của doanh nghiệp.
- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của Giám đốc
tài chính: quyết định về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần…
- Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngân sách
tiền mặt…
- Cuối cùng phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động
quản lý.
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là
Việc phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn và ngắn hạn là
khác nhau:
- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan
tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
- Nếu là những khoản vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và
lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Phân tích tài chính với những người hưởng lương trong doanh
nghiệp .
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập
đáng kể của những người lao động trong doanh nghiệp vì vậy kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương
và thu nhập khác của họ. Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao
động được tham gia mua một lượng vốn cổ phần nhất định, nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp như một nhà đầu tư. Do đó họ rất quan
tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với một số đối tượng
khác như các cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư…Dự họ công tác
ở các vị trí khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động của doanh
nghiệp nhằm phục vụ cho công việc của mình.
1.1.2. Thông tin và tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh
nghiệp.
Việc thu thập và sử dụng các nguồn thông tin là vấn đề quan trọng hàng
đầu cho quá trình phân tích. Thông tin mà các doanh nghiệp sử dụng là: Các
thông tin bên ngoài doanh nghiệp và các thông tin nội bộ doanh nghiệp.
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
1.1.2.1. Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế ngày càng có quan hệ
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo
tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu,
quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp.
Kết cấu của bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần: tài sản và
nguồn vốn được trình bày dưới dạng một phía hoặc hai phía. Cả hai phần tài
sản và nguồn vốn đều bao gồm các chỉ tiêu tài chính phát sinh, phản ánh từng
nội dung tài sản và nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh
nghiệp. Về mặt kinh tế, các số liệu ở phần tài sản phản ánh được quy mô và
kết cấu tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.
Bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu vốn được huy động vào sản xuất kinh
doanh tức là nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời
điểm lập báo cáo. Về mặt kinh tế, qua việc xem xét nguồn vốn, người sử dụng
thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, nguồn vốn
cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã kinh doanh với Nhà
nước, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vốn vay đối
tượng khác cũng như trách nhiệm phải thanh toán đối với người lao động, cổ
đông, nhà cung cấp, ngõn sỏch…
Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các
nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính hoặc khả năng thanh
toán và cơ cấu của doanh nghiệp.
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
1.1.2.4. Báo cáo kết quả kinh doanh.
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân
tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh. Khác
với Bảng cân đối kế toán, Bỏo cáo Kết quả kinh doanh cho biết sự dịch
chuyển của tiền trong quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp và cho
Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với
nhau, mỗi sự thay đổi chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
làm ảnh hưởng đến báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài
chính phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển
tiền tệ kết hợp bảng cân đối kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra bảng cân đối
kỳ này. Do đó, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà
phân tích cần đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết
được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu
phân tích của họ.
1.1.3. Phương pháp phân tích.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ
bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ
tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp.
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của
công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chỡa khoỏ để cung cấp
thông tin cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm
hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác nhau trong
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù hợp với mục
đích của việc nghiên cứu.
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh, phương
pháp tỷ số và phương pháp Dupont.
1.1.3.1. Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọng
trong phân tích kinh tế nói riêng và phân tích tài chính nói chung. Theo
trung bình ngành để làm chuẩn mực.
1.1.3.2. Phương pháp tỷ số.
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là
phương pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số
được sử dụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này
so với chỉ tiêu khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều
kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế
toán và tài chính được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành
những tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép
tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ số, hệ thống được
hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ số phản ánh sự
biến đổi của các đại lượng tài chính. Các tỷ số này được phân thành cỏc nhúm
tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
của doanh nghiệp. Bao gồm nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ
tiêu về cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về
khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ
từng bộ phận hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo
giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn cỏc nhúm chỉ tiêu khác nhau để
phục vụ mục tiêu phân tích của mình.
Cũng như phương pháp so sỏnh,phương phỏp tỷ số đơn giản và được sử
dụng ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng,
các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ
sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu. Vì vậy để nâng
cao hiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số thường được sử dụng kết
hợp với phương pháp so sánh.
1.2.1.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán.
BCĐKT phản ánh một cách tổng quát về toàn bộ tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo hai cách phân loại là tài sản và nguồn vốn hình thành tài
sản ở một thời điểm nhất định. Các chỉ tiêu của BCĐKT được phản ánh dưới
hình thức giá trị và tuân theo nguyên tắc cân đối: Tổng tài sản = Tổng nguồn
vốn.
BCĐKT là tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu đánh giá khái
quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũng như triển vọng
kinh tế tài chính của doanh nghiệp để định hướng cho việc nghiên cứu, phân
tích tiếp theo. Để làm được điều đó khi phân tích BCĐKT cần chú ý tới các
vấn đề sau:
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
- Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản
thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tương đối lẫn tuyệt
đối. Qua đó thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh và năng lực kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không? Cơ cấu vốn đó có tác động
như thế nào đến quá trình kinh doanh, cũng như xem xét tới chi phí sử dụng
vốn. Để làm được điều này trước hết phải xác định tỷ trọng từng loại tài sản
trong tổng tài sản, sau đó so sánh từng loại tài sản về số liệu giữa cuối kỳ với
đầu năm để thấy được sự biến động của cơ cấu vốn và cơ cấu tài sản.
- Khái quát mức độ độc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh
nghiệp qua việc so sánh từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu năm cả về
số tương đối lẫn tuyệt đối. Về tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng
nguồn vốn. Nếu nguồn Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng
tăng lên thì điều đó chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính của Công ty là cao,
mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với các chủ nợ là thấp và ngược lại.
- Xem xét mối quan hệ cân đối giữa các chỉ tiêu, các khoản mục trên
• Hệ số hiệu suất hoạt động: Đõy là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử
dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp.
• Hệ số về khả năng sinh lời: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản
xuất - kinh doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp.
• Hệ số giá trị thị trường: nhóm chỉ tiêu này phản ánh giá trị của một
doanh nghiệp mà chủ yếu là các công ty cổ phần. Từ đó nhà đầu tư đưa ra
quyết định một cách chính xác nhất khi đầu tư vào công ty.
Tuỳ theo mục tiêu phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng
nhiều hơn tới nhóm tỷ số này hay nhóm tỷ số khác. Chẳng hạn, các chủ nợ
ngắn hạn đặc biệt quan tâm tới tình hình khả năng thanh toán của người vay.
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn đến khả năng hoạt
động và hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Họ cũng cần nghiên cứu tình hình về
khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối cùng
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ số về cơ cấu vốn vì
sự thay đổi tỷ số này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của họ.
1.2.2.1. Các hệ số về khả năng thanh toán.
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu về
khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bởi vì một doanh nghiệp được đánh
giá là có tình hình tài chính lành mạnh trước hết phải được thể hiện ở khả
năng chi trả, khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong
kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các
chỉ tiêu :
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện có với tổng số
nợ phải trả( bao gồm nợ ngắn hạn với nợ dài hạn). Để đánh giá được khả năng
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán tức thời.
Hệ số thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Là tỷ số giữa tiền và các khoảng tương đương tiền đối với các khoản nợ
ngắn hạn. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng ứng phó nhanh nhất với các khoản
nợ đến hạn của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay.
Đây cũng là một hệ số cần xem xét khi phân tích kết cấu tài chính của
doanh nghiệp. Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh
nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ.
Nếu một doanh nghiệp nợ nhiều nhưng kinh doanh không tốt, mức sinh lời
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
của đồng vốn quá thấp hoặc bị thua lỗ thì khó có thể đảm bảo thanh toán lãi
tiền vay đúng hạn.
Hệ số thanh toán lãi vay =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ
1.2.2.2. Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản.
Hệ số này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu
doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý
nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn
của chủ sở hữu công ty để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn
cho các món nợ.
Hệ số cơ cấu nguồn vốn.
Hệ số nợ:
của doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu trong tính toán
các tỷ số này để xem khả năng hoạt động của doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho.
Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng tỷ số
giữa giá vốn hàng bán với số hàng tồn kho bình quân trong kỳ. Số vòng quay
hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, ngành nghề kinh
doanh.
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Số hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Tỷ suất đầu tư vào TSNH
hay TSLĐ
=
Tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư vào TS dài hạn =
Tài sản dài hạn
Tổng tài sản
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Kỳ thu tiền trung bình.
Là một hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản
ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao
hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền bán hàng của doanh
nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán
của doanh nghiệp.
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
1.2.2.4. Các hệ số về khả năng sinh lời.
Nếu như cỏc nhúm tỷ số trên đây phản ánh hiệu quả từng hoạt động
riêng biệt của doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp
nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp.
Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng.
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh
thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nó thể hiện khi thực hiện một đồng
doanh thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ
suất sinh lời kinh tế của tài sản( ROA
E
).
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của
vốn kinh doanh.
ROA
E
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Vốn kinh doanh bình quân
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh.
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
Cổ tức một cổ phần (DIV).
Chỉ tiêu này cho biết, mỗi cổ phần thường nhận được bao nhiêu đồng cổ
tức trong 1 năm.
DIV = Lợi nhuận sau thuế dành trả cổ tức cho cổ
đông thường
Dương Nguyễn Tâm
CQ46/11.08